CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI 1. Khái niệm áp dụng các biện pháp ngăn chặn tố tụng hình sự Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan THTT được áp dụng nhiều biện pháp trong đó có các biện pháp ngăn chặn. Các biện pháp ngăn chặn là một trong những chế định pháp lý quan trọng được quy định tại Mục I, Chương VII BLTTHS năm 2015, đồng thời việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng được quy định rõ tại Điều 419 BLTTHS năm 2015. Quá trình lĩnh hội được các quy định cũng như áp dụng đúng và chính xác được các biện pháp ngăn chặn là để đảm bảo cần thiết cho việc áp dụng tốt các nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự để phát hiện nhanh chóng, chính xác, xử lý kịp thời và công bằng đối với mọi hành vi phạm tội, từ đó đảm bảo việc không bỏ lọt tội phạm, không gây oan sai.
BLTTHS hiện hành quy định những biện pháp ngăn chặn trong Mục I, Chương VII bao gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can bị cáo để tạm giam, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Các biện pháp ngăn chặn mang tính ép buộc nghiêm khắc cũng như có tính cưỡng chế là để nhanh chóng chặn đứng các hành vị phạm tội, ngăn chặn bị can, bị cáo nói riêng cũng như người phạm tội nói chung có khả năng tiếp tục phạm tội hay trốn tránh pháp luật cũng như có hành vi gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và cuối cùng là đảm bảo việc thi hành án hình sự. Các biện pháp ngăn chặn là nền tảng pháp lý có ý nghĩa vô cùng lớn và góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình phòng ngừa cũng như đấu 8 tranh chống tội phạm, bên cạnh đó, đây cũng là biện pháp hạn chế một phần quyền tự do cá nhân vì thế vấn đề này phải được chú trọng không những từ phía các nhà lập pháp mà còn bao gồm những nhà nghiên cứu khoa học của pháp luật tố tụng hình sự. “Biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng hình sự áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án” [9].
Đây là định nghĩa của Từ điển Luật học giải thích biện pháp ngăn chặn từ đó cho thấy trong khoa học luật TTHS Việt Nam thì cũng các khái niệm khác nhau về biện pháp ngăn chặn. Từ đó cho thấy định nghĩa cũng đã xác định đúng đối tượng cũng như mục đích áp dụng các biện pháp ngăn chặn, nhưng không chỉ ra chủ thể có quyền áp dụng chúng. Các chuyên gia vè luật học đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về khái niệm các biện pháp ngăn chặn và gần nhất là định nghĩa của T.S Nguyễn Duy Thuân: “Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự bao gồm bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị bắt, bị tạm giữ nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử” [32]. Định nghĩa nêu trên vừa làm rõ bản chất của biện pháp ngăn chặn, thẩm quyền và mục đích cũng như đối tượng của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn mà chưa làm rõ được chi tiết việc đối tượng bị bắt trong trường hợp cụ thể.
Ngoài ra giáo trình dành cho sinh viên học Luật tố tụng hình sự của trường ĐH Luật TP. Hà Nội thì định nghĩa: “biện pháp ngăn chặn là một trong những nhóm biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những 9 người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự” [35]. Khái niệm vừa nêu khác hẳn so với khái niệm trước đó bởi vì cụ thể hơn nhưng lại không làm rõ được thẩm quyền áp dụng. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại một số khái niệm chưa giống nhau về biện pháp ngăn chặn mà các nhà khoa học nghiên cứu pháp luật cũng cán bộ tiến hành tố tụng làm công tác thực tiễn phòng chống tội phạm được công bố ở các giáo trình luật học của bộ môn Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, sách tham khảo luật học.
Những định nghĩa đã nêu cùng dựa vào nền tảng phân tích nội dung cơ bản của những định nghĩa về quy phạm pháp luật được quy định rõ tại Điều 109 BLTTHS 2015. Các định nghĩa vừa trình bày nói rõ được các mặt tồn tại mà biện pháp ngăn chặn cũng như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn ở thực tế, khá nhất quán để đề cập tới định nghĩa pháp lý chính là sự cưỡng chế nhà nước. Mặc dù, hiện nay còn đang hạn chế, chưa hoàn thiện. Cho đến nay, trong BLTTHS 2015 vẫn chưa có quy phạm nào định nghĩa về biện pháp ngăn chặn cũng như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, bởi vậy vẫn còn những ý kiến khác nhau về vấn đề này.
Cho dù các biện pháp ngăn chặn hạn chế nhất thời quyền tự do áp dụng với người phạm tội cũng như người bị áp dụng nhưng mà xét về mặt pháp lý, biện pháp này chưa đúng hoàn toàn. Nó chỉ là phương pháp để áp dụng việc thi hành trách nhiệm hình sự, bởi lẽ người bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn tại thời điểm này là khi chưa biết họ có tội hay không có tội, do chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Việc này chỉ là những phương tiện trợ giúp cho quá trình thực hiện trách nhiệm hình sự. Ngoài ra cơ sở pháp 10 lý việc áp dụng hình phạt là việc thực hiện tội phạm, đối với quy định pháp lý áp dụng biện pháp ngăn chặn thì cần những chứng cứ và tài liệu về việc người phạm tội có khả năng né tránh gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố và cản trở việc thi hành án.
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất chỉ do Tòa án quyết định, còn các biện pháp ngăn chặn có thể do CQĐT, VKS, TA áp dụng tùy theo giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Các biện pháp ngăn chặn được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân áp dụng phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng. Đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn đã được mở rộng bằng khái niệm “người bị buộc tội” bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điểm đ khoản 1 điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Việc tiến hành áp dụng các biện pháp ngăn chặn, cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng trong phạm vi giới hạn cho phép nhưng phải luôn luôn tuân thủ pháp luật quy định chặt chẽ tại Bộ luật tố tụng hình sự.
Thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là người tiến hành tố tụng có thẩm quyền thuộc cơ quan tiến hành tố tụng cũng như nhưng người có chức vụ trong các cơ quan này được Nhà nước giao nhiệm vụ tiến hành một số biện pháp quy định bắt buộc như điều tra, truy tố, xét xử cũng như khích lệ người dân tham gia vào việc bắt người phạm tội khi bị phát hiện quả tang. Các hành vi áp dụng biện pháp ngăn chặn nếu không đúng người đúng tội, sai thẩm quyền, cũng như thiếu căn cứ thì những thủ tục đó đương nhiên sẽ bị kết luận là vi phạm nhiêm trọng về tố tụng hình sự do áp dụng pháp luật và phải bị xử lý hình sự. Qua các nhận định như đã nêu, định nghĩa học viên đưa ra về khái niệm việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là: “ Áp dụng các biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự áp dụng đối với người được xem là bị can, bị cáo hoặc người bị nghi là người phạm tội nhằm kịp thời ngăn chặn 11 những người đó thực hiện tội phạm cũng như khi có căn cứ cho rằng họ sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử cũng như sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án hình sự”. Các yêu cầu và ý nghĩa của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người phạm tội 1.
Các yêu cầu của việc áp dụng quy định các biện pháp ngăn chặn đối người phạm tội Thống kê cho thấy thời gian gần đây, tội phạm do người phạm tội gây ra đang gia tăng, năm sau luôn cao hơn năm trước, xuất hiện nhiều về loại tội phạm, mức độ cũng như tính đặc biệt nghiêm trọng đang tăng mạnh theo thời gian. Việc pháp chế xã hội chủ nghĩa về bảo vệ quyền, lợi hợp pháp người phạm tội là các vấn đề đang gây khó khăn cho quá trình xây dựng pháp luật tố tụng hình sự cho bây giờ cũng như sau này. BLTTHS 2015 quy định các biện pháp ngăn chặn dành cho người phạm tội được quy định tại Điều 109 bao gồm các biện pháp ngăn chặn như: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 110), Bắt người phạm tội quả tang (Điều 111), Bắt người đang bị truy nã (Điều 112), Bắt bị can bị cáo để tạm giam (Điều 113), Tạm giữ (Điều 117), Tạm giam (Điều 119), Bảo lĩnh (Điều 121), Đặt tiền để đảm bảo (Điều 122), Cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 123), và Tạm hoãn xuất cảnh (Điều 124), Những biện pháp này đang góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích của cộng đồng.