Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ Bản về quản trị nhân sự Công tác quản trị nhân sự xuyên suốt quá trình hoạt động của các nhân sự đó từ khi bước chân vào làm việc cho tới khi họ chia tay với Công ty. Nội dung hoạt động quản trị nhân sự sẽ được trình bày theo logic của nhà quản trị tác động tới nhân viên của mình trong suốt quá trình làm việc. vai trò của quản trị nhân lực (qtnl)trong công ty 1. khái niệm và đối tượng nghiên cứu 1.
Khái niệm QTNL trong doanh nghiệp: a. Các quan niệm về quản trị nhân lực. Có rất nhiều các triết lý về QTNL trong doanh nghiệp của các nhà quản trị gia. Những triết lý này rất quam trọng, nó tác động trực tiếp tới các quyết định nhân lực như tuyển chọn ai, đào tạo ai, khen thưởng, kỷ luật như thế nào.
Triết lý về nhân lực, về cách xử sự của các nhà quản trị sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả làm việc của nhân viên, nó tác động trực tiếp đến bầu không khí tập thể, đến hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên có 3 học thuyết về QTNL đáng chú ý đó là: + Theo thuyết X (học thuyết của trường phái cổ điển – Taylor): Với nhận thức con người như một loại công cụ lao động, quản niệm này cho rằng về bản chất đa số con người không muốn làm việc, họ quan tâm nhiều tới cái họ kiếm được chứ không phải việc họ làm, ít người muốn và có thể làm những công việc đòi hỏi tính sáng tạo, độc lập và tự kiểm soát. + Theo thuyết Y (Gregor, Maslow): Cho rằng con người luôn tiềm ẩn những khả năng rất lớn, cần được khơi gợi và khai thác dù cho họ ở cương vị nào cũng có tinh thần trách nhiệm và muốn làm việc tốt. Họ luôn thấy mình có ích, thích được tôn trọng, được chia sẻ trách nhiệm, được tự khẳng định mình.
+ Theo thuyết Z (Elton Mayo): Quan điểm này là của nhà tâm lý xã hội học ở các nước tư bản công nghiệp đã phát triển, đặc biệt là Nhật. Họ quan niệm về người lao động như sau: Người lao động sung sướng là chìa khoá dẫn tới năng suất lao động cao. Sự tin tưởng tuyệt đối, sự tế nhị trong cư xử, và sự phối hợp chặt chẽ trong tập thể là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Từ các học thuyết khác nhau, dẫn tới các hệ thống QTNL tương ứng với các quan điểm như sau: - Hệ thống quản trị theo quan điểm X: Phân chia công việc thành các thao tác, động tác, cử động đơn giản lặp đi lặp lại để học, thường xuyên giám sát đốc thúc, kiểm tra hệ thống tôn ti trật tự rõ ràng và có hệ thống chế độ khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh, rõ ràng.
- Hệ thống quản trị theo thuyết Y: Các nhà quản trị phải động viên khuyến khích con người đem hết sức của họ tham gia vào công việc chung. Mở rộng quyền độc lập, tự chủ của họ sẽ có lợi cho việc khai thác các tiềm năng trong con người. Đồng thời cũng xuất hiện những chính sách thương lượng, thoã thuận giữa chủ và thợ trên một số mặt nào đó. - Hệ thống quản trị theo thuyết Z; Quan niệm này lưu ý người quản trị phải tạo ra một bầu không khí tốt, dân chủ hơn, thông tin cho những người giúp việc và lắng nghe ý kiến của họ.Khái niệm QTNL: Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất những năm cuối thế kỷ XX đã mang lại viễn cảnh to lớn thức đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo khả năng khai thác toàn diện những tiềm năng về trí lực và thể lực của con người.
Ngày nay người ta buộc phải thừa nhận vai trò ngày càng tăng của con người trong sản xuất cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Với cách hiểu thông thường, nhân lực là nguồn lực của mỗi con người bao gồm thể lực và trí lực. Ta có thể nhận thấy rằng nếu như trong sản xuất kinh doanh truyền thống trước đây, việc tận dung tiềm năng con người về thể lực làn chủ yếu, thì ngày nay những hình thức sử dụng linh hoạt nguồn tiềm năng về trí lực của con người đang được các nhà sản xuất kinh doanh hiện đại rất quan tâm. Cùng với các công trình nghiên cứu về nhân lực người ta đã đưa ra khá nhiều các khái niệm khác nhau về các khía cạnh của Quản trị nhân lực.
Quản trị nhân lực (hay còn gọi là “Quản trị nhân sự” hay “Quản trị lao động”) là lĩnh vực theo dõi, hướng dẫn, điều chỉnh, kiểm tra sự trao đổi chất (năng lượng, tinh thần, bắp thịt) giữa con người với các yếu tố vật chất tự nhiên (công cụ, đối tượng lao động và năng lực) trong quá trình tạo ra của cải vật chất, để thõa mãn nhu cầu con người, nhằm duy trì, sử dụng và phát triển tiềm năng vô tận của con người”. TS Lê Minh Thạch, Quản trị nhân lực ,Nxb Thống Kê, Hà Nội – 1998). Không một hoạt động nào của tổ chức mang lại hiệu quả nếu thiếu “Quản trị nhân lực”. Quản trị nhân lực là nguyên nhân của sự thành công hay thất bại trong các hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Mục tiêu cơ bản của bất kỳ tổ chức nào cũng là sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực để đạt được mục đích của tổ chức đó. Quản trị nhân lực là một bộ phận cấu thành quản trị doanh nghiệp. Qunả trị nhân lực bao gồm tổng thể những quan hệ nhằm hướng tác động vào chu kỳ tái sản xuất sức lao động, tức là gồm các khâu: Sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Vị trí trung tâm của chu kỳ là khâu tiêu thụ sức lao động (nhân lực).
Bởi vì trong quá trình lao động diễn ra sự kết nối các yếu tố vật chất (công cụ, nguyên vật liệu, nhiên liệu.) với các tiêu hao vật chất của con người (năng lượng, thần kinh, bắp thịt). Vì vậy, quản trị nhân lực có chức năng kế hoạch hoá nhân lực, tuyển chọ, đào tạo, bồi dưỡng, kích thích, phát triển nguồn nhân lực, nhằm thu hút con người tham gia lao động, bao gồm trong quá trình trực tiếp sản xuất cũng như trong các mối quan hệ tác động qua lại với nhau để tạo ra hàng hoá và dịch vụ. Quản tri nhân lực là một bộ phận không thể thiếu của quản trị sản xuất – kinh doanh, nó nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số và chất lượng người làm việc cần thiết cho tổ chức để đạt mục tiêu đạt ra; tìm kiếm và phát triển những hình thức, những phương pháp tốt nhất để con người có thể đóng góp nhiều sức lực cho các mục tiêu của tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân con người. Đây là khâu quan trọng hành đầu và không thể thiếu trong công tác quản trị của doanh nghiệp.Nó giúp cho doanh nghiệp hoạt động và sản xuất kinh doanh đạt được kết quả cao nhất có thể.
Vai trò của QTNL trong doanh nghiệp. QTNL là tổng thể các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng, thức đẩy, phát triển và duy trì một lực lượng lao động làm việc có hiệu suất cao trong một tổ chức. Do đó, QTNL có vai trò quan trọng trong công tác quản trị của doanh nghiệp. Hơn thế nữa, đối với mỗi doanh nghiệp nguồn nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng, là mấu chốt của việc nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp.
Điều đó thể hiện rõ ở năng lực làm việc, cơ cấu lao động, tổ chức. Ngày nay, khi có sự tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ thì việc ứng dụng thành công hay không những thành tựu đó trong dây chuyền sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào nhân tố con người và công tác QTNL của doanh nghiệp đó. Trong nền kinh tế thị trường sự cạnh tranh diễn ra ngày càng mạnh mẽ, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm nhằm tăng năng lực cạnh tranh. Muốn làm được điềun đó, một trong những yếu tố quan trọng nhất là công nghệ sản xuất.
Việc áp dụng các công nghệ mới vào sản xuất buộc các doanh nghiệp phải có sự chuẩn bịo về con người, hay nói cách khác doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác QTNL để đạt được hiệu quả một cách cao nhất. Trong quá trình vận động và phát triển doanh nghiệp có thể có những thay đổi về nhân lực do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do đó công tác hoạch định nguồn nhân lực theo định kỳ để có kế hoạch tuyển chon là heets sức cần thiết. Công tác này đảm bảo cho doanh nghiệp có được nguồn nhân lực một cách kịp thời đáp ứng được yêu cầu cần thiết của hoạt dộng sản xuất kinh doanh.
Hơn thế nữa, thực hiện tốt công tác QTNL sẽ mang lại những thành tựu to lớn như: + Giảm bớt chi phí do dư thừa lao động, tiết kiệm được chi phí trong kinh doanh. +Hạn chế được rủi ro trong kinh doanh. +Đáp ứng được tiến độ sản xuất một cách kịp thời mang lài hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Như vậy, QTNL có vai trò to lớn trong doanh nghiệp, nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp đó.
nội dung của QTNL Nội dung của QTNL tập trung chủ yếu vào các nội dung sau: - Phân tích công việc, tuyển chọn người phù hợp cới yêu cầu và tính chất công việc. - Bố trí sử dụng, theo dõi, đánh giá kết quả công việc (kết quả sử dụng), điều chỉnh việc sử dụng (thuyên chuyển đề bạt, thôi việc. - Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn cho cán bộ, công nhân, tạo sự thích ứng con người với công việc cho trước mắt, cũng như về lâu dài. - Xây dựng các đòn bẩy, các kích thích vật chất, tinh thần, các phúc lợi và dịch vụ, các bảo đảm về mặt nhà nước và xã hội cho người lao động và sử dụng lao động, các biện pháp tổ chức nhằm phát huy, nâng cao tính tích cực sáng tạo của người lao động (tiền lương, tiền thưởng, thi đua, luật lao động, pháp lệnh bảo hộ lao động, hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, tổ đội tự quản tham gia quản lý).
- Tổ chức hệ thống QTNL (phòng quản trị nhân lực và quản trị viên nhân lực, thông tin, hoạch toán, đánh giá hiệu quả quản trị nhân lực trong doanh nghiệp). Các nội dung có quan hệ và tác động qua lại với nhau.