Chương 1: Cơ sở lý luận của các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đến năm 2020 Chương 3: Các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội đến năm 2020 z 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN. Một số khái niệm cơ bản về quản lý 1. Khái niệm quản lý Ngay từ thời xa xưa, khi các hoạt động trong xã hội loài người còn tương đối đơn giản với quy mô chưa lớn, công việc quản lý được thực hiện trên cơ sở kinh nghiệm với sự linh họat, nhạy bén của người đứng đầu tổ chức. Kinh nghiệm ngày càng phong phú và người ta rút ra những điều mang tính quy luật có thể vận dụng trong nhiều tình huống tương tự.
Ngày nay quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Nó có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại trong nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nuớc. Hoạt động quản lý bắt đầu từ sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt được hiệu quả, năng suất lao động cao hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lí., đều phải có người đứng đầu. Đây là hoạt động giúp người thủ trưởng phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra.
Ngay từ thời Khổng Tử, ông đã đề cao và xác định rõ vai trò cá nhân của người quản lý, ông cho rằng: người quản lý mà chính trực thì không cần phải bỏ tốn nhiều công sức mà vẫn khiến người ta làm theo. Ngày nay, nói đến hoạt động này, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của C. Mác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. z 11 Theo Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [29, tr.
Từ điển Anh - Việt, Viện Ngôn ngữ học cũng định nghĩa: “Quản lý (manage) có nghĩa là điều hành, điều khiển, tổ chức một công việc, một tổ chức, một tập thể,. theo yêu cầu nhất định”. 1060] Một số tác giả nước ngoài như Henry Fayol cho rằng: Hoạt động quản lý gồm 5 chức năng cơ bản là: - Lập kế hoạch nghiên cứu tương lai và sắp xếp kế hoạch hành động. - Tổ chức chuẩn bị vật tư trang thiết bị và bố trí lao động cho công việc.
- Chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho đội ngũ nhân viên làm việc. - Thống nhất và phối hợp các hoạt động. - Kiểm tra để xác định mọi hoạt động có được thực hiện theo đúng nguyên tắc đã được đặt ra và những qui định đã được ban hành. Theo quan niện của một số tác giả Việt Mam: - Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.
- Hoạt động quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. - Theo quan niệm mới thì quản lý là hoạt động nhằm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đề ra và tiến tới trạng thái chất lượng mới. Thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản chất hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn ở trạng thái “ổn định”, quá trình “lý” gồm sự z 12 sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa vào thế “phát triển”.
Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản”, tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm tới việc “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong “quản” phải có „lý”, trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực). Nói một cách tổng quát nhất, có thể xem quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Chức năng của quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là một hiện tượng xã hội, là một dạng quản lý nằm trong phạm trù quản lý xã hội nói chung, tuy nhiên nó có những đặc trưng riêng và là một dạng lao động đặc biệt.
Quản lý giáo dục trước hết và thực chất là quản lý con người. Điều này có nghĩa là tổ chức một cách khoa học lao động của những người tham gia vào quá trình giáo dục. Trong quản lý giáo dục, những sự tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý mang tính chất mềm dẻo, đa chiều. Quản lý giáo dục bao gồm 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch, Tổ chức, Lãnh đạo và Kiểm tra.(15, tr3) + Chức năng lập kế hoạch: Là khởi điểm của một quá trình quản lý và được coi là nền tảng khi bàn đến hoạt động quản lý.
Lập kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu trong tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Nội dung của kế hoạch hóa gồm: xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức, xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về z 13 các nguồn lực của tổ chức và quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đặt ra. + Chức năng tổ chức: Khi nhà quản lý đã lập xong kế hoạch thì bước tiếp theo sẽ là triển khai kế hoạch, biến những ý tưởng thành hiện thực. Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý trong việc sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả. Đây được xem là công cụ quan trọng của quản lý. + Chức năng lãnh đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập, bộ máy vận hành đã được xây dựng, nhân sự đã được bố trí, xắp xếp thì nhất thiết phải có nhà lãnh đạo. Lãnh đạo là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình tác động đến các thành viên trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức.
+ Chức năng kiểm tra: Trong hoạt động quản lý, nếu chỉ tiến hành quản lý chung chung mà không kiểm tra, đánh giá thì mới chỉ là một nửa của quản lý. Do vậy, đây là một chức năng quan trọng và không thể thiếu để đánh giá sự thành công của công tác quản lý. Kiểm tra là quá trình người lãnh đạo thiết lập ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động sau đó theo dõi, đối chiếu kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra để kịp thời điều chỉnh những sai lệch nhằm đạt được mục tiêu cao nhất của tổ chức. Hay nói cách khác, kiểm tra thực chất là quá trình thiết lập mối liên hệ nghịch trong quản lý giúp chủ thể quản lý điều khiển tối ưu hệ thống quản lý của mình.
Bốn chức năng này có quan hệ tương tác hỗ trợ lẫn nhau tạo thành một chu trình quản lý hoàn chỉnh, trong đó chức năng kiểm tra là chức năng cơ bản và quan trọng nhất. Ngoài bốn chức năng đã nêu trên, còn phải kể đến hai yếu tố quan trọng khác: thông tin quản lý và quyết định quản lý. Một số khái niệm về nhà giáo, giảng viên, đội ngũ giảng viên, chất lƣợng giảng viên 1. Nhà giáo Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2005 đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ về nhà giáo và những tiêu chuẩn của một nhà giáo.
Nhà giáo có nghĩa là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Những người làm công tác giảng dạy ở các trường, các cơ sở giáo dục (gồm giáo viên, giảng viên), Luật Giáo dục gọi chung là Nhà giáo. Như vậy “nhà giáo có vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học”.
Nhất là trong bối cảnh hiện nay, phải luôn luôn đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng những biến đổi to lớn không ngừng xẩy ra trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật văn hoá và xã hội thì yêu cầu đối với nhà giáo ngày càng cao. Điều 14 Luật Giáo dục về vai trò nhà giáo cần phải có những phẩm chất, năng lực sau: * Phẩm chất đạo đức tốt: Phẩm chất hàng đầu của nhà giáo là lòng yêu nước, giác ngộ xã hội chủ nghĩa với lý tưởng nghề nghiệp. Phẩm chất này thể hiện đậm nét ở niềm tin cách mạng trong sáng và cao thượng. Tình cảm này xuất phát từ lòng yêu nước, lý tưởng cách mạng phải làm cho “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh”.
Tình cảm này thể hiện ở lòng yêu nghề, hứng thú và có yêu cầu làm việc với thế hệ trẻ, có trách nhiệm trước những lệch lạc hoặc chậm phát triển của học sinh, có tính kiên trì, thái độ kìm chế và chủ động trong cách đối xử với học sinh, nếp sống giản dị khiêm tốn, lịch sự.