CHƯƠNG 1 BIỂN VỚI NGƯỜI VIỆT TRONG THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN 1. Biển và người Việt Việt Nam là một dải đất hình chữ S, tựa lưng vào dãy Trường Sơn, hướng mặt ra Biển Đông và Thái Bình Dương. Địa hình đất nước trải dài từ Bắc xuống Nam, tiếp giáp với biển, bắt đầu từ vịnh Bắc Bộ đến vùng biển miền Trung và kéo xuống vịnh Thái Lan, gắn liền với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, làm thành một vùng liên hoàn: Đất - Biển - Trời.943,98 km2 đất tự nhiên trong khi chúng ta có tới 1 triệu km2 diện tích biển, rộng gấp 3 lần diện tích đất liền. Đất nước có chiều ngang khá hẹp: nơi rộng nhất là 540 km, nơi hẹp nhất chỉ gần 50 km, bởi vậy nhà địa lý Lê Bá Thảo đã viết: “Mỗi người Việt Nam, dù sống ở đâu, ngay cả ở trên miền núi, hình như bao giờ cũng nghe được tiếng rì rào của biển cả ngày đêm không mỏi vỗ sóng vào bờ” [2002: 8].
Từ Móng Cái đến Hà Tiên là 3.260 km đường bờ biển, cứ khoảng 100 km2 trên đất liền lại có 1 km đường bờ biển, gấp 6 lần mức chung của thế giới. So sánh diện tích trên biển với diện tích đất liềcủa Việt Nam ta thấy cứ 1 km2 đất liền ứng với 3 km2 trên biển, nhiều gấp 1,5 lần mức chung của thế giới. Mặc dù có hàng ngàn đảo và nhiều quần đảo chạy dài suốt ven biển nhưng nếu lấy tỉ số giữa chiều dài đường bờ biển và diện tích đất nổi để làm chỉ tiêu so sánh tính biển mà chưa cần kể tới chiều dài đường bờ biển bao quanh đảo và quần đảo thì tỉ số đó của Việt Nam đã là 0,01 ngang với Malaixia, gấp 1,5 lần Thái Lan với tỉ số 0,007 [VTV2: VCD1]. Rất nhiều số liệu đã, đang và sẽ chứng minh, khẳng định rằng: Việt Nam là một quốc gia biển.
Người Việt - dân tộc chủ thể, chiếm 90 % dân số cả nước – sống tập trung chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và hải đảo, rải khắp chiều dài đất nước, đã và đang giữ vai trò quyết định trong quá trình tiến ra biển cả của toàn dân tộc. Biển Việt Người Việt quen gọi biển của mình là “biển Đông”. Tên “biển Đông” xuất hiện trong ca dao Việt Nam như “Dã tràng xe cát biển Đông”, “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”; Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi đã viết năm 1428: “Tát cạn nước biển Đông chưa rửa sạch tanh hôi”; sách Dư địa chí Nguyễn Trãi viết năm 1435 trình Lê Thánh Tông có đoạn: “Hải Đông hải dã” (Biển tức biển Đông vậy). Lịch sử các triều đại, các thời đại khác nhau, biển Đông được gọi bằng những cái tên khác nhau: Giao Chỉ Dương; Người Trung quốc gọi biển này là Nam Hải; còn người Phương Tây sau này khi đến khu vực Đông Á thì gọi là biển Nam Trung Hoa.
Tên biển Nam Trung Hoa từ đó được dùng như một tên quốc tế để chỉ biển Đông và ngày nay, trong các văn kiện của Nhà nước ta, biển Đông được coi là tên gọi chính thức. Là một biển nửa kín trong Thái Bình Dương, biển Đông được bao bọc bởi nhiều đảo và quần đảo. Chín nước bao quanh biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan), Philippines, Bruney, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Singapore [Ban biên giới Chính phủ 1998: 3]. Diện tích của biển Đông vào khoảng 3,4 triệu km2, chiều dài khoảng 3.520km, rộng gấp 8 lần biển Đen, gấp 1,2 lần Địa Trung Hải, độ sâu trung bình là 1.140m, khối lượng nước chiếm khoảng 3.
Biển Đông là trung tâm và nối liền với hàng loạt các vịnh và biển khác ở khu vực Đông Nam Á như Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, các biển Adaman, Araphura, Bali, Banda, Xelep, Xeram, Pholoret, Hanmahera, Java, Molucca, Savu, Sulu, Timo, Vịnh Bon, Vịnh Tomini, các eo biển Macasa, Malacca [Ban biên giới Chính phủ 1998: 3]. Địa hình của đáy biển Đông nổi bật với một vực thẳm sâu có hình quả trám chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, độ sâu lớn nhất của vực sâu này là 5.016m, phía Nam và Bắc của vực thẳm sâu nằm trên địa rìa lục địa là các nhóm đảo và đá nằm rải rác tạo thành 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa [Ban Biên giới Chính phủ 1998: 3]. Là một biển nóng, biển Đông nằm gần như hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới và chế độ gió mùa, về mùa hè chủ yếu là gió mùa Tây Nam, 11 về mùa đông không khí lạnh di chuyển về biển Đông tạo thành gió mùa Đông Bắc và do vậy nhiệt độ mực nước biển cũng thay đổi theo mùa. Biển Đông không phải bao giờ cũng như ngày nay mà có những thay đổi khác nhau trong hai thời kì chủ yếu là Pleistocene và Holocene.
Gần đây nhất, nghĩa là cách đây chừng mười vạn năm, mực nước biển Đông cũng như đại dương thế giới đã hạ thấp đến –120 m, và cánh đây chừng 2 vạn năm mới nâng cao dần lên đến mực hiện tại. Sự dao động mực nước với qui mô lớn đã ảnh hưởng trực tiếp đến địa hình đáy biển hiện nay và do đó thềm lục địa lan ra rất rộng ở 2 phần rìa Tây Bắc và Tây Nam, ven bờ lục địa Châu Á. Thềm lục địa Việt Nam rất rộng lớn và là phần tiếp nối nền móng lục địa bị nước biển che phủ, tiếp giáp với các bồn trũng đáy biển có độ sâu lớn hơn [Lê Bá Thảo 2002: 9]. Biển Đông là con đường huyết mạch nối liền Châu Âu, Châu Phi và Trung Cận Đông với Đông Aù và Thái Bình Dương.
Năm trong số 10 tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến biển Đông và biển Đông được coi là con đường biển nhộn nhịp và bận rộn vào loại thứ nhì trên thế giới [Ban biên giới Chính phủ 1998: 4]. Là một vùng biển rất giàu có, biển Đông chứa đựng nhiều tài nguyên sinh vật, khoáng sản rất phong phú cả về số lượng và chủng loại. Nhờ có biển Đông khí hậu nước ta mang nhiều đặc tính của khí hậu hải dương và vì thế về điều kiện tự nhiên, có thể gọi Việt Nam là xứ sở của nhiệt và ẩm cũng như nơi này chính là xứ sở của biển cả. Biển Đông là một biển có tranh chấp nhiều về chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển, trong đó có tranh chấp thuộc loại phức tạp và có nhiều quốc gia liên quan nhất thế giới.
Các tranh chấp trên biển ở biển Đông không những chỉ ảnh hưởng đến quan hệ giữa các nước có liên quan, mà còn có ảnh hưởng đến lợi ích của các nuớc khác cũng như đến hoà bình, ổn định và sự hợp tác phát triển của khu vực cũng như của thế giới. Những vấn đề này chắc chẵn sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội của nước ta, do vậy, chúng cần được quan tâm một cách thích đáng trong chiến lược xây dựng và 12 bảo vệ tổ quốc. Người Việt Tộc người Việt hình thành từ khoảng 4000 năm trước, cùng đồng thời với các văn hoá khảo cổ tiền Đông Sơn và Đông Sơn. Nhiều tôïc người như Điền Việt, Dương Việt, Mân Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt.
đã sinh sống khắp khu vực sông Dương Tử cho tới Bắc Trung Bộ ngày nay, hợp thành những khối dân cư lớn, có ngôn ngữ riêng: Môn – Khmer, Việt - Mường, Tày - Thái, Mèo - Dao. Cùng với sự chia tách ngôn ngữ là quá trình chia tách của các cộng đồng người này. Người Việt tách ra khỏi khối Việt - Mường vào khoảng cuối thời Bắc thuộc [Trần Ngọc Thêm 2001: 55, 56]. Khi người Việt đã khẳng định được bản sắc của mình, tại cái nôi Bắc Bộ, từ thế kỷ XI, họ bắt đầu mở rộng sự phân bố vào phía Nam.
Khoảng từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, người Việt đã có mặt ở hầu khắp vùng đồng bằng ven biển miền Trung. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII họ đến Nam Bộ cùng người Hoa và Khmer khai phá đồng bằng Sông Cửu Long. Mãi đến những thế kỷ gần đây, người Việt mới mở rộng địa bàn phân bố của mình lên miền núi cao [Nguyễn Duy Thiệu 1997: 286]. Trong số 54 dân tộc anh em chung sống trên mảnh đất Việt Nam ngày nay, người Việt (Kinh) chiếm đa số và giữ vai trò chủ đạo.
Họ trở thành chủ thể của một nền văn hoá giàu bản sắc. Khởi đầu người Việt không có nguồn gốc biển, họ là cư dân sống ở vùng trước núi, tràn xuống thai thác đồng bằng lầy trũng, rồi lấn biển và khai thác biển [Ngô Đức Thịnh 2000: 7]. Nhưng trong quá trình lấn biển và “Nam tiến”, chất biển trong văn hoá của họ ngày càng tăng lên. Trên đất nước ta, hầu như dân tộc nào cũng ảnh hưởng ít nhiều yếu tố biển.
Song, ở hầu hết các dân tộc khác, biển chỉ còn trong ký ức văn hoá như một dấu ấn đã từng có trong quá khứ, thì ở người Việt, biển ngày càng gắn bó với đời sống văn hoá của họ. Trong khi một số dân tộc khác, đặc biệt là các cư dân Nam Đảo đậm đặc truyền thống biển, nhưng lại từ bờ biển vượt 13 lên Tây Nguyên hay những vùng đất khô cằn vùng Nam Trung Bộ, làm đứt gãy truyền thống biển vốn có trong quá khứ thì sự tiến dần ra biển của người Việt là một trong những minh chứng xác thực về ý thức của họ với biển cả ngày càng được khẳng định. Giải thích vì sao chất biển ngày càng tăng lên trong văn hoá người Việt khi họ lấn biển và “Nam tiến”, tác giả Ngô Đức Thịnh chỉ ra hai nguyên nhân cơ bản: Thứ nhất, quá trình lấn biển làm nông nghiệp và khai thác biển đã đặt họ ở thế đứng trước biển; thứ hai, người Việt đã tiếp nhận truyền thống biển từ người Chăm và một bộ phận người Chăm đã bị Việt hoá từ sau thế kỷ XI [Ngô Đức Thịnh 2000: 7]. Tiềm năng ứng xử với biển của người Việt không giống như một số dân tộc khác.
Địa bàn sinh sống đầu tiên của tổ tiên người Việt là hệ thống sông Hồng chằng chịt. Với phù sa mà các con sông này mang lại, con người thời đó đã sống trên một mảnh đất ưu đãi cho nông nghiệp lúa nước. Vì vậy, văn minh Sông Hồng - nông nghiệp lúa nước chính là tảng nền của người Việt cổ. Cuộc sống của cư dân Việt vì thế được sung túc, điều đó đã cho phép họ cảm thấy bằng lòng với cuộc sống mình đang có và càng trở nên không mặn mà với biển và đại dương vốn bí ẩn và đầy những hiểm nguy không cùng?