CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý thuyết về tín dụng bán lẻ tại các NHTM 1. Khái niệm về tín dụng và tín dụng ngân hàng Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Có 6 đặc điểm quan trọng của Ngân hàng thương mại: Một là, Ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính.
Hai là, Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh có điều kiện. Ba là, ngân hàng hoạt động chủ yếu dựa trên vốn vay và tài sản thanh khoản cao. Bốn là, sản phẩm của ngân hàng không có bản quyền, dễ sao chép. Năm là, ngân hàng hoạt động và phát triển dựa trên lòng tin giữa ngân hàng và khách hàng.
Sáu là, Ngân hàng thương mại kinh doanh mang tính hệ thống cao và chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Khái niệm về tín dụng bán lẻ Theo Lê Khắc Trí (2006), Tín dụng bán lẻ là những hình thức cho vay trực tiếp đến các người vay cuối cùng, chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc điểm của tín dụng bán lẻ 7 Ngoài một số đặc điểm giống như đặc điểm chung của tín dụng ngân hàng, hoạt động TDBL còn một số đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất về đối tượng khách hàng tín dụng bán lẻ: Đối tượng cho vay khách hàng bán lẻ là các cá nhân và hộ gia đình, những khách hàng có nhu cầu vay vốn để bổ sung nguồn vốn phục vụ cho các mục đích sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân hay hộ gia đình.
Khác với cho vay các tổ chức kinh tế, KHBL thường có số lượng lớn, nhu cầu vay vốn rất phong phú đa dạng nhưng có tính chất thời vụ, thời điểm không thường xuyên liên tục. Thứ hai về quy mô và số lượng khách hàng vay: Quy mô các khoản vay thường nhỏ lẻ, giá trị thấp so với cho vay khách hàng doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. Mặc dù, quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng khách hàng này thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tất cả các khách hàng cho vay của tổ chức tín dụng. Thứ ba về lãi suất: Các ngân hàng nhận thấy chi phí liên quan cho vay KHBL thường lớn nên khi cho vay KHBL lãi suất cho vay thông thường thường cao hơn các đối tượng khách hàng khác để bù đắp.
Đặc điểm này có nguồn gốc từ TDBL có số lượng khách hàng rất nhiều tuy nhiên mỗi khoản vay thường nhỏ lẻ, giá trị khoản vay ít, do đó sẽ phát sinh rất nhiều chi phí về thẩm định và xét duyệt cho vay, chi phí quản lý hồ sơ,… ngoài ra còn tốn kém về chi phí chăm sóc khách hàng, chi phí quảng cáo, tiếp thị, chi phí nguồn nhân lực,… Để bù đắp chi phí và thu về lợi nhuận, ngân hàng thường đặt ra mức lãi suất cao và khách hàng này ít khi quan tâm đến lãi suất khi vay, chủ yếu phong cách phục vụ nhanh lẹ, không phải chờ đợi lâu khi khách hàng cần vốn vay. Thứ tư về nguồn trả nợ: Nguồn trả nợ của khách hàng cá nhân rất phong phú đa dạng, có các nguồn từ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ thu nhập lương, thu nhập khác., Nguồn trả nợ này có thể có những biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ. 8 Thứ năm về nhu cầu vay: Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân có thể phục vụ cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh, tuy nhiên chủ yếu hướng tới tiêu dùng do nhu cầu đa dạng trong đời sống của cá nhân cùng với sự phát triển của xã hội người dân càng có xu hướng vay vốn để nâng cao đời sống. Thứ sáu về rủi ro: Khi cho vay đối tượng KHBL là cá nhân, hộ gia đình những khách hàng này tình hình tài chính thường không ổn định, dễ biến động theo trình trạng công việc, mức thu nhập và tình trạng sức khỏe.Mặc khác, trong hoạt động sản xuất kinh doanh phương thức sản xuất theo tập quán thói quen, áp dụng trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm và chuyên nghiệp.
nên khả năng cạnh tranh trên thị trường kém. Vì vậy, đối với các đối tượng cho vay KHBL có nguy cơ tiềm ẩn xảy ra rủi ro tín dụng cao hơn. Cụ thể khi cho vay các đối tượng này những rủi ro mà ngân hàng có thể đối mặt, như: người vay bị sa thải thất nghiệp, gặp các sự cố ngoài ý muốn (tai nạn, sản xuất kinh doanh thua lỗ, phá sản.), không còn khả năng lao động dẫn đến không có nguồn trả nợ ngân hàng. Thứ bảy, tín dụng bán lẻ là cơ sở phát triển dịch vụ ngân hàng khác: Do đặc điểm của tín dụng bán lẻ là số lượng khách hàng lớn, với nhiều đối tượng và nhu cầu khác nhau.
Vì vậy, thông qua hoạt động tín dụng bán lẻ có thể giúp cho các TCTD bán chéo được nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ ngân hàng điện tử, bảo hiểm, thẻ. Các sản phẩm tín dụng bán lẻ chủ yếu 1. Cho vay khách hàng bán lẻ. Cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh là hình thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn vay lưu động và mua sắm tài sản phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của các đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Cho vay tiêu dùng là loại hình cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của khách hàng nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của các cá nhân hộ gia đình. 9 Cho vay bất động sản là sản phẩm tín dụng dành cho KHBL nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở, nhà ở và công trình gắn liền với đất; xây dựng, sửa chữa nhà của khách hàng. Cho vay mua ô tô. Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản hoặc đảm bảo một phần bằng tài sản (cho vay cán bộ công nhân viên).
Cho vay cầm cố giấy tờ có giá. Cho vay thông qua hình thức phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Sản phẩm cho vay khác. Bảo lãnh Bảo lãnh là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng (Bên bảo lãnh) cam kết với Bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho Bên được bảo lãnh, khi Bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với Bên nhận bảo lãnh.
Bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả đầy đủ cả gốc, lãi, phí (nếu có) cho ngân hàng. Các loại bảo lãnh thường sử dụng trong nghiệp vụ bảo lãnh, như: Bảo lãnh thanh toán. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Bảo lãnh đối ứng.
Bảo lãnh bảo hành. Vai trò của tín dụng bán lẻ Đối với các ngân hàng thương mại: Một là, tín dụng bán lẻ đóng góp một phần lợi nhuận và phân tán rủi ro: Đặc điểm TDBL đối tượng vay chủ yếu là khách hàng cá nhân, khi cho vay thì lãi suất cho vay thường cao hơn khách hàng doanh nghiệp, dẫn đến lãi biên chênh lệch lớn nên lợi nhuận cho vay khách hàng hàng bán lẻ thường cao. Bên cạnh đó, số lượng các khoản vay TDBL khá nhiều, giá trị khoản vay thường nhỏ lẻ nên có thể phân tán được rủi ro. Hai là, nâng cao uy tín, thương hiệu và sức cạnh tranh của ngân hàng: 10 TDBL phát triển góp phần xây dựng, quảng bá thương hiệu uy tín ngân hàng vì đối tượng KHBL thường phong phú đa dạng, việc có nhiều KHBL và phục vụ nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội với các yêu cầu khác nhau đòi hỏi ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, năng lực cạnh tranh nếu không muốn khách hàng rời bỏ ngân hàng.
Ba là, mở rộng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng: Nhờ hoạt động TDBL, ngân hàng mở rộng được các loại hình dịch vụ khác như thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn,. từ đó để đáp ứng các yêu cầu này từ phía khách hàng, không muốn thục lùi so với các TCTD khác, các ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu, thử nghiệp và ứng dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tiên phong, vượt trội, hiện đại. Đối với các đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình: TDBL bổ sung thêm nguồn vốn vào các hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụ sinh hoạt tiêu dùng, đồng thời góp phần năng cao đời sống tinh thần vật chất, cũng như thúc đẩy quá trình phát triển kinh doanh của các các nhân, hộ gia đình. Tổng quan về tăng trưởng tín dụng bán lẻ 1.
Khái niệm tăng trưởng Khái niệm tăng trưởng gồm có các từ “tăng” và “trưởng”. Từ tăng trong khái niệm tăng trưởng là nói tới “nhiều hơn lên, hoặc trở nên nhiều hơn về số lượng, mức độ; trái với giảm”4, tức nói về bản chất (nội dung) của tăng trưởng; từ trưởng là nói tới từ “ghép sau để cấu tạo danh từ”5, tức nói về tính chất (hình thức) của tăng trưởng. Giữa tăng và trưởng là tồn tại sự cân đối, cân bằng, hài hòa về số lượng, mức độ tăng, giảm, tức nói về thực chất (nguyên lý) sự thực hay sự thật của tăng trưởng. Trong Từ điển tiếng Việt, tăng trưởng được các nhà khoa học xã hội nhìn nhận là “lớn lên, tăng thêm về trọng lượng, kích thước”6.
Tức tăng trưởng có thể được nhìn nhận là khái niệm biểu hiện hệ thống tri thức học thuật về mối liên hệ theo quy luật, hiện thực khách quan giữa bản chất, tính chất, thực chất cân đối (tăng), cân bằng (giảm), hài hòa (tăng, giảm) của lượng 11 và chất. Mô hình cấu trúc của tăng trưởng có thể được biểu thị như sau: bản chất cân đối về chất - thực chất hài hòa về chất lượng - tính chất cân bằng về lượng.