chương 1, tôi xin trình bày các khái niệm cơ bản sau: 1. Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm quản lý; chức năng quản lý 1. Khái niệm quản lý Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công và hợp tác lao động.
Chính sự phân công và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra và điều chỉnh; và trong hoạt động QL luôn luôn có bóng dáng của người đứng đầu – của nhà quản lý. Thông qua hoạt động của nhóm người quản lý đã khéo léo phối hợp một cách nhịp nhàng những nỗ lực của các thành viên nhằm đạt được mục tiêu cao nhất mà tổ chức ấy đề ra. QL vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Khi nói đến hoạt động này người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K- Marx: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” [2, tr.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý. Song đối với phạm vi của một luận văn, tôi xin được đưa ra một số định nghĩa tiêu biểu liên quan đến hoạt động này như sau: QL là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể tạo môi trường và điều kiện cho sự nghiệp phát triển của đối tượng [10, tr. 5 z Một định nghĩa khác về hoạt động QL đó là “sự tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình” [10, tr. Khái niệm tổ chức ở đây như là một nhóm có cấu trúc nhất định, những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó thì một người riêng lẻ không thể nào làm được.
Hoạt động QL còn được định nghĩa như là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra [10, tr. Thuật ngữ “ quản lý” thể hiện được bản chất hoạt động này trong thực tiễn, nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “ quản” gồm sự coi sóc giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”, và quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, điều chỉnh, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển” [3, tr. Mặc dù các tác giả của các định nghĩa trên có những cách diễn đạt khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất ở một số đặc điểm sau: - QL luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể QL và khách thể QL. - Bản chất của hoạt động QL là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra.
Như vậy QL là một hoạt động mang tính tất yếu của quá trình phát triển xã hội. Chủ thể QL và khách thể QL luôn luôn có quan hệ tác động qua 6 z lại và chịu tác động của môi trường. Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động QL vì thế QL vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Người QLphải nhạy cảm, linh hoạt, sáng tạo và mềm dẻo.
QL còn là một nghề. Người ta có thể nói rằng sự thành công hay thất bại của một tổ chức chính là sự thành công hay thất bại của chính người QL tổ chức đó. Có thể tóm tắt lại: QL là một phạm trù hàm chứa những khái niệm đặc trưng như chủ thể QL, khách thể quản lý và mục tiêu QL. Phần tiếp theo sẽ trình bày tóm tắt những chức năng cơ bản của QL nhằm xác định rõ cơ sở lý luận cho mục đích của đề tài.
Chức năng quản lý Bốn chức năng cơ bản của hoạt động QL được bàn đến trong hầu hết các nghiên cứu là: Kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra. + Kế hoạch hoá là một chức năng QL. Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích của tổ chức và các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. + Tổ chức là chuyển những ý tưởng đã được kế hoạch hoá thành hiện thực, là quá trình hình thành nên các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Tổ chức còn là quá trình điều phối thực hiện kế hoạch. + Chỉ đạo bao hàm việc tạo ra được các mối liên kết, liên hệ của người lãnh đạo với người khác và giữa những nhóm người trong tổ chức, động viên họ hợp tác hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. + Kiểm tra là một chức năng QL, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những điều chỉnh, uốn nắn nếu cần thiết để tiếp tục chu trình QL ngày càng hiệu quả hơn. Tóm lại bốn chức năng QL này luôn có quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau.
Khi hoạt động QL được tiến hành thì chúng đều được triển khai, bởi một 7 z điều tất yếu là bất cứ người QL nào cũng phải làm công việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh (sơ đồ 1. Trong cuộc sống của chúng ta, mỗi một hoạt động của bất kỳ một lĩnh nào đều xuất hiện vai trò của hoạt động QL. Tuy mỗi một lĩnh vực đều có những sự khác biệt nhất định, song chúng đều chứa đựng những nét cơ bản chung của hoạt động QL. Đồng thời chính các hoạt động chức năng này đã góp một phần hết sức quan trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng tổ chức.
Thực chất vai trò của quản lý chính là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn, liên hoàn của mọi thành viên trong một tổ chức vì mục đích chung là đạt được mục tiêu mà tổ chức đó đề ra. Tuy nhiên trong sự kết hợp nhịp nhàng đó không thể nào thiếu được vai trò của người CBQL như là người điều phối mọi hoạt động cơ bản của tổ chức theo các cấp độ khác nhau. Chức năng của quản lý Lập kế hoạch Thông tin Kiểm tra, đánh giá Tổ chức Chỉ đạo 8 z 1. Quản lý giáo dục; quản lý nhà trường 1.
Quản lý giáo dục Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác. Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng được QL trên phương diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hình thành. Bản thân sự giáo dục được tổ chức và có mục đích đã làm cho thực tiễn QLGD sống động [8, tr. Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lý của con người.
Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến QL nhà trường cùng với hệ thống QLGD [9, tr. Theo lý luận của giáo dục hiện đại thì cụm từ QLGD được hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đối với toàn bộ các hoạt động giáo dục [8, tr. Quá trình của hệ thống quản lý này được dựa trên cơ sở của việc ra những quyết định đúng đắn, việc điều chỉnh linh hoạt và việc sử lý thông tin về các hoạt động giáo dục một cách kịp thời. Quan hệ cơ bản của quản lý giáo dục là quan hệ của người QL với người dạy và người học trong hoạt động giáo dục.
Các mối quan hệ khác biểu hiện trong quan hệ giữa các cấp bậc QL, giữa người với người (GV và HS); giữa người với việc (hoạt động giáo dục); giữa người với vật (CSVC, điều kiện trong giáo dục) [4,tr. 9 z QLGD dựa theo nghĩa tổng quan còn là hoạt động điều hành, phối hợp các hoạt động xã hội nhằm duy trì trạng thái của các hoạt động đó theo hướng ổn định, thích ứng, tăng trưởng, phát triển và đẩy mạnh công tác giáo dục tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân. QLGD là một loại hình của quản lý xã hội. Có nhiều định nghĩa khác nhau về QLGD: - QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất.
- QLGD là quá trình tác động có ý thức, được định hướng của chủ thể quản lý lên các thành tố của các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục một cách có hiệu quả. Nói chung QLGD là quá trình vận dụng những khái niệm, nguyên lý, PP, của khoa học quản lý vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt, đó là ngành GD. Quản lý nhà trường Nhà trường là một thiết chế hiện thực hoá sứ mệnh của nền GD trong đời sống kinh tế – xã hội. Nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết chế sư phạm đơn thuần.