phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia thành 3 chương như sau: Chƣơng 1. Hành động ngôn từ 2. Các hành vi tại lời 3. Phát ngôn ngôn hành, biểu thức ngôn hành và động từ ngôn hành 4.
Hành vi trì hoãn 5. Chiến lược giao tiếp - Phép lịch sự Chƣơng 2. Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi trì hoãn trong tiếng Anh 1. Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành tường minh 3.
Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành hàm ẩn 4. Các chiến lược giao tiếp Chƣơng 3. Các biểu đạt ngôn ngữ của hành vi trì hoãn trong tiếng Việt 1. Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành tường minh 3.
Biểu đạt hành vi trì hoãn bằng biểu thức ngôn hành hàm ẩn 4. Các chiến lược giao tiếp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Hành động ngôn từ Thuật ngữ tiếng Anh "Speech act" khi vào Việt Nam đã được các nhà ngôn ngữ học chuyển dịch bằng nhiều tên gọi khác nhau: hành động nói (Diệp Quang Ban), hành vi ngôn ngữ (Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân), hành vi nói năng (Nguyễn Văn Khang), hành động ngôn từ (Cao Xuân Hạo). Trong luận văn này chúng tôi sử dụng tên gọi hành vi ngôn ngữ.
Khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Người đầu tiên khởi xướng và xây dựng lý thuyết hành động ngôn từ là J. Trong tác phẩm nổi tiếng "How to do things with word" ("Người ta làm nên các sự vật bằng từ ngữ như thế nào?" – Nguyễn Đức Dân) của mình, xuất bản năm 1962, ông đã đề cập đến vấn đề lý thuyết hành động ngôn từ như sau: Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C. Austin đưa ra 3 loại hành động ngôn từ là: Hành động tạo lời, hành động tại lời và hành động mượn lời.
Hành động tạo lời là những hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu …. để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung. Hành động tại lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận.
Ví dụ về hành động tại lời: hành vi hỏi, hành vi yêu cầu, hành vi ra lệnh, hành vi mời, hành vi hứa hẹn, hành vi khuyên bảo, hành vi nghi ngờ …Khi chúng ta 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hỏi ai về một cái gì đó thì người được hỏi có nhiệm vụ phải trả lời chúng ta, cho dù trả lời không biết. Không trả lời, không đáp lại câu hỏi, người nghe bị xem là không lịch sự. Khác với các hành động mượn lời, hành động tại lời có ý định (có đích ) quy ước và có thể chế dù rằng quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành chúng được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác. Có thể nói, nắm được ngôn ngữ, không chỉ có nghĩa là nắm được âm, từ ngữ, câu ….
của ngôn ngữ đó mà còn là nắm được những quy tắc điều khiển các hành động tại lời trong ngôn ngữ đó, có nghĩa là biết các quy tắc để “hỏi”, “hứa hẹn” … sao cho đúng lúc, đúng chỗ cho thích hợp với ngữ cảnh, với người được hỏi…. Hành động mượn lời là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Ví dụ nghe một phát ngôn:"ở đây tối quá". Sp2 có thể mở cửa sổ.
Hành động mở cửa sổ thuộc hành động mượn lời. Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của phát ngôn. Có những hiệu quả mượn lời là đích của một hành động tại lời như trong ví dụ nêu trên: Hành động mở cửa sổ là hiệu quả của hành động tại lời đề nghị. Cũng có những hiệu quả không thuộc đích của hành động tại lời: Chẳng hạn Sp2 trong ví dụ trên mở cửa sổ một cách khó chịu, gắt gỏng thì hành vi đó không phải là đích của hành động tại lời.
Những hiệu quả mượn lời, rất phân tán, không thể tính toán được. Chúng không có tính quy ước (trừ hành động mượn lời đích của hành động tại lời). [1, 88-89] 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các hành vi tại lời 2.
Điều kiện sử dụng hành vi tại lời Các hành vi tại lời, cũng như các hành vi khác, các hành vi sinh lí cũng như vật lí, không phải được thực hiện một cách tùy tiện. Nếu là một hành vi xã hội thì các điều kiện để cho nó có thể thực hiện được lại càng chặt chẽ đa dạng hơn nữa. Mà các hành vi tại lời như đã biết, về cơ bản là hành vi xã hội. Điều kiện sử dụng các hành vi tại lời là những điều kiện mà một hành vi tại lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó.
Austin xem các điều kiện sử dụng các hành vi tại lời là những điều kiện "may mắn" nếu chúng được đảm bảo thì hành vi mới "thành công", đạt hiệu quả. Nếu không nó sẽ thất bại. Những điều kiện may mắn của J.Austin là như sau: A- (i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả cũng có tính quy ước. (ii) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy định trong thủ tục.
B- Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) đầy đủ. C- Thông thường thì (i) những người thực hiện hành vi ở lời phải có ý nghĩ, tình cảm và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và (ii) khi hành động diễn ra thì ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó đã có. Searle là người đầu tiên vạch ra hạn chế chỉ phân loại các động từ ngôn hành của bảng phân loại của Austin. Searle còn cho rằng, vì J.
Austin không định ra các tiêu chí phân loại do đó kết quả phân loại có khi dẫm đạp lên nhau. Ông cho rằng trước hết là phải phân loại các hành vi tại lời chứ không phải phân loại các động từ gọi tên chúng và nếu xác lập được một hệ các tiêu chí thích hợp với các hành động ngôn từ thì có thể giải tỏa được thái 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com độ bi quan của Wittenstein cho rằng không thể phân loại được các “trò chơi ngôn ngữ” và tránh được tình trạng dẫm đạp lên nhau giữa các phạm trù, các nhóm trong từng phạm trù hành vi tại lời. Searle liệt kê 12 điểm khác biệt giữa các hành động ngôn từ có thể dùng làm tiêu chí phân loại như sau: 1. Hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến 3.
Trạng thái tâm lí được thể hiện 4. Sức mạnh mà đích được trình bày ra 5. Tính quan yếu của mối quan hệ liên cá nhân giữa Sp1 và Sp 2 6. Câu hỏi và câu trả lời là hai thành phần của một cặp kế cận còn sai bảo thì không 8.
Nội dung mệnh đề 9. Hứa hẹn chỉ có thể thực hiện bằng lời, tức thực hiện như một hành vi ở lời trong khi đó phân loại có thể được thực hiện bằng phương thức khác không phải bằng lời 10. Đặt tên thánh và rút phép thông công đòi hỏi phải có thể chế xã hội mới có hiệu lực nhưng trần thuật thì không đòi hỏi như vậy. Không phải tất cả các động từ gọi tên hành vi tại lời đều là động từ ngôn hành.
Thí dụ: khoe và dọa không phải là động từ ngôn hành. Phong cách thực hiện hành vi tại lời. Searle chỉ dùng có 4 trong số 12 tiêu chí trên để phân lập 5 loại hành động ngôn từ là: Tiêu chí đích ở lời; tiêu chí hướng khớp ghép; tiêu chí trạng thái tâm lí và tiêu chí nội dung mệnh đề. Searle đưa ra bốn điều kiện.
Mỗi điều kiện lại được biểu hiện khác nhau tùy theo từng phạm trù, từng loại và từng hành vi tại lời cụ thể. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Điều kiện nội dung mệnh đề: Chỉ ra bản chất nội dung của hành vi. Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo nghiệm, xác tín, miêu tả), hay một hàm mệnh đề (đối với các câu hỏi khép kín, tức những câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời, có hoặc không; phải, không phải.
Gọi là hàm mệnh đề vì phát ngôn ngôn hành tương ứng với hành vi hỏi đưa ra hai khả năng, người trả lời chọn một và trả lời. Nội dung mệnh đề có thể là một hành động của người nói hay một hành động của người nghe. Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và người nghe. Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người phát ngôn.
Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín,. Cuối cùng là điều kiện căn bản, đây là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi tại lời đó được phát ra. Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra). Các loại hành vi tại lời Trong giao tiếp, người nói luôn mong muốn truyền đạt được nhiều nhất tư tưởng và mục đích của mình tới người nghe.
Do đó một hành vi tại lời đôi khi không chỉ thể hiện tính chất của chính nó mà còn thể hiện tính chất của những hành vi tại lời khác. Chẳng hạn, hành vi hỏi không phải lúc nào cũng mang mục đích hỏi mà có khi nhằm mục đích chào hay trì hoãn, đe dọa. Cuộc sống ngày càng phát triển thì hoạt động giao tiếp theo đó cũng trở nên sâu sắc, tinh tế hơn. Để có thể thống kê con số chính xác các hành động ngôn từ mà ở đây là các hành vi tại lời thật là khó bởi số lượng khá lớn.