phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Chƣơng 2: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh của hiệu trưởng các trường THPT huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình Chƣơng 3: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh của hiệu trưởng các trường THPT huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Từ xưa đến nay, trong mọi thời đại, đạo đức có vai trò quan trọng trong xã hội với những chuẩn mực giá trị đúng đắn, đạo đức là một bộ phận quan trọng trong nền tảng tinh thần của xã hội. Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Ngược lại nếu xã hội bị khủng hoảng về đạo đức, chính là một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội.
Do đó vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức luôn được nhiều người quan tâm. Khổng Tử (551-479 TCN) nhà giáo dục lớn của Trung Hoa phong kiến đề cao đường lối đức trị và lễ trị để trị quốc an dân, phát triển đất nước. Theo quan điểm của ông thì cơ sở của đường lối đức trị là lòng Nhân, lòng yêu thương con người. Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác, các đức tụ cả ở Nhân.
Khổng Tử cho rằng: “ Điều mình không muốn thì đừng làm cho kẻ khác”. Làm người phải biết sửa mình “ Không nhìn cái không hợp Lễ, không nghe cái không hợp Lễ, không nói điều không hợp Lễ, không làm việc không hợp Lễ”. Với những cống hiến ấy, Khổng Tử được coi là giáo dục lớn của Trung Quốc, được tôn làm “ Vạn thế sư biểu” I.Komenxki (1592-1670) đã đúc kết “ Một số qui tắc trong ứng xử” để giáo dục cho thanh thiếu niên. Ông đặc biệt quan tâm đến phương pháp làm gương và nêu gương trong giáo dục đạo đức cho học sinh.
Ở thế kỷ XX, nhiều nhà tâm lý học và giáo dục học trên thế giới cũng đã đề cập và nghiên cứu về giáo dục đạo đức. Trong số đó nối bật là nhà giáo dục học và tâm lý học Liên Xô A. Makarenco, ông nêu lên nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể. Trong tác phẩm “ Bài ca sư phạm’’ ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục đạo đức.
6 z Ỏ Việt Nam cũng như các nước phương Đông khác, hàng nghìn năm trước đây đã xây dựng mô hình giáo dục theo truyền thống Nho giáo, coi trọng Lễ và Văn. Văn hiểu theo nghĩa rộng là kiến thức là văn chương cũng có nghĩa là tài năng. Lễ được hiểu theo nghĩa rộng là nghi thức, khuôn phép mà mọi người phải tuân theo trong hành vi ứng xử để thể hiện là con người có những phẩm chất cơ bản: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín có nghĩa là đạo đức. Đạo đức và tài năng là hai yếu tố căn bản của nhân cách con người, trong đó cha ông ta coi trọng đạo đức, coi đạo đức là gốc rễ, “ Tiên học Lễ, Hậu học Văn” là xuất phát từ tư tưởng đó.
Kế thừa và phát triển những tư tưởng về giáo dục của các bậc tiền nhân, Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng luôn đề cập đến vấn đề đạo đức. Bác viết: “ Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [26, tr.34 ] Theo tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng giúp con người vượt mọi thử thách, không lùi bước trước khó khăn gian khổ.
Bản thân Người chính là tấm gương sáng nhất về đạo đức cách mạng. Do đó cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động được đông đảo nhân dân ta hưởng ứng tham gia. Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức được vai trò của GD đạo đức đối với sự nghiệp giáo dục nói riêng và sự phát triển bền vững của toàn xã hội nói chung. Chính vì vậy, năm 1979 khi Bộ chính trị ra quyết định về cải cách giáo dục, Uỷ ban cải cách giáo dục đã có quyết định số 01 mở cuộc vận động: " Tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong các trường học" [27, tr.2] Trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mở đầy năng động hiện nay đã tạo ra những định hướng giá trị xã hội mới, bên cạnh những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, những giá trị của con người trong thời đại mới cũng 7 z được hình thành.
Tuy vậy, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã xuất hiện một số nét tiêu cực ảnh hưởng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của một số tác giả về đạo đức và giáo dục đạo đức học sinh. Tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơ bản để giáo dục đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH: “ Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các trường học; củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật. Tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết là cán bộ đảng viên, thầy cô giáo các trường học, xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho mọi người” [22, tr.71-72] Tác giả Hà Nhật Thăng đã nghiên cứu sự phát triển trí lực- tâm lực- thể lực của mỗi con người, trong đó phải coi tâm lực là nội lực của sự phát triển con người, đồng thời tác giả đã viết cuốn sách: " Rèn luyện kỹ năng sư phạm” nhằm cung cấp những kỹ năng sư phạm cần thiết cho sinh viên sư phạm và đội ngũ giáo viên để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong các nhà trường phổ thông [32] Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc-Đinh Thị Kim Thoa-Trần Văn Tính- Vũ Phương Liên đã nghiên cứu giáo dục giá trị sống nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh THPT, đồng thời các tác giả đã viết cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” [28], đây là tài liệu bổ ích cho đội ngũ giáo viên THPT trong việc giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh hiện nay và đã được rất nhiều trường THPT sử dụng.
8 z Một số luận văn thạc sĩ ngành quản lý giáo dục của Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã chọn vấn đề đạo đức để nghiên cứu: Tác giả Trần Tuấn Nam đã đề cập đến các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đức học sinh THPT tại thành phố Bắc Giang và đề xuất 7 giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục đức học sinh THPT Tác giả Nguyễn Phương Liên lại đề cập đến quản lý giáo dục truyền thống cho học sinh qua đó giáo dục đạo đức học sinh tại các trường THPT huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội. Trước tình trạng báo động về suy thoái của đạo đức học sinh, nhất là tình trạng bạo lực học đường, hiện tượng học sinh đánh nhau (có nhiều vụ là học sinh nữ tham gia) mà đài báo đã đăng tin. Ngày 25/11/2009 tại Hà Nội, Bộ GD&ĐT đã tổ chức Hội thảo về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống, phòng chống tội phạm, bạo lực trong học sinh phổ thông. Kết luận hội nghị, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã khẳng định: “….Bộ GD&ĐT và Đoàn thanh niên chịu trách nhiệm lớn nhất trước xã hội về đạo đức lối sống của học sinh” [8], đồng thời qua hội nghị Bộ GD&ĐT đã yêu cầu các Sở GD&ĐT hiến kế để ngăn chặn bạo lực học đường, nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh phổ thông.
Qua một số nghiên cứu và thực tiễn giáo dục đạo đức trên đây cho thấy, giáo dục đạo đức học sinh THPT là công việc khó khăn, vất vả, phức tạp đòi hỏi phải có những biện pháp phù hợp, giáo dục đạo đức học sinh phổ thông là mối quan tâm không chỉ của những người làm công tác giáo dục mà còn là của toàn xã hội, nhất là trong tình hình xã hội ta hiện nay. Với những người làm công tác QLGD, việc đi tìm những biện pháp khả thi để quản lý giáo dục đạo đức học sinh THPT còn rất ít người nghiên cứu. Vì vậy khi lựa chọn đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh THPT. Một số khái niệm công cụ 1.1 Quản lý Quản lý là một hiện tượng có thuộc tính lịch sử, đây cũng là hiện tượng xã hội có từ rất sớm.
Quản lý ra đời chính là để tạo ra hiệu quả lao động cao hơn so với việc làm của từng cá nhân riêng lẻ, của một nhóm người khi họ tiến hành các công việc có mục tiêu chung với nhau. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: Theo C.Marx:“ Quản lý là lao động điều khiển lao động” [21, tr.Marx đã coi việc xuất hiện quản lý như là một kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động các biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.Marx đã nhấn mạnh vai trò của quản lý : “.Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [21, tr.326 ] Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “ Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [16, tr.