phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Tổng quan về công tác quản lý thuế trên địa bàn huyện Kim Thành Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý thuế trên địa bàn huyện Kim Thành giai đoạn 2011 – 2015 Chƣơng 3: Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế trên địa bàn huyện Kim Thành giai đoạn 2016 – 2020 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ 1. Khái quát chung về thuế 1. Khái niệm Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nƣớc theo mức độ và thời hạn đƣợc pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. 5-7] Thuế không phải là một hiện tƣợng tự nhiên mà là một hiện tƣợng xã hội do chính con ngƣời định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nƣớc và pháp luật.
Bản chất của thuế đƣợc thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định tƣơng đối qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trƣng riêng có của thuế, qua đó giúp ta phân biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác. Những đặc trƣng đó là: - Thuế là khoản đóng góp mang tính pháp lý cao, thuế gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nƣớc, đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật của Nhà nƣớc cùng với những chế tài đi kèm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của công dân. - Thuế là khoản đóng góp mang tính không hoàn trả trực tiếp đối với ngƣời nộp thuế, là hình thức phân phối lại đƣợc Nhà nƣớc sử dụng và phân phối gián tiếp thông qua việc giữ vững an ninh quốc phòng, bảo vệc chủ quyền của tổ quốc, để duy trì bộ máy Nhà nƣớc, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh và hƣởng các chính sách phúc lợi của Nhà nƣớc.
Chức năng, vai trò * Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập [17] 6 - Phƣơng thức huy động của thuế là sử dụng phƣơng pháp chuyển giao thu nhập bắt buộc. Chính vì vậy, nguồn thu từ thuế đƣợc đảm bảo tập trung một cách nhanh chóng, thƣờng xuyên và ổn định. - Thông qua thu thuế, một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong nƣớc tạo ra, đã tập trung vào Nhà nƣớc để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng và thực hiện các biện pháp kinh tế - xã hội. * Chức năng điều tiết [17] - Điều tiết kinh tế Nhà nƣớc thực hiện quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội bằng nhiều biện pháp nhƣ giáo dục chính trị tƣ tƣởng, hành chính, luật pháp và kinh tế, trong đó biện pháp kinh tế làm gốc.
Nhà nƣớc cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhƣ các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng. Trong đó, thuế là một công cụ thuộc lĩnh vực tài chính và là một trong những công cụ sắc bén nhất đƣợc Nhà nƣớc sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. - Điều tiết tiêu dùng Thông qua điều chỉnh mức thuế suất thuế xuất , nhập khẩu mà gây nên áp lực tăng giá hàng nhập khẩu, giảm khả năng cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nƣớc, từ đó điều chỉnh khối lƣợng hàng hoá đƣa ra thị trƣờng và đƣa vào để thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong nƣớc và bảo vệ lợi ích của thị trƣờng nội địa. Mặt khác, tác động đánh thuế nhập khẩu cũng gây nên phản ứng của ngƣời tiêu dùng trong nƣớc tạo nên sự lựa chọn của họ trong tiêu dùng.
Ngoài ra ngƣời ta còn sử dụng công cụ thuế để kích thích việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hay ít nhất là giảm đến mức thấp nhất tính kém hiệu quả của sản xuất trong nƣớc. - Điều tiết xã hội Hệ thống chính sách thuế trong nền kinh tế thị trƣờng hội nhập đƣợc áp 7 dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cƣ, trong và ngoài nƣớc nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thế nhân và pháp nhân. * Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước [17] Ngân sách nhà nƣớc đƣợc tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng. Trong tất cả các nguồn, thông thƣờng số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu ngân sách nhà nƣớc.
Đây là nguồn thu ổn định nhất đƣợc kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nƣớc trong một năm. Hầu nhƣ mọi khoản chi tiêu của ngân sách nhà nƣớc đều dựa vào sự đóng thuế của ngƣời dân. Vì vậy, xã hội có trách nhiệm phải tôn trọng ngƣời nộp thuế, những ngƣời thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho nhà nƣớc một cách trực tiếp và gián tiếp. * Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội [17] Nhà nƣớc cần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chặt chẽ, phù hợp nhằm tạo một hành lang thống nhất, buộc mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện theo.
Điều hoà thu nhập đƣợc thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế trực thu thể hiện qua thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế suất luỹ tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. * Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh [17] Để đảm bảo thu đƣợc thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lƣợng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ đƣợc phép kinh doanh cũng nhƣ các 8 định mức chi tiêu đặc thù và các phƣơng thức hạch toán riêng có. Qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nƣớc về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. * Thuế góp phần thức đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển [17] Thuế trong cơ chế thị trƣờng không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nƣớc, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.
- Giúp Nhà nƣớc kiểm soát nguồn thu, đánh giá thực trạng kinh tế đất nƣớc trong từng giai đoạn, đồng thời làm cơ sở phân tích, đánh giá dự báo để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc. Thông qua công tác quản lý thuế giúp Nhà nƣớc nắm đƣợc các cơ chế chính sách còn bất hợp lý để sửa đổi bổ sung kịp thời phù hợp với sự phát triển của đất nƣớc, đảm bảo sự công bằng xã hội. Phân loại thuế Phân loại theo phƣơng thức đánh thuế: Các hình thức thuế, suy cho cùng đều đánh vào thu nhập của ngƣời nộp thuế. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào phƣơng thức đánh thuế - đánh một cách trực tiếp hay gián tiếp vào thu nhập mà ngƣời ta chia hệ thống thuế thành hai loại: [5,Tr.
12-13] - Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của ngƣời nộp thuế. Đối tƣợng nộp thuế trực thu là ngƣời gánh chịu gánh nặng thuế, do ngƣời nộp thuế trực thu là ngƣời trả thuế cuối cùng trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh nên khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế của ngƣời nộp thuế ở hình thức này cho ngƣời khác trở nên khó khăn hơn. Thuế trực thu mang tính chất thuế luỹ tiến vì có tính đến khả năng nhận đƣợc thu nhập của ngƣời nộp thuế. Ở nƣớc ta, thuế trực thu bao gồm: Thuế thu nhập cá nhân, Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế nhà đất.
9 - Thuế gián thu: Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của ngƣời nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá và cung ứng dịch vụ; có thể đƣợc chuyển dịch gánh nặng thuế trong những trƣờng hợp nhất định. Do đó, thuế gián thu có ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thông qua cơ chế giá cả trên thị trƣờng; mang tính chất thuế luỹ thoái vì mức thuế không phụ thuộc vào thu nhập có khả năng nhận đƣợc của ngƣời nộp thuế. Thuộc loại thuế này có các sắc thuế mà cơ sở đánh thuế là các khoản thu nhập dùng để tiêu dùng. Ở nƣớc ta, thuế gián thu bao gồm: thuế Giá trị gia tăng, thuế Tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu.
Phân loại theo đối tƣợng chịu thuế: Cơ sở đánh thuế chỉ rõ thuế đánh trên cái gì. Nếu căn cứ vào cơ sở đánh thuế, có thể chia các sắc thuế thành ba loại: [5,Tr. 11-12] - Thuế thu nhập: bao gồm các sắc thuế có đối tƣợng chịu thuế là thu nhập nhận đƣợc. Thu nhập này đƣợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: thu nhập từ lao động dƣới dạng tiền lƣơng, tiền công; thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh dƣới dạng lợi nhuận, lợi tức, cổ phần.
Do vậy, thuế thu nhập cũng có nhiều hình thức khác nhau: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp. - Thuế tiêu dùng: là các loại thuế có đối tƣợng chịu thuế là phần thu nhập đƣợc mang tiêu dùng trong hiện tại. Trong thực tế loại thuế tiêu dùng đƣợc thể hiện dƣới nhiều dạng nhƣ thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng. - Thuế tài sản: là các loại thuế có đối tƣợng chịu thuế là giá trị tài sản.
Tài sản có nhiều hình thức biểu hiện: Tài sản tài chính gồm có tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán, thƣơng phiếu.; tài sản cố định gồm nhà cửa, đất đai, máy móc, nhà máy, xe.; tài sản vô hình nhƣ nhãn hiệu, kỹ thuật.Nói chung thuế tài sản thƣờng đánh trên giá trị của tài sản cố định gọi là thuế bất động sản, 10 đánh trên tài sản tài chính gọi là thuế động sản. Hệ thống quy phạm pháp luật về thuế Hiện nay, xét về số lƣợng, hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam khá đồ sộ, còn tản mạn và rất khó khăn cho công tác tra cứu và áp dụng.