mở đầu cho việc nghiên cứu đề tài stress ở Việt Nam. Đến năm 1986, Phạm Ngọc Rao và Nguyễn Hữu Nghiêm trong tác phẩm “Stress trong thời đại văn minh” đã khái quát lịch sử nghiên cứu stress và đưa ra những dấu hiệu nhận biết stress, hậu quả của stress có thể gây ra cho con người trong xã hội văn minh. Năm 1994, Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện trong tác phẩm “Tâm lý học và đời sống” đã bàn luận về vấn đề stress liên quan đến trẻ em, thanh thiếu niên, học sinh. Trong đó, các tác giả đã chỉ ra các nguồn gốc gây ra stress, mức độ stress, những cách phản ứng của stress và hậu quả do stress gây ra.
Những lý luận ban đầu về stress trong các tác phẩm trên có thể nói là cơ sở tham khảo quý báu cho sự phát triển của các công trình nghiên cứu về stress ở Việt Nam sau này. Cụ thể vấn đề stress đã được nghiên cứu mở rộng với những đối tượng khác nhau như học sinh, sinh viên, giáo viên, công nhân, người quản lý, nhân viên y tế, bệnh nhân… thông qua các hội thảo khoa học, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, bài viết khoa học như: 14 Viện sức khỏe tâm thần thuộc bệnh viện Bạch Mai tổ chức hội thảo khoa học “Những rối loạn có liên quan đến stress ở trẻ em và thanh thiếu niên” năm 1997 để nêu lên vấn đề stress và hậu quả của stress đối với đối tượng là trẻ em và thanh thiếu niên (Đào Thị Duy Duyên, 2010). Nguyễn Thành Khải (2001) với luận án tiến sĩ “Nghiên cứu stress ở cán bộ quản lý” cho thấy các cán bộ quản lý đều bị stress ở các mức độ khác nhau, stress biểu hiện qua các mặt tâm lý, sinh lý, có nhiều nguyên nhân gây stress cho cán bộ trong đó chủ yếu là nguyên nhân gặp khó khăn trong công việc (Trịnh Viết Then, 2016). Đào Thị Duy Duyên (2010) nghiên cứu đề tài “Vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn TP.
Hồ Chí Minh”. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số công nhân cảm thấy thỉnh thoảng bị stress, có sự khác biệt về mức độ stress theo điều kiện kinh tế, tình trạng tăng ca, tình trạng sức khỏe. Biểu hiện stress của công nhân thể hiện qua 4 mặt thể chất - sinh lý, cảm xúc, nhận thức - hoạt động thần kinh và hành vi - hoạt động thường ngày. Cách ứng phó stress của công nhân phần lớn là làm làm những việc bản thân thấy thích và có hứng thú có tác dụng giải trí, ít sử dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài như từ lãnh đạo, quản lý hoặc các tổ chức xã hội, trung tâm tham vấn tâm lý (Đào Thị Duy Duyên, 2010).
Nguyễn Trung Tần (2012) với đề tài “Stress của nhân viên y tế tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang” cho thấy phần lớn nhân viên y tế tự đánh giá stress ở mức thỉnh thoảng, có sự khác biệt về mức độ stress theo thời gian công tác và điều kiện kinh tế. Biểu hiện stress của các nhân viên y tế có những biểu hiện ở các mức độ khác nhau về mặt thể chất, cảm xúc và hành vi. Có nhiều nguyên nhân gây stress cho nhân viên y tế trong đó nguyên nhân gây stress nhiều nhất chủ yếu từ công việc. Cách ứng phó stress của nhân viên y tế phần lớn là cải thiện môi trường sinh hoạt, môi trường sống, môi trường việc làm để tạo sự thoải mái, ít sử dụng sự hỗ trợ từ bên ngoài như từ các 15 tổ chức, đoàn thể hoặc trung tâm tham vấn tâm lý (Nguyễn Trung Tần, 2012).
Trịnh Viết Then (2016) với luận án “Stress ở giáo viên mầm non” cho thấy đa số giáo viên mầm non bị stress ở mức độ nhẹ, có sự khác biệt về mức độ stress giữa các giáo viên ở các yếu tố như: trình độ chuyên môn, loại hình nhà trường, thâm niên công tác, độ tuổi, loại hình hợp đồng lao động với trường, cam kết cá nhân với nhà trường, thu nhập trung bình tháng. Có nhiều tác nhân gây stress cho giáo viên mầm non trong đó tác nhân liên quan đến đáp ứng nhu cầu cá nhân, liên quan đến trẻ, có mức độ tác động mạnh nhất. Giáo viên mầm non sử dụng nhiều cách ứng phó khác nhau trong đó ứng phó tập trung vào vấn đề được giáo viên lựa chọn sử dụng nhiều nhất. Trải nghiệm stress của giáo viên mầm non thể hiện qua thể chất, nhận thức, cảm xúc, và hành vi.
Stress dẫn đến nhiều hệ quả liên quan đến cá nhân giáo viên và tổ chức nhà trường. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ stress của giáo viên trong đó sự hỗ trợ từ đồng nghiệp, yếu tố hỗ trợ từ phụ huynh của trẻ, yếu tố tính lạc quan, bi quan có mức độ dự báo cao nhất trong các yếu tố (Trịnh Viết Then, 2016). Nhìn chung các nghiên cứu về stress ở Việt Nam được thực hiện với nhiều đối tượng có những đặc thù, hoạt động nghề nghiệp khác nhau qua nhiều khía cạnh của stress từ mức độ stress, biểu hiện stress, nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến stress đến hậu quả và cách ứng phó với stress. Tuy nhiên việc nghiên cứu stress ở cha mẹ nói chung và stress ở cha mẹ có con tự kỷ nói riêng vẫn còn hiếm hoi và khá mới mẻ.
Vấn đề tự kỷ được quan tâm nghiên cứu từ những năm 90 bởi trung tâm N-T của cố bác sỹ Nguyễn Khắc Viện với những cuộc hội thảo về hội chứng tự kỷ và những cách thức trị liệu do các bác sĩ tâm thần và các nhà tâm lý trị liệu Pháp đến trình bày. Kế đến là những nghiên cứu, bài viết, bài báo, sách của một số bác sĩ, chuyên gia như tác giả Nguyễn Văn Thành với loạt sách “Trẻ em tự bế, phương thức giáo dục và dạy dỗ” (2006), “Nguy cơ tự kỷ từ 0 đến 7 tuổi” (2006), “Phát huy quan 16 hệ xã hội trong vấn đề giáo dục trẻ em tự kỷ” (2007); tác giả Ngô Xuân Điệp (2008) với đề tài nghiên cứu “Nhận thức của trẻ tự kỷ”; tác giả Nguyễn Thị Mai Lan (2012) với công trình “Nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân, các biện pháp giáo dục hoà nhập cho trẻ tự kỷ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”; tác giả Nguyễn Thị Hoa Mai (2012) với công trình “Những dấu hiệu cơ bản nhận biết hội chứng tự kỷ ở trẻ” (Lê Minh Công & Ngô Xuân Điệp, 2012). Tuy nhiên, các nghiên cứu này phần lớn tập trung vào quá trình chẩn đoán, nguyên nhân và các phương pháp trị liệu, can thiệp vấn đề cho trẻ, còn vấn đề tinh thần, sức khỏe tâm thần của cha mẹ trong quá trình nuôi dạy con tự kỷ chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều, có một số tác giả quan tâm đưa vào các công trình nghiên cứu khoa học như sau: Tác giả Nguyễn Thị Mẫn (2013) với công trình “Tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ” đã nghiên cứu làm rõ thực trạng tâm trạng của cha mẹ khi có con tự kỷ trong các khía cạnh về bản thân, tâm trạng về gia đình, tâm trạng về xã hội và những yếu tố ảnh hưởng đến tâm trạng của họ như nhận thức, kinh tế, mối quan hệ trong gia đình, địa vị xã hội. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp tâm lý giúp cha mẹ có con tự kỷ có tâm trạng tích cực để thích ứng với hoàn cảnh mới nhanh hơn và góp phần chăm sóc và giáo dục trẻ tự kỷ tốt hơn (Nguyễn Thị Mẫn, 2013).
Tác giả Đào Thị Sâm (2013) với công trình “Khảo sát thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh” đã khảo sát thực trạng về thái độ của cha mẹ đối với con có chứng tự kỷ. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm giúp cha mẹ có những hiểu biết cần thiết về chứng tự kỷ và có thái độ tích cực trong việc can thiệp cho con (Đào Thị Sâm, 2013). Tác giả Phạm Thị Hòa (2014) với đề tài “Nghiên cứu sự thích ứng với hoàn cảnh có con tự kỷ của cha mẹ ở Hà Nội” đã tiến hành nghiên cứu thực trạng thích ứng của cha mẹ khi con được chẩn đoán là tự kỷ, một số yếu tố ảnh hưởng đến thực 17 trạng này, trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp giúp cha mẹ nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh cụ thể của mình (Phạm Thị Hòa, 2014). Như vậy, nhìn một cách tổng thể vấn đề stress của cha mẹ có con tự kỷ được các tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu nhiều.
Các khía cạnh stress của cha mẹ có con tự kỷ như mức độ stress, nguyên nhân gây stress, biểu hiện stress, các cách ứng phó stress của cha mẹ có con tự kỷ được nghiên cứu ở những công trình khác nhau nhưng chưa mang tính hệ thống, tập trung, chuyên sâu, đặc biệt vấn đề biểu hiện stress của cha mẹ chỉ mới được giới thiệu khái quát chưa đi sâu vào việc phân tích, nghiên cứu thực trạng cụ thể. Trong khi đó, tại Việt Nam đề tài nghiên cứu về stress cũng như biểu hiện stress của cha mẹ có con tự kỷ vẫn còn một khoảng trống, rất cần được quan tâm nghiên cứu. Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Biểu hiện stress của cha mẹ có con tự kỷ” để bổ sung thêm một công trình nghiên cứu về stress của cha mẹ có con tự kỷ mang tính chuyên sâu, hệ thống, đầy đủ hơn đồng thời bổ sung thêm về mặt lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu vấn đề biểu hiện stress của cha mẹ có con tự kỷ tại Việt Nam. Cơ sở lý luận về biểu hiện stress của cha mẹ có con tự kỷ 1.
Các khái niệm công cụ của đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm stress Stress là một vấn đề có lịch sử nghiên cứu lâu đời, trải qua dòng thời gian cũng như với góc độ nghiên cứu, khía cạnh tiếp cận khác nhau mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về stress. Đầu tiên phải kể đến là khái niệm stress dựa trên quan điểm về sinh học: “Stress là đáp ứng sinh lý, stress là một hội chứng đặc hiệu bao gồm tất cả những thay đổi được gây ra một cách không đặc hiệu bên trong hệ thống sinh học” do bác sỹ Hans Selye, người được xem như là tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu stress khi lần đầu 18 tiên đưa ra khái niệm về stress và mô hình về cách cơ thể bảo vệ bản thân trước các hoàn cảnh gây stress.