Chương 1, Điều 4: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy, sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học của HS, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. Như vậy, vấn đề nghiên cứu tự học và năng lực tự học được đặt trên nền tảng vững chắc về quan điểm chỉ đạo trong thời kỳ chuyển mình của GD-ĐT nhằm thích ứng với giai đoạn phát triển đất nước, xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đầu thế kỷ XXI và vấn đề này cũng được các nhà sư phạm hàng đầu trong nước nghiên cứu, thử nghiệm. Các hoạt động và công trình nghiên cứu tự học - tự đào tạo, năng lực tự học từ thời gian thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay: Hoạt động của "Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học" thuộc Hội khuyến học Việt nam đã tập trung nhiều nhà khoa học và sư phạm nghiên cứu vấn đề tự học - tự đào tạo. Vào tháng 1/1998 và 3/1999, "Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học" đã tổ chức hội thảo khoa học "Tự học, tự đào tạo, tư tưởng chiến lược của sự phát triển giáo dục Việt nam".
Với hơn 40 đề tài nghiên cứu phục vụ cho việc nghiên cứu, xây dựng chương trình tự học - tự đào tạo, hội thảo đã thể hiện tâm huyết của các bậc lão thành giáo dục, các nhà nghiên cứu giáo dục, các vị đại biểu nhà nước, đoàn thể: "Tất cả vì năng lực tự học, tự sáng tạo của HS thân yêu" Tác giả Vũ Văn Tảo đã giải quyết khá rõ mối tương quan giữa dạy, tự học và năng lực tự học qua tác phẩm "Dạy-học giải quyết vấn đề"- một hướng đổi mới trong công tác giáo dục, đào tạo, huấn luyện: + Tác phẩm đã giải quyết vấn đề : tình huống được nêu lên nhằm kích thích người học vận dụng khả năng trí tuệ để khám phá, giải quyết vấn đề. Từ đó, hoạt động dạy học trên lớp qua phương pháp "nêu và giải quyết vấn đề" dần dần giúp cho HS rèn luyện các kỹ năng, phương pháp tự thể hiện trí tuệ tạo tiền đề cho việc phát triển các năng lực tự học. + Đặc trưng của PPDH "Nêu và giải quyết vấn đề" được chia thành các "thao tác", các "giai đoạn" nhằm đưa ra các tình huống khác nhau để người học lựa chọn và giải quyết vấn đề. Đặc trưng của phương pháp này còn thể hiện ở hình thức tổ chức như báo cáo, thảo luận, 18 nghiên cứu và trình bày của người học theo tổ nhóm nhằm tạo cho người học có điều kiện tự thể hiện kĩ năng tư duy của cá nhân.
Như vậy, công trình nghiên cứu PPDH "Nêu và giải quyết vấn đề" đã giải quyết được mối tương quan giữa hoạt động dạy và hoạt động học dù dưới dạng tiềm ẩn thông qua quan điểm dạy học hướng tới phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo học tập của HS. Các nhà giáo dục học Việt Nam như Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Cảnh Toàn, Phan Trọng Luận, Nguyễn Ngọc Bảo, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Kỳ. đã có những công trình nghiên cứu về hoạt động tự học của người học. Trong dó, các tác giả đã đề cập đến các biện pháp sư phạm của người dạy nhằm nâng cao chất lượng tự học của người học: phải hướng dẫn phương pháp tự học cho người học, hình thành ở họ thói quen đọc sách và có kế hoạch kiểm tra việc tự học.
Tác phẩm "Quá trình dạy-tự học" là tác phẩm có kế thừa và bổ sung các cuốn sách đã được xuất bản như: "Luận bàn và kinh nghiệm tự học" của Nguyễn Cảnh Toàn (Tủ sách ĐH- đào tạo từ xa, 1995),"Dạy học giải quyết vấn đề" của Vũ Văn Tảo (Trường CBQL GD-ĐT I, 1996). Qua "Quá trình dạy - tự học", các vấn đề về tự học và năng lực tự học đã được nghiên cứu và trình bày cụ thể về khái niệm, phương pháp, mô hình, chu trình dạy-tự học. Quan điểm của tác phẩm cho rằng: Tự học là "nội lực" phát triển bản thân người học, tác động của thầy là "ngoại lực" đối với sự phát triển bản thân người học. Kết hợp quá trình dạy và quá trình tự học là quá trình kết hợp giữa ngoại lực và nội lực cộng hưởng với nhau tạo ra chất lượng và hiệu quả cao.
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng: vấn đề tự học - tự đào tạo, nâng cao năng lực tự học cho HS đã được các nhà sư phạm nghiên cứu kỹ, sâu rộng đồng thời đã nêu được những quy trình cụ thể thực hiện đề tài. Công tác nghiên cứu về quản lý chỉ đạo của CBQL trường học nhằm thúc đẩy hoạt động tự học, tự đào tạo, nâng cao năng lực tự học cho HS còn ít đề cập đến. Trong các công trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ thấy đề cập đến việc yêu cầu đào tạo CBQL nhà trường có đủ năng lực chỉ đạo hoạt động tự học - tự đào tạo, yêu cầu này được ghi ở điều 10 cua chương trình hoạt động sau hội thảo tháng 3/1999 và rải rác ở các bài phát biểu. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu về các biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao năng lực tự học cho HS, đặc biệt là HS 19 THPT thì hầu như không thấy.
Có chăng thì những công trình này chỉ tập trung vào bậc THCS như đề tài: "Các biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao năng lực tự học cho HS THCS" của tác giả Lê Văn Chiến, ĐHSP Huế. Hoặc đề tài chỉ nhằm vào việc xác định một số phương pháp để nâng cao năng lực tự học cho HS ở một môn học cụ thể như đề tài của tác giả Nguyễn Thị Mây: "Xác định một số PPDH nhằm nâng cao năng lực tự học môn Địa lý". CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ: 1. Khái niệm về quản lý - quản lý giáo dục: a.
Khái niệm về quản lý: Hoạt động quản lý hình thành từ sự phân công hợp tác lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức, cộng đồng. Với nhu cầu hướng đến hiệu quả tốt hơn, năng suất cao hơn trong hợp tác lao động của cộng đồng đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, phân công, kiểm tra, chỉnh lý. do đó xuất hiện vai trò người quản lý. Thuật ngữ "Quản lý"(Việt gốc Hán) gồm 2 quá trình tích hợp nhau: Quá trình "Quản" gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái "ổn định"; quá trình "lý" gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế "phát triển".
Nếu chỉ "quản" thì tổ chức đễ trì trệ, nếu chỉ "lý" thì phát triển không bền vững. Do dó trong "quản" phải có "lý" và ngược lại làm cho hệ ở thế cân bằng động; vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong môi trường tương tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện phấp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.(32) Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định. Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng cua chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.(32) 20 Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định.
(6;28) Quản lý thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất của trường phổ thông Xã hội chủ nghĩa Việt nam, trong và bằng cách đó đưa nó tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới.(3;18) Như vậy, các định nghĩa về quản lý đều tập trung vào hiệu quả công tác quản lý, phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục đích công tác quản lý, bằng tác động từ chủ thể đến khách thể quản lý nhờ công cụ và phương pháp quản lý. Mục đích hay mục tiêu chung của hoạt động quản lý có thể do chủ thể quản lý áp đặt, do yêu cầu khách quan của xã hội hay do có sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối tác động tương hỗ với nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý. Quá trình tác động này có thể được thể hiện qua sơ đồ: (32) Tóm lại, cho dù với cách tiếp cận nào thì bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, diều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đại hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra. Khái niệm về quản lý giáo dục: 21 Quá trình tồn tại và phát triển xã hội loài người phát sinh hoạt động quản lý.
Giáo dục là một hiện lượng xã hội, do đó quản lý giáo dục được hình thành là một tất yếu khách quan từ quản lý xã hội, hay nói cách khác: quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội. Quản lý giáo dục là quá trình tổ chức và điều chỉnh sự vận hành của ba loại yếu tố (hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tập thể con người và các điều kiện vật chất cụ thể) với các quan hệ, tác động qua lại trong quá trình giáo dục thống nhất.(6;45) "Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết qủa mong muốn bằng cách hiệu quả nhất Trong đó, có hai yếu tố cơ bản: - Chủ thể quản lý là hệ quản lý giáo dục các cấp. - Khách thể quản lý là hệ thống giáo dục quốc dân hay sự nghiệp giáo dục của địa phương.