chương 1 (2005) khẳng định “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” [28] Để có được đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn, đặc biệt là trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước thì công tác phát triển cán bộ là hết sức quan trọng và cấp thiết. Song trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ) đã nêu “Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới. Đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu cục bộ, vừa không đồng bộ về cơ cấu chuyên môn. Tỷ lệ nhà giáo có trình độ sau ĐH trong giáo dục ĐH còn thấp; tỷ lệ sinh viên trên GV chưa đạt mức chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010.
Vẫn còn một bộ phận nhỏ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có biểu hiện thiếu trách nhiệm và tâm huyết với nghề, vi phạm đạo đức và lối sống, ảnh hưởng không tốt tới uy tín của nhà giáo trong xã hội. Năng lực của một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn thấp. Các chế độ chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đặc biệt là chính sách lương và 6 z phụ cấp theo lương, chưa thỏa đáng, chưa thu hút được người giỏi vào ngành giáo dục, chưa tạo được động lực phấn đấu vươn lên trong hoạt động nghề nghiệp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được các yêu cầu đổi mới giáo dục”.[16; tr14-15] Cũng trong Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã nêu đối với giáo dục ĐH “Nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới”.
“Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nghiệp và ĐH đạt khoảng 70%; tỷ lệ sinh viên tất cả các hệ đào tạo trên một vạn dân vào khoảng 350 – 400” [16; tr 7] Do yêu cầu phát triển cả số lượng và chất lượng trong GD& ĐH, vậy cần phát triển đội ngũ GV để đáp ứng yêu cầu đó. Cũng trong Chiến lược này đã nêu “100% GVĐH đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 100% GVĐH và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ” [16; tr 9]. Đối với việc phát triển GD & ĐT thì vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên, GV có ý nghĩa hết sức quan trọng. Vì vậy, việc xây dựng phát triển đội ngũ GV là hết sức cần thiết.
Vấn đề nghiên cứu xây dựng đội ngũ nhà giáo các cấp học, các trình độ đào tạo đến nay đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong nước quan tâm. Nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo nhằm tìm ra những giải pháp, biện pháp thiết thực để làm tốt công tác phát triển đội ngũ giáo viên, GV như: * "Mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật" của PGS. TS Nguyễn Tiến Đạt (1990). * "Xây dựng mô hình GV kỹ thuật ở trình độ ĐH cho các trường THCN - dạy nghề" do Nguyễn Đức Trí là chủ biên (1996).
7 z * "Xây dựng mô hình hoạt động cho giáo viên dạy nghề" của Nguyễn Đăng Trụ (2004). Một số đề tài thạc sĩ cũng đã được nghiên cứu: - “Các biện pháp phát triển đội ngũ GV Trường Cao đẳng cộng đồng Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của Hoàng Ngọc Hiền, Hà Nội, 2007. - “Các giải pháp phát triển đội ngũ GV đáp ứng nhu cầu nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật công nghiệp I thành Trường ĐH” của Trần Ngọc Huy, Hà Nội, 2007. - “Một số biện pháp xây dựng đội ngũ GV trường Cao đẳng sư phạm Hoà Bình” của Hoàng Văn Thực CĐSP Hoà Bình 2007,.
- Và một số đề tài khác… Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu có đề cập tới việc đào tạo giáo viên dạy nghề của Phan Chính Thức, Trần Hùng Lượng, Hoàng Ngọc Trí, đề cập khá sâu về công tác phát triển giáo dục của các cấp học, các trình độ đào tạo phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, phát triển đội ngũ GV của các địa phương, cơ quan nơi mình công tác và đã đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm thực hiện tốt hơn công tác phát triển giáo dục và phát triển đội ngũ GV ở địa phương, đơn vị mình. Tuy nhiên, mỗi địa phương, cơ quan có đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, cơ chế quản lý khác nhau,. nên việc thực hiện phát triển giáo dục và phát triển đội ngũ giảng viên cũng có sự khác nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển đội ngũ GV trường ĐHTN & MT Hà Nội là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển chung của giáo dục chuyên nghiệp của các trường ĐH và Trung học chuyên nghiệp trong giai đoạn mới.
Tuy nhiên ở Trường ĐHTN & MT Hà Nội chưa có tác giả nào nghiên cứu sâu về quản lý phát triển đội ngũ GV, các văn bản ban hành dưới dạng quyết định chưa đem lại hiệu quả cao, chồng chéo hoặc chưa phù hợp trong công các quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ GV. Các nhà quản lý ở Trường chưa có nhiều tài liệu tham khảo và vận dụng vào việc quản lý nâng cao chất 8 z lượng đội ngũ GV, nhiều GV chưa ý thức được vai trò quan trọng của mình đối với chất lượng của nhà trường. Trong đề tài này, tác giả kế thừa những kết quả nghiên cứu nói trên và đưa ra một số biện pháp quản lý phát triển ĐN GV Trường ĐHTN & MT Hà Nội. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội loài người, nó xuất phát từ những nhu cầu khách quan của cuộc sống con người, nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của một xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin thì tương ứng với mỗi hình thái kinh tế - xã hội lại tồn tại những phương thức quản lý riêng. Mỗi xã hội khác nhau lại có những kiểu quản lý xã hội khác nhau, phản ánh khách quan trình độ tổ chức xã hội của xã hội đó.Taylor tác giả của học thuyết quản lý theo khoa học thì: “Quản lí là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo thuyết quản lí hành chính của Henry Fayol thì: “Quản lí hành chính là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra”. Theo tập thể tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh điển và đơn giản nhất: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [2; tr 17]. Xem xét khái niệm quản lý mà các nhà khoa học trong và ngoài nước nêu trên, cho thấy quản lý là một hoạt động bao gồm các thành tố cơ bản: - Tổ chức và hoạt động của tổ chức đã tạo nên sự phân công lao động trong tổ chức; nếu không có tổ chức thì không có quản lý. - Mục tiêu hoạt động mà tổ chức phải đạt tới theo chức năng và nhiệm 9 z vụ của mình và mục tiêu quản lý mà chủ thể quản lý hướng mọi nỗ lực của tổ chức để đạt được phải luôn luôn tiếp cận với nhau.
- Chủ thể quản lý là người đứng đầu tổ chức có trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của tổ chức theo một phương thức, nội dung và quy trình tác động ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật, .; khách thể quản lý gồm các người bị quản lý trong tổ chức. - Môi trường luôn luôn thay đổi hoạt động của tổ chức cũng chính là môi trường của hoạt động quản lý. Như vậy, quản lý một tổ chức là sự tác động có ý thức, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (những người bị quản lý) nhằm huy động và điều phối mọi nguồn lực cho các hoạt động của tổ chức để đạt tới mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn luôn thay đổi. Quản lý giáo dục Như chúng ta đã biết, các nhà khoa học có nhiều cách phân loại quản lý: có thể phân theo lĩnh vực quản lý, phân theo tính chất quyền lực của quản lý, phân theo phương thức quản lý hoặc phân theo đối tượng quản lý.Tuy nhiên, cách thức thông dụng nhất trong việc phân loại quản lý là phân theo lĩnh vực, chẳng hạn lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý văn hoá, quản lý xã hội, quản lý môi trường, quản lý giáo dục.
Với tinh thần trên, quản lý giáo dục là một lĩnh vực đặc thù của quản lý, nó vừa có mối quan hệ với hệ thống quản lý xã hội nói chung, vừa có những đặc trưng riêng.Kon-đa-cop “Những vấn đề cốt yếu của quản lý giáo dục”, đã đưa ra một số định nghĩa về quản lý giáo dục là “tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu…) nhằm đảm bảo được sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống 10 z giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như mặt chất lượng”. Nhìn chung các định nghĩa về quản lý giáo dục được các tác giả đưa ra vừa khái quát vừa cụ thể, hợp lý và dễ hiểu.