BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HUỲNH VĂN CHUNG XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BIỆN PHÁP KỸ THUẬT LÂM SINH CHO RỪNG TỰ NHIÊN TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA CHƯ MOM RAY TỈNH KON TUM LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Hà Tây, năm 2007 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HUỲNH VĂN CHUNG XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG BIỆN PHÁP KỸ THUẬT LÂM SINH CHO RỪNG TỰ NHIÊN TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA CHƯ MOM RAY TỈNH KON TUM Chuyên ngành: LÂM HỌC Mã số: 60.60 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: GS -TS. Vũ Tiến Hinh Hà Tây, năm 2007 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên rừng không chỉ có giá trị kinh tế và môi trường mà còn có ý nghĩa xã hội. Rừng có khả năng cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường sống, bảo tồn nguồn gen, tạo cảnh quan, cung cấp nhiều lâm sản quý. Ngày nay, phát triển và xây dựng rừng không chỉ là nhiệm vụ của ngành Lâm nghiệp mà còn là một vấn đề có ý nghĩa quy mô toàn xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan điểm về mục tiêu sử dụng rừng ngày một đúng đắn hơn, các biện pháp kinh doanh rừng ngày càng hoàn thiện. Song, do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân nên diện tích rừng ngày càng suy giảm, một số loài cây quý hiếm có nguy cơ bị diệt vong, hệ sinh thái mất cân bằng nghiêm trọng, môi trường sống bị đe doạ. Rừng tự nhiên nước ta đã thể hiện những đặc trưng cơ bản của rừng mưa nhiệt đới, phần lớn là rừng thường xanh, kín tán, nhiều tầng, hỗn giao nhiều loài cây với các loài cây gỗ chiếm ưu thế, sinh trưởng và tái sinh liên tục. Nhưng, do sức ép của sự tăng dân số, nhu cầu của cuộc sống… nên sự tác động vào rừng ngày càng tăng. Chính vì vậy, rừng ngày càng bị suy giảm, diện tích rừng thu hẹp, tính đa dạng sinh học của rừng nghèo nàn, một số loài thực vật quy hiếm có nguy cơ bị diệt vong, khả năng cung cấp lâm sản và các lợi ích của rừng bị hạn chế. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có tiềm năng to lớn trong việc khôi phục và phát triển rừng theo hướng ổn định bền vững. Đó là những thuận lợi về điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng cho phục hồi hệ sinh thái có cấu trúc phức tạp, gồm nhiều loài cây, khác tuổi, nhiều tầng. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng một mô hình cấu trúc hợp lý nhằm phát triển vốn rừng, nâng cao tính đa dạng sinh học của rừng. Vườn quốc gia Chư Mom Ray được thành lập theo quyết định số 103/2002/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 07 năm 2002 có tổng diện tích tự nhiên 56771ha, trong đó diện tích đất có rừng là 36.03% rừng giàu và rừng trung bình), diện tích rừng nghèo là 8.113ha, diện tích không có rừng là 12. 2 Với điều kiện tự nhiên vốn có sẵn trong vùng, hệ thực vật hình thành hai kiểu rừng chính là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (dưới 1000m), rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp (trên 1000m) và 2 kiểu phụ thổ nhưỡng. Nhưng dưới tác động của con người đã làm cho chúng phân hóa thành nhiều sinh cảnh khác nhau, mà mỗi sinh cảnh đều có giá trị bảo tồn riêng của nó. Đây là hệ sinh thái rừng điển hình của vùng Bắc Tây Nguyên, nơi có tính đa dạng sinh học cao, có nhiều loài động thực vật quí hiếm được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Việc xây dựng cơ sở khoa học nhằm đề xuất phương hướng và biện pháp kỹ thuật lâm sinh phát triển rừng, nâng cao hiệu quả của rừng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Vì thế, tôi thực hiện đề tài “Xây dựng cơ sở khoa học đề xuất hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng tự nhiên tại vùng đệm Vườn quốc gia Chư Mom Ray tỉnh Kon Tum”. 3 Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về rừng tự nhiên đã được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Dưới đây xin đề cập một số nghiên cứu có liên quan nội dung của đề tài.1 Trên thế giới 1.1 Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng Sự phong phú của hệ thực vật rừng mưa nhiệt đới đã được nhiều nhà khoa quan tâm. Nổi bật nhất có nghiên cứu của ODUM (1971) 18 , Geogre Baur về sinh thái rừng mưa nhiệt đới. Các tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa rừng và các yếu tố hoàn cảnh của rừng. Hệ sinh thái rừng mưa rất phức tạp, ngoài việc tuân theo quy luật vận động chung nhất, bản thân từng nhân tố lại vận động theo qui luật riêng. Tác giả cho thấy, muốn ổn định hệ sinh thái rừng nhất thiết phải nắm vững các quy luật vận động đó, biết cách điều tiết hài hoà mối quan hệ trong sự phức tạp đó. Catinot (1965) 5 đã biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng những phẫu đồ ngang và đứng với các nhân tố cấu trúc được mô tả theo các khái niệm. Khi nghiên cứu tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục, Evans, J. (1984) xác định có tới 70-100 loài cây gỗ trên 1ha, nhưng hiếm có loài nào chiếm hơn 10% tổ thành loài.2 Về mô tả hình thái cấu trúc rừng Richards (1952) 21 đã phân biệt tổ thành thực vật rừng mưa thành hai loại rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản. Trong những lập địa đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây. Những nghiên cứu về các lĩnh vực trên đã đặt nền móng cho các nghiên cứu ứng dụng sau này, tuy nhiên kết quả trên vẫn nặng về mô tả định tính. Rừng mưa nhiệt đới đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu như: Catinot R (1965) 5 , Plaudy 20. Các tác giả đã biểu diễn hình thái cấu trúc rừng bằng các 4 phẫu diện đồ, các nhân tố cấu trúc sinh thái được mô tả phân loại theo các khái niệm: dạng sống, tầng phiến.3 Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng Nghiên cứu cấu trúc theo phương pháp định lượng bằng các mô hình toán học đã được nhiều nhà khoa học tiến hành. (1971), Balley (1973) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông. Meyer (1934) mô tả phân bố N/D1.3 bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer hay hàm Meyer. Balley (1973) và nhiều tác giả khác dùng hàm Hyperbol, hàm Poisson, hàm Logarit chuẩn, họ đường cong Pearson, hàm Weibull. để mô hình hóa phân bố N/D1.Richards (1952), Rollet(1979) 21 và phần lớn các tác giả khi nghiên cứu cấu trúc lâm phần theo chiều thẳng đứng đã dựa vào phân bố số cây theo chiều cao. Phương pháp kinh điển nghiên cứu cấu trúc đứng rừng tự nhiên là vẽ các phẫu diện đồ đứng với các kích thước khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu.4 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính thân cây Tiurin D.V (1927) đã xác lập đường cong chiều cao cho các cấp tuổi khác nhau. Prodan (1965) và Dittmar.O cho rằng độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi lâm phần tăng lên.O (1967) đã mô phỏng quan hệ chiều cao (H) với đường kính (D) và tuổi (A) theo dạng phương trình logarith.V (1932) nghiên cứu tương quan giữa chiều cao với đường kính ngang ngực dựa trên cơ sở cấp đất và cấp tuổi. R (1971) cho rằng, để mô phỏng động thái đường cong chiều cao lâm phần, trước hết tìm phương trình thích hợp mô tả quan hệ Hvn với D1.3, sau đó xác lập mối quan hệ của các tham số theo tuổi.5 Nghiên cứu tái sinh rừng Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu lâm học, hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc 5 điểm phân bố. Vai trò của cây con là thay thế cây già cỗi, vì vậy hiểu theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Trên thế giới tái sinh rừng đã được nghiên cứu từ hàng trăm năm trước đây, nhưng đến năm 1930 mới bắt đầu nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới. Do đặc điểm của rừng nhiệt đới là thành phần loài phức tạp nên trong quá trình nghiên cứu hầu như các tác giả chỉ tập trung vào các loài cây gỗ quý có ý nghĩa nhất định.W Richards (1952) 21 , đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh. Bara (1954), Budowski (1956) nhận định, dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh này là cần thiết. Dawkins (1958) đã nhận xét “Dù cho kinh doanh được đưa vào như thế nào , điều suy xét đầu tiên về lâm sinh phải là tái sinh,…”. Như vậy có thể nói, cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng. Từ đó các nhà lâm học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh. Công trình của Bernard (1954, 1959), Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai, Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann. Nội dung từng phương thức được Baur (1964) 1 tổng kết trong tác phẩm của mình.N (1962) 1 đã nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên, nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên. Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy tầng cỏ và tầng cây bụi qua quá trình sinh trưởng thu nhận ánh sang, các chất dinh dưỡng sẽ làm ảnh hưởng đến cây tái sinh. Những lâm phần thưa, rừng đã bị khai thác nhiều, tạo ra nhiều khoảng trống lớn, tạo điều kiện cho cây bụi thảm tươi phát triển mạnh. Trong điều 6 kiện đó, chúng sẽ là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của cây tái sinh.
Xây dựng cơ sở khoa học về kỹ thuật lâm sinh cho rừng VQG Chư Mom Ray, Kon Tum
Đề tài trình bày cơ sở khoa học và đề xuất hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi, phát triển rừng tự nhiên tại VQG Chư Mom Ray, Kon Tum.
Trường đại học
Trường Đại học Lâm nghiệpChuyên ngành
Lâm họcNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Luận văn thạc sĩ2007
Phí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. VQG Chư Mom Ray Tổng quan tầm quan trọng biện pháp lâm sinh
Vườn quốc gia (VQG) Chư Mom Ray, tọa lạc tại tỉnh Kon Tum, là một khu bảo tồn thiên nhiên độc đáo, nơi hội tụ các luồng di cư động thực vật và là hệ sinh thái rừng điển hình của khu vực Bắc Tây Nguyên. Theo quyết định số 103/2002/QĐ-TTg, VQG có tổng diện tích tự nhiên 56.771 ha, trong đó diện tích đất có rừng chiếm tỷ lệ cao, nhưng chất lượng rừng không đồng đều. Nghiên cứu của Huỳnh Văn Chung (2007) chỉ ra rằng, dù sở hữu tính đa dạng sinh học cao, rừng tự nhiên tại đây, đặc biệt là ở vùng đệm, đang đối mặt với nhiều thách thức do tác động của con người. Do đó, việc áp dụng các biện pháp lâm sinh cho rừng tự nhiên VQG Chư Mom Ray không chỉ là một nhiệm vụ cấp thiết mà còn là cơ sở khoa học để quản lý rừng bền vững. Các biện pháp này hướng tới mục tiêu chính là phục hồi hệ sinh thái rừng, nâng cao chất lượng lâm phần, và bảo tồn đa dạng sinh học. Chúng bao gồm một hệ thống các tác động kỹ thuật từ khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên đến làm giàu rừng bằng các loài cây gỗ lớn, cây quý hiếm. Việc xây dựng một mô hình cấu trúc rừng hợp lý, thông qua các biện pháp lâm sinh, sẽ giúp phát huy tối đa tiềm năng của điều kiện lập địa, đảm bảo tính ổn định của hệ sinh thái và nâng cao giá trị phòng hộ đầu nguồn cho hệ thống sông Sê San. Các giải pháp này không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh thái mà còn góp phần ổn định sinh kế cho cộng đồng địa phương, giảm áp lực khai thác lên vùng lõi, tạo tiền đề cho sự phát triển hài hòa giữa con người và thiên nhiên tại hệ sinh thái Tây Nguyên.
1.1. Đặc điểm hệ sinh thái rừng tự nhiên VQG Chư Mom Ray
VQG Chư Mom Ray sở hữu một hệ sinh thái vô cùng đa dạng, được hình thành bởi địa hình phức tạp với các đai cao từ 200m đến 1.773m. Theo tài liệu nghiên cứu, khu vực này có tới 7 kiểu rừng chủ yếu, bao gồm: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới, rừng kín nửa rụng lá, rừng thưa cây lá rộng, và các kiểu phụ thứ sinh nhân tác. Sự đa dạng về kiểu rừng này tạo điều kiện cho sự tồn tại của 1.440 loài thực vật và 352 loài động vật có xương sống ở cạn, nhiều loài trong số đó là loài quý hiếm. Tuy nhiên, các trạng thái rừng hiện tại chủ yếu là rừng phục hồi sau khai thác (IIB, IIIA1, IIIA2, IIIA3), cho thấy sự tác động tiêu cực trong quá khứ. Việc hiểu rõ đặc điểm của từng trạng thái rừng là nền tảng để đề xuất các biện pháp lâm sinh phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng rừng và phục hồi cấu trúc nguyên bản của hệ sinh thái Tây Nguyên.
1.2. Vai trò cốt lõi của kỹ thuật lâm sinh trong bảo tồn
Kỹ thuật lâm sinh đóng vai trò trung tâm trong nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý rừng bền vững tại VQG Chư Mom Ray. Thay vì để rừng tự phục hồi một cách bị động và chậm chạp, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh chủ động can thiệp để đẩy nhanh quá trình, định hướng cấu trúc rừng theo mục tiêu mong muốn. Cụ thể, các biện pháp này giúp giải quyết các vấn đề như cấu trúc tầng tán bị phá vỡ, sự xâm lấn của dây leo, và mật độ cây tái sinh có giá trị kinh tế thấp. Thông qua các hoạt động như phát quang dây leo, giải phóng cây tái sinh mục tiêu, và trồng bổ sung cây bản địa, chất lượng lâm phần được cải thiện rõ rệt, tăng độ tàn che và tạo môi trường sống thuận lợi cho các loài động thực vật hoang dã. Đây là cách tiếp cận khoa học, biến những khu rừng suy thoái thành những hệ sinh thái ổn định, giàu sức sống và bền vững.
II. Thách thức trong quản lý rừng VQG Chư Mom Ray Suy thoái
Rừng tự nhiên tại vùng đệm VQG Chư Mom Ray đang đối mặt với tình trạng giảm suy thoái rừng ở mức độ đáng báo động. Sức ép từ sự gia tăng dân số và nhu cầu sinh kế của cộng đồng địa phương dẫn đến các hoạt động khai thác lâm sản trái phép, nương rẫy, và săn bắt động vật hoang dã. Luận văn của Huỳnh Văn Chung (2007) đã chỉ rõ, các tác động này làm phá vỡ cấu trúc vốn có của rừng, biến những khu rừng giàu thành rừng nghèo, rừng phục hồi. Cụ thể, các trạng thái rừng IIIA1, IIIA2, IIIA3 chiếm diện tích lớn, đặc trưng bởi độ tàn che thấp, tầng rừng chính bị suy giảm, và sự xâm lấn của cây bụi, dây leo. Cấu trúc tổ thành loài cây cũng thay đổi theo hướng tiêu cực, với sự gia tăng của các loài tiên phong ưa sáng, giá trị kinh tế thấp và sự sụt giảm của các loài cây gỗ lớn, cây quý hiếm. Một thách thức lớn khác là công tác phòng chống cháy rừng (PCCCR), đặc biệt vào mùa khô kéo dài của Tây Nguyên. Hệ thống giao thông dù được cải thiện nhưng cũng tạo điều kiện cho các hoạt động xâm hại rừng diễn ra nhanh chóng và khó kiểm soát hơn. Việc thiếu các biện pháp lâm sinh cho rừng tự nhiên VQG Chư Mom Ray được áp dụng một cách hệ thống và khoa học đã khiến quá trình phục hồi diễn ra chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách về bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường.
2.1. Tác động của con người và suy giảm đa dạng sinh học
Hoạt động của con người là nguyên nhân chính gây ra tình trạng giảm suy thoái rừng. Đời sống của đại bộ phận dân cư vùng đệm còn phụ thuộc vào tài nguyên rừng, từ củi đốt, vật liệu xây dựng đến các loại lâm sản ngoài gỗ. Việc khai thác không bền vững, đặc biệt là khai thác kiệt các loài cây có giá trị cao, đã làm nghèo nàn tổ thành loài. Nghiên cứu cho thấy, tại các trạng thái rừng bị tác động mạnh như IIIA1, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoàn toàn, cây gỗ chất lượng tốt gần như không còn. Sự suy giảm thảm thực vật kéo theo sự mất mát môi trường sống của các loài động vật, đe dọa nghiêm trọng đến nỗ lực bảo tồn đa dạng sinh học tại một trong những khu vực quan trọng của hệ sinh thái Tây Nguyên.
2.2. Hiện trạng các trạng thái rừng IIB IIIA1 IIIA2 IIIA3
Phân loại trạng thái rừng theo Loeschau, được áp dụng trong nghiên cứu tại VQG Chư Mom Ray, cho thấy một bức tranh rõ nét về mức độ suy thoái. Trạng thái IIB là rừng non phục hồi sau khai thác, có cấu trúc phức tạp nhưng trữ lượng không đáng kể. Trạng thái IIIA1 là rừng bị khai thác kiệt, tán rừng có nhiều lỗ trống, dây leo bụi rậm phát triển mạnh, tổng tiết diện ngang (G/ha) và trữ lượng (M/ha) rất thấp. Trạng thái IIIA2 đã có thời gian phục hồi nhưng cấu trúc vẫn chưa ổn định. Trạng thái IIIA3 có quần thụ tương đối khép kín hơn nhưng tổ thành loài cây có giá trị kinh tế và sinh thái chưa cao. Thực trạng này đòi hỏi phải có các biện pháp lâm sinh chuyên biệt cho từng trạng thái để nâng cao chất lượng rừng hiệu quả.
III. Top biện pháp lâm sinh phục hồi rừng Tái sinh tự nhiên
Một trong những biện pháp lâm sinh cho rừng tự nhiên VQG Chư Mom Ray hiệu quả và ít tốn kém nhất là khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên. Phương pháp này tận dụng khả năng phục hồi vốn có của hệ sinh thái rừng nhiệt đới, đặc biệt phù hợp với các trạng thái rừng đã bị tác động nhưng vẫn còn nguồn giống tại chỗ (cây mẹ, hạt giống trong đất). Mục tiêu của khoanh nuôi là bảo vệ khu vực rừng khỏi các tác động tiêu cực như chăn thả gia súc, khai thác trái phép và lửa rừng, đồng thời áp dụng các tác động kỹ thuật để tạo điều kiện thuận lợi cho cây tái sinh mục tiêu phát triển. Các hoạt động chính bao gồm việc phát dọn dây leo, cây bụi xâm lấn cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng với cây con. Nghiên cứu của Vũ Tiến Hinh (1991), được trích dẫn trong tài liệu, đã nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa cây tái sinh và tầng cây cao, cho thấy việc bảo vệ và nuôi dưỡng lớp cây tái sinh là chìa khóa để phục hồi hệ sinh thái rừng. Biện pháp này không chỉ giúp tăng độ tàn che một cách tự nhiên mà còn duy trì được cấu trúc đa tầng, đa loài đặc trưng của rừng tự nhiên. Đặc biệt, việc quản lý cây dây leo xâm lấn được xem là một trong những khâu quan trọng nhất, quyết định sự thành công của quá trình xúc tiến tái sinh.
3.1. Kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên hiệu quả
Kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên bao gồm các bước cụ thể. Đầu tiên là xác định và khoanh vùng các khu vực có tiềm năng tái sinh tốt, tức là có mật độ cây tái sinh mục tiêu (các loài cây gỗ bản địa, giá trị cao) đạt tiêu chuẩn. Tiếp theo, tiến hành các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt. Sau đó, áp dụng các tác động lâm sinh như chặt bỏ những cây phi mục đích, cây cong queo, sâu bệnh để mở sáng cho lớp cây tái sinh bên dưới. Đồng thời, giải phóng cây tái sinh mục tiêu khỏi sự chèn ép của dây leo, bụi rậm. Tần suất và cường độ tác động cần được tính toán kỹ lưỡng dựa trên trạng thái rừng cụ thể để tránh gây xáo trộn tiêu cực đến môi trường đất và vi khí hậu, đảm bảo mục tiêu nâng cao chất lượng rừng.
3.2. Quản lý cây dây leo xâm lấn và cây bụi thảm tươi
Tại các trạng thái rừng suy thoái như IIIA1 và IIIA2 ở VQG Chư Mom Ray Kon Tum, cây dây leo và bụi rậm phát triển mạnh mẽ, tạo thành một lớp phủ dày đặc, cản trở ánh sáng và cạnh tranh không gian, dinh dưỡng với cây gỗ tái sinh. Việc quản lý cây dây leo xâm lấn là biện pháp ưu tiên hàng đầu. Kỹ thuật phổ biến là chặt đứt gốc dây leo, loại bỏ các loài cây bụi không có giá trị để tạo khoảng trống cho cây con vươn lên. Theo nghiên cứu, những lâm phần thưa, bị khai thác nhiều tạo điều kiện cho cây bụi thảm tươi phát triển mạnh, là nhân tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của cây tái sinh. Việc kiểm soát hiệu quả các yếu tố này sẽ thúc đẩy quá trình phục hồi hệ sinh thái rừng một cách đáng kể.
IV. Phương pháp làm giàu rừng trồng bổ sung cây gỗ lớn quý hiếm
Bên cạnh việc xúc tiến tái sinh tự nhiên, làm giàu rừng là một biện pháp lâm sinh cho rừng tự nhiên VQG Chư Mom Ray mang tính chủ động và hiệu quả cao, đặc biệt áp dụng cho những khu rừng nghèo kiệt, thiếu vắng cây mẹ hoặc các loài cây mục tiêu. Biện pháp này bao gồm việc trồng bổ sung cây bản địa có giá trị kinh tế và sinh thái cao vào các khoảng trống trong rừng hoặc trồng theo băng, theo đám. Mục tiêu chính là cải thiện tổ thành loài, nâng cao chất lượng rừng, và đẩy nhanh việc phục hồi cấu trúc của một lâm phần ổn định. Việc lựa chọn loài cây để trồng bổ sung là yếu tố quyết định thành công. Ưu tiên hàng đầu là các loài cây gỗ lớn, cây quý hiếm có nguồn gốc bản địa, đã được chứng minh là thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của hệ sinh thái Tây Nguyên, ví dụ như các loài thuộc họ Dầu, họ Đậu. Quá trình này không chỉ giúp tăng độ tàn che mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt là bảo tồn nguồn gen của các loài thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng. Việc kết hợp hài hòa giữa làm giàu rừng và khoanh nuôi tái sinh sẽ tạo ra một mô hình quản lý rừng bền vững, tối ưu hóa cả hiệu quả kinh tế lẫn giá trị môi trường.
4.1. Lựa chọn và trồng bổ sung cây bản địa phù hợp
Việc trồng bổ sung cây bản địa đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc tính sinh thái của từng loài. Các loài cây được chọn phải phù hợp với điều kiện lập địa (độ cao, độ dốc, loại đất), có khả năng chịu bóng nhất định ở giai đoạn đầu và sinh trưởng tốt khi tán rừng được mở. Trong bối cảnh của VQG Chư Mom Ray, các loài như Ươi, Trâm, Bằng lăng, Chiêu liêu nghệ, vốn là những loài có chỉ số IV% (chỉ số quan trọng) cao trong các trạng thái rừng tự nhiên, là những ứng viên sáng giá. Việc trồng cây bổ sung cần được thực hiện theo quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt, từ khâu sản xuất cây con chất lượng đến kỹ thuật trồng và chăm sóc sau trồng, nhằm đảm bảo tỷ lệ sống và sinh trưởng cao nhất.
4.2. Mục tiêu nâng cao chất lượng rừng và tăng độ tàn che
Mục tiêu cuối cùng của các biện pháp làm giàu rừng là nâng cao chất lượng rừng và tăng độ tàn che. Một lâm phần chất lượng cao không chỉ được đo bằng trữ lượng gỗ mà còn bởi cấu trúc tầng tán hợp lý, tổ thành loài phong phú, và khả năng chống chịu tốt trước các biến đổi của môi trường. Bằng cách đưa các loài cây gỗ lớn, cây quý hiếm trở lại hệ sinh thái, độ tàn che của rừng sẽ nhanh chóng được khép kín. Điều này giúp cải thiện vi khí hậu trong rừng, giữ ẩm cho đất, hạn chế xói mòn và ngăn chặn sự phát triển của các loài cỏ dại, cây bụi ưa sáng, tạo điều kiện cho một chu trình phục hồi hệ sinh thái rừng toàn diện và bền vững.
V. Hướng dẫn quản lý rừng bền vững tại VQG Chư Mom Ray
Để đảm bảo hiệu quả lâu dài của các biện pháp lâm sinh cho rừng tự nhiên VQG Chư Mom Ray, cần xây dựng một chiến lược quản lý rừng bền vững toàn diện. Chiến lược này phải dựa trên cơ sở khoa học vững chắc, kết hợp giữa bảo tồn và phát triển, đồng thời có sự tham gia tích cực của các bên liên quan. Một yếu tố cốt lõi là việc giám sát và đánh giá định kỳ hiệu quả của các biện pháp đã áp dụng. Dựa trên các kết quả nghiên cứu về cấu trúc rừng, như phân bố số cây theo đường kính (N/D) và chiều cao (N/H), các nhà quản lý có thể xây dựng mô hình cấu trúc rừng lý tưởng cho từng trạng thái và điều chỉnh các tác động lâm sinh cho phù hợp. Đặc biệt, sự tham gia của cộng đồng địa phương là không thể thiếu. Việc giao khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ phát triển các mô hình nông lâm kết hợp, và khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ sẽ giúp người dân cải thiện sinh kế, từ đó giảm áp lực lên tài nguyên rừng. Theo báo cáo, Ban quản lý VQG đã tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, góp phần nâng cao thu nhập và gắn sinh kế của người dân với hoạt động của VQG. Đây là hướng đi đúng đắn, hài hòa giữa mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế-xã hội tại VQG Chư Mom Ray Kon Tum.
5.1. Tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng địa phương
Sự tham gia của cộng đồng là trụ cột của quản lý rừng bền vững. Người dân địa phương, với kiến thức bản địa và sự gắn bó với rừng, là lực lượng tại chỗ quan trọng nhất trong việc tuần tra, bảo vệ và phát hiện sớm các hành vi xâm hại rừng cũng như nguy cơ cháy rừng. Việc xây dựng các ban lâm nghiệp xã và tổ đội quần chúng bảo vệ rừng đã được chứng minh là rất hiệu quả tại Chư Mom Ray. Để khuyến khích sự tham gia này, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, minh bạch, đảm bảo người dân nhận được những lợi ích thiết thực từ việc bảo vệ rừng, qua đó nâng cao ý thức và trách nhiệm của họ.
5.2. Phát triển lâm sản ngoài gỗ như một giải pháp sinh kế
Việc phát triển lâm sản ngoài gỗ (LSNG) một cách bền vững là giải pháp thông minh để giảm áp lực khai thác gỗ. VQG Chư Mom Ray có tiềm năng lớn về các loại LSNG như cây dược liệu, hạt ươi, mây tre, song... Cần có quy hoạch và hướng dẫn kỹ thuật cho người dân trong việc thu hái, trồng và chế biến các sản phẩm này để không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên. Phát triển LSNG không chỉ tạo thêm thu nhập, ổn định cuộc sống cho cộng đồng vùng đệm mà còn giúp họ nhận thấy giá trị kinh tế của một khu rừng còn nguyên vẹn, từ đó tích cực hơn trong công tác bảo tồn, góp phần vào mục tiêu giảm suy thoái rừng.
TÀI LIỆU LIÊN QUAN
Bạn đang xem trước tài liệu:
Xây dưng cơ sở khoa học đề suất hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng tự nhiên tại vùng đệm vườn quốc gia chư mom ray tỉnh kon tum
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: Huỳnh Văn Chung
Người hướng dẫn: GS-TS. Vũ Tiến Hinh
Trường học: Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành: Lâm học
Đề tài: Xây dựng cơ sở khoa học đề xuất hệ thống biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho rừng tự nhiên tại vùng đệm Vườn quốc gia Chư Mom Ray tỉnh Kon Tum
Loại tài liệu: Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản: 2007
Địa điểm: Hà Tây
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ