Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH 1. Quan niệm về giới và bình đẳng giới trong gia đình 1. Quan niệm về giới Giới là khái niệm mới xuất hiện trong khoa học về giới ở các nước nói tiếng Anh vào cuối những năm 60 và ở nước ta vào những năm 80 của thế kỉ XX. Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giới.
Tác giả Trần Thị Quế trong công trình “Những khái niệm cơ bản về giới và vấn đề giới ở Việt Nam” đã đưa ra định nghĩa “ Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể. Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ giác độ xã hội”[54]. Trong tác phẩm “Tóm tắt tình hình giới” của Liên hiệp quốc ở Việt Nam cũng đã đưa ra một định nghĩa về giới: Giới là sự tập hợp các hành vi học được từ xã hội và những kỳ vọng về các đặc điểm và năng lực được cân nhắc nhằm xác định thế nào là một nam giới hay một phụ nữ (hoặc một cô bé hay một cậu bé) trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định. Giới cũng phản ánh các mối quan hệ giữa nam và nữ, ai cần làm gì và ai là người kiểm soát việc ra quyết định, tiếp cận các nguồn lực và hưởng lợi [67].
Theo Luật Bình đẳng giới Việt Nam năm 2006, giới là khái niệm chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội [57]. Tóm lại, khi nói về giới có thể hiểu là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quan niệm hay quy định cho nam và nữ. Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động, phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ trong xã hội. Trong phần lớn các xã hội, là một người đàn ông hay là một người phụ nữ không chỉ có các đặc điểm sinh học khác nhau mà còn 12 phải đối diện với những mong đợi khác nhau của xã hội về mặt ngoại hình, cách cư xử, tính cách và những công việc được cho là thích hợp đối với giới tính của người đó.
Ví dụ theo quan niệm và thói quen đã có từ lâu đời ở nhiều nước, nhiều khu vực thì phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà như nấu ăn, chăm sóc con, phục vụ chồng… Còn nam giới thì có trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình và làm các công việc xã hội. Khi bàn về khái niệm giới, các nhà khoa học còn dựa vào các đặc trưng sau đây: Thứ nhất: Do học mà có, khác với giới tính, những đặc trưng về giới là do dạy và học mà có. Khi sinh ra, con người chưa có trong bản thân sự phân biệt giới mà họ dần dần tiếp thu và chấp nhận từ nền nếp của gia đình, quy ước của xã hội và chuẩn mực của nền văn hóa. Đứa trẻ phải học để làm con trai hoặc con gái.
Bắt đầu từ khi sinh ra nó đã được đối xử và dạy dỗ tùy theo việc nó là trẻ trai hay gái. Đó là sự khác biệt về quần áo, đồ chơi, cách nói năng, thái độ và có thể cả thức ăn và tình cảm của cha mẹ, anh chị. Đứa trẻ cũng được dạy dỗ để trở thành phụ nữ hay nam giới theo quan niệm, khuôn mẫu của xã hội. Ví dụ con trai không được khóc, phải tỏ ra mạnh mẽ, dũng cảm, không được chơi búp bê, còn con gái không được cáu kỉnh, không được nói to, phải dịu dàng, giúp mẹ cơm nước, nội trợ.
Các quan niệm vốn có này và các dự định, mong đợi của cha mẹ, anh em, họ hàng, bạn bè và xã hội đối với trẻ trai và gái trở thành khuôn mẫu đối với trẻ trai và gái, trở thành khuôn mẫu cụ thể đối với mỗi giới, khiến nó luôn phải điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp. Bởi vậy sở dĩ phụ nữ hay làm việc nội trợ hay đi cấy thì không phải vì họ là phụ nữ mà vì họ đã được dạy để làm những việc đó từ khi còn là đứa trẻ. Tiếp đó nhà trường và quan niệm về tập quán xã hội tiếp tục củng cố các khuôn mẫu cụ thể về từng giới. Ví dụ nam sinh học thêm môn kỹ thuật, xây dựng; nữ sinh học môn nữ công.
Các thể chế như chính sách, luật pháp… 13 cũng có ý nghĩa làm tăng hoặc giảm sự khác biệt giữa hai giới. Chẳng hạn: ưu tiên nhận phụ nữ vào các nghề thư ký, đánh máy, lễ tân… Thứ hai: Đa dạng, giới thể hiện các đặc trưng của những quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới cho nên rất đa dạng. Địa vị của người phụ nữ xã hội Việt Nam khác xa so với địa vị của phụ nữ ở các nước Hồi giáo. Ngay ở Việt Nam, địa vị xã hội của phụ nữ nông thôn cũng không hoàn toàn giống phụ nữ thành thị.
Thứ ba: Luôn biến động, quan hệ giới luôn luôn biến đổi cùng với xã hội và các yếu tố xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, các phong tục tập quán… Chẳng hạn quan niệm của đạo Khổng về việc con gái không cần cho đi học đã thay đổi căn bản dưới chế độ xã hội chủ nghĩa; gia đình truyền thống thường thích con trai hơn con gái nhưng điều đó đang có những thay đổi ở những gia đình trẻ. Thứ tư: Có thể thay đổi, các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội là hoàn toàn có thể thay đổi được. Quan niệm các công việc “bếp núc” là “thiên chức” của người phụ nữ đang được xem xét lại khi có rất nhiều đầu bếp giỏi là nam giới. Trong nhiều gia đình hạt nhân, khi cả vợ và chồng cùng phải tham gia một cách tích cực vào quá trình sản xuất nhằm tăng thu nhập thì nam giới đang tham gia một cách tích cực vào các công việc nội trợ như nấu ăn, chăm sóc con cái… Thậm chí trong một số gia đình, khi người vợ tham gia vào các công việc quản lý, điều hành xã hội, tham gia công việc sản xuất nhiều hơn chồng, người chồng đã thay vai trò của người vợ đảm đương các công việc gia đình, người vợ có điều kiện tham gia những công việc sản xuất hay làm các công tác lãnh đạo, các công việc quản lý xã hội nhiều hơn.
Có thể thấy rằng, sự khác biệt xã hội giữa nam và nữ do xã hội tạo ra, sự khác biệt đó đã đưa tới sự bất bình đẳng giữa nam và nữ. Bất bình đẳng giới thực chất là sự bất bình đẳng xã hội, là sự bất công phổ biến, lâu dài và nặng nề về mặt xã hội. Xóa bỏ sự bất bình đẳng giới vì thế rất cần thiết nhằm thay đổi tương quan địa vị xã hội giữa nam và nữ. Quan niệm về bình đẳng giới Khái niệm bình đẳng giới Bình đẳng giới là một khái niệm hàm chứa ý nghĩa xã hội to lớn.
Sự ra đời của khái niệm bình đẳng giới là kết quả của phong trào phụ nữ và chủ nghĩa nữ quyền. Lịch sử nhân loại ở các nền văn hóa khác nhau, trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội và nhiều thời đại, đã cung cấp nhiều bằng chứng về sự bất bình đẳng đối với phụ nữ, về thân phận khốn cùng của người phụ nữ. Do đó, ngay từ khi ra đời, phong trào phụ nữ đã là phong trào đòi quyền bình đẳng, đòi giải phóng khỏi sự lệ thuộc vào nam giới và cho ra đời phong trào nữ quyền và chủ nghĩa nữ quyền (feminism). Bình đẳng giới là nguyên tắc chỉ đạo của phong trào nữ quyền trong suốt mấy chục năm qua.
Mặc dù vậy, không phải lúc nào, ở đâu cũng có cách hiểu thống nhất về vấn đề này. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về bình đẳng giới: Bình đẳng giới là phụ nữ và nam giới cùng có những điều kiện như nhau để phát huy hết năng lực tiềm tàng của mình, cùng có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng thụ bình đẳng các kết quả phát triển của quốc gia trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Điều quan trọng nhất là bình đẳng giới đem lại kết quả ngang nhau cho cả phụ nữ và nam giới [67]. Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới.
Nam giới và phụ nữ cũng có vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau. Phụ nữ và nam giới cùng: có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện mong muốn của mình, có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và hưởng thụ từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong tiếng nói [76]. Bình đẳng giới là sự bình đẳng về luật pháp, về cơ hội, bao gồm sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong thù lao cho công việc và bình đẳng trong tiếng nói [2]. 15 Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [57].
Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới, là tình hình lý tưởng trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, có các cơ hội bình đẳng để phát hiện đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển chung và hưởng lợi bình đẳng từ các kết quả đó [28, tr 37]. Như vậy, bình đẳng giới trước hết được hiểu là sự đối xử như nhau giữa nam giới và phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội. Nguyên tắc đối xử như nhau là điều hết sức cần thiết, song có lẽ nó chưa đủ để phụ nữ được bình đẳng thực sự.