CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC Y TẾ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ CẤP QUẬN, HUYỆN HẠNG III 1. Khái quát về nhu cầu chất lượng nhân lực y tế 1. Nhân lực y tế Nhân lực: “Nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của con người, có khả năng tham gia vào quá trình tạo ra các sản phẩm của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại và tương lai. “ Nhân lực y tế là một trong những nguồn lao động chính của ngành y tế.
Bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, nha sĩ, dược sĩ và những người thực hiện công việc khác làm việc trong ngành Y tế” [9] 1. Chất lượng nhân lực y tế Chất lượng nhân lực y tế là trạng thái nhất định của nhân lực, là những tố chất, bản chất bên trong của nhân lực. Chất lượng nhân lực y tế là cả những đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan đến hoạt động sản xuất và phát triển con người. Chất lượng nhân lực càng cao thì hiệu quả công việc sẽ đạt được mức cao nhất.
Theo Vũ Thị Ngọc Phùng: “Chất lượng nhân lực y tế được đánh giá thông qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng tay nghề của họ” Theo quan điểm của Trần Xuân cầu, Mai Quốc Chánh (2012) thì chất lượng nhân lực y tế được hiểu: “ là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nhân lực”. [15] Như vậy rất có nhiều cách đánh giá khác nhau về chất lượng NL y tế nhưng chung quy lại là chất lượng NL y tế là trạng thái nhất định của NL biểu hiện qua những nhân tố sau: Thế lực, trí lực và tâm lực. Nguồn nhân lực y tế 1. Tổng quan về nguồn nhân lực y tế Nguồn nhân lực y tế là những người có khả năng lao động với sức khỏe, trình độ chuyên môn và có đạo đức nghề nghiệp phù hợp với đặc thù công việc trong lĩnh vực y tế, đang và sẽ tham gia vào các hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh Nguồn nhân lực y tế quyết định chất lượng và số lượng dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người bệnh.
Nguồn nhân lực của một tổ chức gồm những người làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực có thể được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm có sức khỏe và trình độ chuyên môn hoặc kỹ năng tay nghề. Hiện đến nay, do điểm xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau, vì thế vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: Thứ nhất: về số lượng là tất cả những người đang trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể được huy động từ họ. Thứ hai: về chất lượng, được thể hiện qua sức khỏe và năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề của người lao động.
Nguồn lao động là tổng thể những người đang trong độ tuổi lao động, đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nhân lực Trung tâm (cơ sở khám, chữa bệnh) Trung tâm Y tế hay cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là nhân tố quan trọng, quyết định nhất trong Ngành Y tế. Trong luận văn này chỉ nghiên cứu NL của Trung tâm (đơn vị sự nghiệp công lập) không nghiên cứu NLYT của cơ sở khám chữa bệnh tư nhân. Nhân lực trong các cơ sở khám chữa bệnh được chia làm 3 NLYT chính sau: - Nhân lực làm công tác quản lý (người có hệ số chức vụ) 7 - Nhân lực làm công tác chuyên môn chăm sóc, khám chữa bệnh (người không có hệ số chức vụ) - Nhân lực làm công tác phục vụ không tham gia trực tiếp vào công tác chuyên môn chăm sóc, khám chữa bệnh.
Nhân lực làm công tác quản lý (người có hệ số chức vụ) Nhân lực quản lý cần phải có các kiến thức sâu rộng để phục vụ cho công việc của mình như, kiến thức về kinh tế, chính trị, triết học, luật pháp và quản lý. Những kiến thức này một mặt hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, mặt khác giúp nhà quản lý có tầm nhìn bao quát và năng lực tư duy khoa học, đặt cơ sở cho việc nắm bắt các quy luật khách quan và tư duy khoa học quản lý hiện đại. Ngoài những kiến thức cơ bản, nhà quản lý cần phải có kiến thức chuyên môn cao khi đó mới có thể giữ được vị trí hiện tại, mới có quyền ra các quyết định sáng suốt, đúng quy định trong lĩnh vực mình quản lý. Các nhà nghiên cứu đánh giá, kiến thức chuyên môn nó ảnh hưởng rất lớn đối với các hoạt động điều hành của nhà quản lý và trong nhiều trường hợp nó quyết định đến uy tín và tầm ảnh hưởng của quyền lực nhà quản lý đối với đối tượng quản lý của mình.
Tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức và quy mô của Trung tâm Y tế mà có cách phân loại người quản lý như sau: - Giám đốc - Các phó giám đốc - Các trưởng khoa (phòng) - Các phó trưởng khoa (phòng) - Trưởng khoa, Điều dưỡng trưởng trung tâm, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên… 1. Nhân lực làm công tác chuyên môn chăm sóc, khám chữa bệnh (người không có hệ số chức vụ) 8 1. Chất lượng nguồn nhân lực Với các lĩnh vực khác nhau, mục đích khác nhau thì quan điểm về chất lượng cũng khác nhau. Nhưng chỉ có một định nghĩa về chất lượng được quốc tế thừa nhận, đó là định nghĩa của tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế.
Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2015 - Hệ thống quản lý chất lượng - cơ sở và từ vựng, tại điều khoản 3.2 có nêu: “Chất lượng là mức độ của tập hợp các đặc tính vốn có của một đối tượng đáp ứng các yêu cầu”. Các nội dung phản ánh chất lượng nhân lực y tế 1. Thể lực của nguồn nhân lực được phân ánh thông qua các tiêu chí về chiều cao, cân nặng, độ tuổi, sức khỏe. Đối với chỉ tiêu sức khỏe được kiểm tra thông qua các chỉ số thực tế dựa trên những tiêu chuẩn nhất định của Thông tư số 14/2013/TT-BYT của Bộ Y tế ngày 06/5/2013 hướng dẫn khám sức khỏe khi tuyển dụng, khám sức khỏe định kỳ và khám sức khỏe theo yêu cầu,[6] với những quy định cụ thể như sau: + Khám thể lực: Chiều cao; Chỉ số BMI; cân nặng; Huyết áp; Mạch + Khám lâm sàng: Ngoại khoa; Nội khoa; Mắt; Sản phụ khoa; Tai- Mũi- Họng; Da liễu; Răng-Hàm-Mặt; + Khám cận lâm sàng: Xét nghiệm nước tiểu; Xét nghiệm máu; Chẩn đoán hình ảnh (XQ) Căn cứ vào kết quả của các chỉ tiêu trên để phân loại sức khỏe cho người lao động theo từng loại sức khỏe như sau: Loại I: Tốt; Loại II: Trung bình; Loại III: Yeu; Loại IV: Rất yếu; Như vậy để đánh giá chất lượng NL thì yếu tố sức khỏe là yếu tố quan 9 trọng vì không có sức khỏe thì NL không đủ tốt để tạo ra giá trị thặng dư cho xã hội, ảnh hưởng đến NSLĐ cũng như quá trình tiếp thu học tập nâng cao trình độ trong thời gian tiếp theo.
Ngoài các yếu tố trên để đánh giá thể lực NL còn có các yếu tố như: Độ tuổi trung bình, cơ cấu giới tính. + Các tính theo phân loại sức khỏe (loại I,II,.) ' Số nhân lực đạt sức khỏe i Tỷ lệ NL có sức khỏe loại I = — — ----- ------ ---------------- X 100 Tổng số nhân lực + Cách tính theo độ tuổi, giới tính Số nhân lực theo độ Tỷ lệ NL theo độ tuổi/ giới tính = — -------- tuổi/gi0itính -------------- X 100 Tổng số nguồn nhân lực 1. Trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn được thể hiện qua các bằng cấp, kỹ năng nghề nghiệp, chức danh nghề nghiệp và kinh nghiệm làm việc (thâm niên nghề nghiệp) của người lao động. Trình độ học vấn thể hiện qua các tỷ lệ trình độ tiểu học, trình độ phổ thông.
Trình độ đại học, trình độ sau đại học là một trong các tiêu chí quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đơn vị tổ chức nói riêng. + Cách tính trình độ học vấn như sau: Số nhân lực có học vấn (10/10, 12/12) Tỷ lệ NL có trình độ học vấn = ------------------ --------------------------- x 1QQ Tổng số nhân lực Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là sự hiểu biết và khả năng thực hành 10 về chuyên môn nghiệp vụ đã được học và thể hiện qua quá trình đào tạo ở các trường trung học, cao đẳng, đại học, sau đại học, được thực hiện thông qua một công việc chuyên môn cụ thể nhất định. cách tính Tỷ lệ NLYT theo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Số nhân lực có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Tỷ lệ NL có trình độ chuyên môn (SC/TC/CD/DH, sau ĐH) nghiệp vụ (SC/TC/CĐ/ĐH/sau = — x 100 ĐH) = Tống số nhân lực Hiện nay, trong quá trình tuyển dụng bên cạnh các tiêu chí về trình độ chuyên môn thì đơn vị cũng kèm theo những yêu cầu về kinh nghiệm thực tế, chuyên môn công tác, kỹ năng nghề nghiệp đó là điểm cộng cho các ứng viên tham gia tuyển dụng. + Kinh nghiệm thực tế hay còn gọi là thâm niên công tác là sự từng trải trong thời gian công tác.
là người có nhiều kinh nghiệm trong công việc có thể giải quyết công việc một cách hợp lý, khoa học, đem lại hiệu quả cao. Trình độ chuyên môn và kỹ năng xử lý công việc kết hợp với kinh nghiệm làm việc sẽ tạo được một sự bứt phá trong công việc. Có thể nói, tất cả những yếu tố thuộc về trí lực đều là những tài sản vô hình quan trọng của tổ chức, đơn vị và việc nâng cao trí lực hoàn toàn phụ thuộc vào tổ chức, đơn vị trong đó các nhà quản lý có vai trò quan trọng nhất.