Xây dựng cơ sở khoa học về kỹ thuật lâm sinh cho rừng VQG Chư Mom Ray, Kon Tum

Đề tài trình bày cơ sở khoa học và đề xuất hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi, phát triển rừng tự nhiên tại VQG Chư Mom Ray, Kon Tum.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

72
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.1.1. Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng

1.1.2. Về mô tả hình thái cấu trúc rừng

1.1.3. Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng

1.1.4. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính thân cây

1.1.5. Nghiên cứu tái sinh rừng

1.2. Nghiên cứu cấu trúc rừng

1.2.1. Phân bố số cây theo cỡ đường kính

1.2.2. Phân bố số cây theo cỡ chiều cao

1.2.3. Tương quan giữa chiều cao với đường kính

1.3. Nghiên cứu về tái sinh rừng

1.4. Thảo luận

2. Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1. Vị trí địa lý

2.1.2. Đặc điểm địa hình

2.1.3. Khí hậu

2.1.4. Thuỷ văn

2.2. Điều kiện kinh tế và xã hội

2.2.1. Dân cư

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HUỲNH VĂN CHUNG XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BIỆN PHÁP KỸ THUẬT LÂM SINH CHO RỪNG TỰ NHIÊN TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA CHƯ MOM RAY TỈNH KON TUM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Hà Tây, năm 2007 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HUỲNH VĂN CHUNG XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BIỆN PHÁP KỸ THUẬT LÂM SINH CHO RỪNG TỰ NHIÊN TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA CHƯ MOM RAY TỈNH KON TUM Chuyên ngành: LÂM HỌC Mã số: 60.60 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: GS -TS. Vũ Tiến Hinh Hà Tây, năm 2007 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên rừng không chỉ có giá trị kinh tế và môi trường mà còn có ý nghĩa xã hội. Rừng có khả năng cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường sống, bảo tồn nguồn gen, tạo cảnh quan, cung cấp nhiều lâm sản quý. Ngày nay, phát triển và xây dựng rừng không chỉ là nhiệm vụ của ngành Lâm nghiệp mà còn là một vấn đề có ý nghĩa quy mô toàn xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan điểm về mục tiêu sử dụng rừng ngày một đúng đắn hơn, các biện pháp kinh doanh rừng ngày càng hoàn thiện. Song, do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân nên diện tích rừng ngày càng suy giảm, một số loài cây quý hiếm có nguy cơ bị diệt vong, hệ sinh thái mất cân bằng nghiêm trọng, môi trường sống bị đe doạ. Rừng tự nhiên nước ta đã thể hiện những đặc trưng cơ bản của rừng mưa nhiệt đới, phần lớn là rừng thường xanh, kín tán, nhiều tầng, hỗn giao nhiều loài cây với các loài cây gỗ chiếm ưu thế, sinh trưởng và tái sinh liên tục. Nhưng, do sức ép của sự tăng dân số, nhu cầu của cuộc sống… nên sự tác động vào rừng ngày càng tăng. Chính vì vậy, rừng ngày càng bị suy giảm, diện tích rừng thu hẹp, tính đa dạng sinh học của rừng nghèo nàn, một số loài thực vật quy hiếm có nguy cơ bị diệt vong, khả năng cung cấp lâm sản và các lợi ích của rừng bị hạn chế. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có tiềm năng to lớn trong việc khôi phục và phát triển rừng theo hướng ổn định bền vững. Đó là những thuận lợi về điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng cho phục hồi hệ sinh thái có cấu trúc phức tạp, gồm nhiều loài cây, khác tuổi, nhiều tầng. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng một mô hình cấu trúc hợp lý nhằm phát triển vốn rừng, nâng cao tính đa dạng sinh học của rừng. Vườn quốc gia Chư Mom Ray được thành lập theo quyết định số 103/2002/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 07 năm 2002 có tổng diện tích tự nhiên 56771ha, trong đó diện tích đất có rừng là 36.03% rừng giàu và rừng trung bình), diện tích rừng nghèo là 8.113ha, diện tích không có rừng là 12. 2 Với điều kiện tự nhiên vốn có sẵn trong vùng, hệ thực vật hình thành hai kiểu rừng chính là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (dưới 1000m), rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp (trên 1000m) và 2 kiểu phụ thổ nhưỡng. Nhưng dưới tác động của con người đã làm cho chúng phân hóa thành nhiều sinh cảnh khác nhau, mà mỗi sinh cảnh đều có giá trị bảo tồn riêng của nó. Đây là hệ sinh thái rừng điển hình của vùng Bắc Tây Nguyên, nơi có tính đa dạng sinh học cao, có nhiều loài động thực vật quí hiếm được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Việc xây dựng cơ sở khoa học nhằm đề xuất phương hướng và biện pháp kỹ thuật lâm sinh phát triển rừng, nâng cao hiệu quả của rừng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Vì thế, tôi thực hiện đề tài “Xây dựng cơ sở khoa học đề xuất hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng tự nhiên tại vùng đệm Vườn quốc gia Chư Mom Ray tỉnh Kon Tum”. 3 Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về rừng tự nhiên đã được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Dưới đây xin đề cập một số nghiên cứu có liên quan nội dung của đề tài.1 Trên thế giới 1.1 Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng Sự phong phú của hệ thực vật rừng mưa nhiệt đới đã được nhiều nhà khoa quan tâm. Nổi bật nhất có nghiên cứu của ODUM (1971) 18 , Geogre Baur về sinh thái rừng mưa nhiệt đới. Các tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa rừng và các yếu tố hoàn cảnh của rừng. Hệ sinh thái rừng mưa rất phức tạp, ngoài việc tuân theo quy luật vận động chung nhất, bản thân từng nhân tố lại vận động theo qui luật riêng. Tác giả cho thấy, muốn ổn định hệ sinh thái rừng nhất thiết phải nắm vững các quy luật vận động đó, biết cách điều tiết hài hoà mối quan hệ trong sự phức tạp đó. Catinot (1965) 5 đã biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng những phẫu đồ ngang và đứng với các nhân tố cấu trúc được mô tả theo các khái niệm. Khi nghiên cứu tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục, Evans, J. (1984) xác định có tới 70-100 loài cây gỗ trên 1ha, nhưng hiếm có loài nào chiếm hơn 10% tổ thành loài.2 Về mô tả hình thái cấu trúc rừng Richards (1952) 21 đã phân biệt tổ thành thực vật rừng mưa thành hai loại rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản. Trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây. Những nghiên cứu về các lĩnh vực trên đã đặt nền móng cho các nghiên cứu ứng dụng sau này, tuy nhiên kết quả trên vẫn nặng về mô tả định tính. Rừng mưa nhiệt đới đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu như: Catinot R (1965) 5 , Plaudy 20. Các tác giả đã biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng các 4 phẫu diện đồ, các nhân tố cấu trúc sinh thái được mô tả phân loại theo các khái niệm: dạng sống, tầng phiến.3 Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng Nghiên cứu cấu trúc theo phương pháp định lượng bằng các mô hình toán học đã được nhiều nhà khoa học tiến hành. (1971), Balley (1973) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông. Meyer (1934) mô tả phân bố N/D1.3 bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer. Balley (1973) và nhiều tác giả khác dùng hàm Hyperbol, hàm Poisson, hàm Logarit chuẩn, họ đường cong Pearson, hàm Weibull. để mô hình hóa phân bố N/D1.Richards (1952), Rollet(1979) 21 và phần lớn các tác giả khi nghiên cứu cấu trúc lâm phần theo chiều thẳng đứng đã dựa vào phân bố số cây theo chiều cao. Phương pháp kinh điển nghiên cứu cấu trúc đứng rừng tự nhiên là vẽ các phẫu diện đồ đứng với các kích thước khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu.4 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính thân cây Tiurin D.V (1927) đã xác lập đường cong chiều cao cho các cấp tuổi khác nhau. Prodan (1965) và Dittmar.O cho rằng độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi lâm phần tăng lên.O (1967) đã mô phỏng quan hệ chiều cao (H) với đường kính (D) và tuổi (A) theo dạng phương trình logarith.V (1932) nghiên cứu tương quan giữa chiều cao với đường kính ngang ngực dựa trên cơ sở cấp đất và cấp tuổi. R (1971) cho rằng, để mô phỏng động thái đường cong chiều cao lâm phần, trước hết tìm phương trình thích hợp mô tả quan hệ Hvn với D1.3, sau đó xác lập mối quan hệ của các tham số theo tuổi.5 Nghiên cứu tái sinh rừng Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu lâm học, hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc 5 điểm phân bố. Vai trò của cây con là thay thế cây già cỗi, vì vậy hiểu theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Trên thế giới tái sinh rừng đã được nghiên cứu từ hàng trăm năm trước đây, nhưng đến năm 1930 mới bắt đầu nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới. Do đặc điểm của rừng nhiệt đới là thành phần loài phức tạp nên trong quá trình nghiên cứu hầu như các tác giả chỉ tập trung vào các loài cây gỗ quý có ý nghĩa nhất định.W Richards (1952) 21 , đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh. Bara (1954), Budowski (1956) nhận định, dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh này là cần thiết. Dawkins (1958) đã nhận xét “Dù cho kinh doanh được đưa vào như thế nào , điều suy xét đầu tiên về lâm sinh phải là tái sinh,…”. Như vậy có thể nói, cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng. Từ đó các nhà lâm học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh. Công trình của Bernard (1954, 1959), Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai, Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann. Nội dung từng phương thức được Baur (1964) 1 tổng kết trong tác phẩm của mình.N (1962) 1 đã nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên, nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên. Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy tầng cỏ và tầng cây bụi qua quá trình sinh trưởng thu nhận ánh sang, các chất dinh dưỡng sẽ làm ảnh hưởng đến cây tái sinh. Những lâm phần thưa, rừng đã bị khai thác nhiều, tạo ra nhiều khoảng trống lớn, tạo điều kiện cho cây bụi thảm tươi phát triển mạnh. Trong điều 6 kiện đó, chúng sẽ là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của cây tái sinh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ