CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI ĐỊA PHƯƠNG 1. Tổng quan về công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước 1. Quản lý ngân sách nhà nước Quản lý nhà nước đối với NSNN là quá trình tác động của Nhà nước đến các mối quan hệ của NSNN, nhằm hướng NSNN tác động vào các hoạt động trong đời sống KT – XH phục vụ cho mục tiêu, chiến lược, kế hoạch phát triển KT – XH trong từng thời kỳ nhất định. Đồng thời là quá trình sử dụng NSNN như là công cụ để quản lý và điều hành nền kinh tế, hướng các quan hệ kinh tế phát triển theo định hướng của Nhà nước.
[4] Quản lý nhà nước về NSNN là làm cho các hoạt động của NSNN theo đúng pháp luật của Nhà nước, mặt khác kích thích kinh tế phát triển, tạo lập, bồi dưỡng nguồn thu cho ngân sách và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các khoản chi ngân sách, bảo đảm sự cân đối tích cực thu - chi ngân sách, giảm bội chi ngân sách. Mục tiêu tổng quát trong quản lý và sử dụng ngân sách là phải tạo sự cân đối tích cực, ổn định NSNN tạo môi trường tài chính thuận lợi cho sự ổn định và phát triển, nâng cao hiệu quả của NSNN thực hiện mục tiêu chiến lược KT – XH trong từng thời kỳ. [4] Nhà nước là chủ thể quản lý; các quan hệ, các bộ phận của ngân sách là đối tượng, khách thể quản lý. Vai trò quản lý của Nhà nước đối với NSNN là một tất yếu bởi vì: Thứ nhất, NSNN thể hiện bản chất của Nhà nước, của chế độ và phục vụ Nhà nước, tác động đến mọi mặt hoạt động đời sống xã hội, SXKD, là công cụ của Nhà nước để kích thích kinh tế phát triển, có vai trò chi phối toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia, là bộ phận quan trọng nhất trong chính sách tài chính quốc gia.
[4] Thứ hai, xuất phát từ vai trò tài chính công, NSNN là công cụ quan trọng trong quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng. Nhà nước định ra Luật NSNN, Luật thuế và các luật liên quan, các chính sách ưu đãi 5 đầu tư, khuyến khích đầu tư, chính sách xã hội, nguồn chi từ NSNN là rất lớn tác động đến nền kinh tế, đồng thời thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực mang lại hiệu quả. [4] Thứ ba, các vấn đề liên quan đến NSNN ở tầm vĩ mô chỉ có Nhà nước mới có khả năng chi phối, quy định thực hiện, tác động mọi mặt hoạt động trong đời sống KT – XH. Quản lý vừa mang tính bắt buộc vừa tạo điều kiện cho các hoạt động trong nền kinh tế phát triển.
[4] Như vậy, có thể hiểu: Quản lý NSNN là sự tác động của Nhà nước vào hoạt động của các đối tượng sử dụng quỹ NSNN bằng các công cụ quản lý vĩ mô của mình để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. [4] Quản lý NSNN ảnh hưởng đến nhiều đối tượng, nhiều cấp chính quyền. Do vậy các nguyên tắc quản lý NSNN cũng như cơ chế chính sách trong quản lý NSNN cần được nghiên cứu nghiêm túc, khoa học, dân chủ và xem xét trong các mối quan hệ thì khi thực hiện quản lý NSNN mới mang lại hiệu quả cao. Khái niệm thu chi ngân sách nhà nước “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
[14] *Khái niệm thu ngân sách: - Về mặt pháp lý, thu ngân sách nhà nước bao gồm những khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách nhà nước để thoả mãn nhu cầu chi tiêu của nhà nước. - Về thực chất, thu ngân sách nhà nước chỉ bao gồm những khoản tiền được huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Phần lớn các khoản thu ngân sách nhà nước đều mang tính chất cưỡng bức, phần còn lại là các nguồn thu khác của nhà nước (thu ngoài thuế). 6 Theo đó, “Thu ngân sách nhà nước là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thoả mãn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước”.
[2] “Về cơ cấu thu NSNN tại Việt Nam, theo Luật ngân sách nhà nước ban hành ngày 20/03/1996 và sửa đổi ban hành năm 2002, thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam bao gồm: (1) Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức cá nhân nộp theo quy định của pháp luật, (2) Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, (3) Thu từ hoạt động sự nghiệp, (4) Thu hồi quỹ dự trữ nhà nước, (5) Tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và đất công ích, (6) Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở, (7) Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước, (8) Các khoản di sản nhà nước được hưởng, (9) Thu kết dư ngân sách năm trước, (10) Tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước tại các đơn vị hành chính sự nghiệp, (11) Các khoản tiền phạt, tịch thu, (12) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, (13) Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền, bằng hiện vật của chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, (14) Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của chính phủ để bù đắp bội chi và khoản huy động vốn đầu tư trong nước của phường, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là phường) được đưa vào cân đối ngân sách”. [12] *Khái niệm chi ngân sách: 7 “Chi NSNN là hoạt động phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo những trình tự và thủ tục luật định, trên cơ sở dự toán chi NSNN đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.”[3] Phạm vi chi NSNN rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng. Có thể nói, chi NSNN là cung cấp nguồn lực chủ yếu để tạo ra hàng hoá dịch vụ công nhằm giải quyết những vấn đề quan trọng mà khu vực tư nhân không muốn làm hoặc không có khả năng làm được vì không đạt mục tiêu hiệu quả họ mong muốn, hoặc không có khả năng thu hồi chi phí. Đặc điểm chi NSNN thông qua các hoạt động của Nhà nước.
Đó là: - “Chi NSNN đảm bảo hoạt động bộ máy nhà nước, hình thành khuôn khổ luật pháp, cung cấp những dịch vụ hành chính pháp lý, đây là những hoạt động quan trọng giúp xã hội có thể tồn tại và phát triển. Mặc dù chức năng tiên quyết của NSNN là duy trì hoạt động bộ máy nhà nước - là tiền đề quan trọng nhất song tỷ trọng của nhiệm vụ chi này lại chỉ chiếm một phần nhỏ trong chi NSNN thực tế. Không một hãng tư nhân nào có thể làm được thay Nhà nước những công việc trên bởi chỉ có Nhà nước mới có quyền năng để làm điều đó và như vậy, chỉ có thể dùng NSNN để đảm bảo cho những hoạt động đó. - “Chi NSNN sản xuất hàng hoá dịch vụ cá nhân.
Quan điểm của nhiều quốc gia về vấn đề này không giống nhau. Ở một số nước Nhà nước có vai trò hạn chế, song ở một số nước Nhà nước can thiệp vào nhiều lĩnh vực kinh tế tư nhân. Cơ sở để Nhà nước trực tiếp tham gia vào lĩnh vực sản xuất hàng hoá dịch vụ cá nhân xuất phát từ Nhà nước coi ngành, lĩnh vực đó có quan trọng đến mức phải nắm không; một số ngành tư nhân không muốn làm vì không có hiệu quả”. [3] Nhà nước buộc phải làm, hoặc một số lĩnh vực Nhà nước muốn làm vì thấy rằng lĩnh vực đó có thể mang lại hiệu quả.
Tuy nhiên, xu hướng trong 8 nền kinh tế thị trường thì Nhà nước ít tham gia với tư cách là người cung cấp NSNN để hỗ trợ hoặc trực tiếp tham gia sản xuất hàng hoá dịch vụ cá nhân. Thông qua công cụ chi ngân sách, Nhà nước trợ cấp hoặc gây ảnh hưởng đối với thị trường tài chính như thị trường chứng khoán, bảo hiểm, tín dụng; thông qua các cơ quan điều hành để đảm bảo hoạt động của các lĩnh vực này và đảm bảo quyền lợi hạn chế rủi ro cho mọi công dân. - “Chi NSNN cung cấp hàng hoá dịch vụ công cộng như đầu tư xây dựng hệ thống đường cao tốc, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, quốc phòng, bảo vệ trật tự xã hội. Thể hiện ở hai góc độ: (1) Có thể những dịch vụ công đó do cơ quan nhà nước làm ra và Nhà nước chi tiền cho các cơ quan đó như là người mua hàng hoá dịch vụ.
(2) Những dịch vụ công này do tư nhân làm và Chính phủ mua lại. Việc mua đó là để cung cấp cho những cá nhân không đủ tiền mua, thể hiện sự ưu đãi của Chính phủ nhằm khắc phục khiếm khuyết của cơ chế thị trường trong phân hoá giàu nghèo; hoặc Chính phủ mua để cung cấp cho các cá nhân khi các hãng tư nhân không làm được vì không thu hồi trực tiếp được vốn”.[13] Trong trường hợp này Chính phủ thu hồi qua những hình thức gián tiếp như thuế. Đặc điểm này thể hiện vai trò to lớn của Chính phủ đối với mọi lĩnh vực đời sống xã hội và mọi cá nhân, tỷ trọng khoản chi này rất lớn trong tổng chi tiêu của NSNN. Đặc điểm của ngân sách nhà nước Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về NSNN thông qua các đặc điểm của nó.
Đó là: - Các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN gắn chặt với quyền lực kinh tế, chính trị và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước. Quyền lực của Nhà nước và các chức năng của nó là những nhân tố quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu chi của NSNN. - “Các hoạt động thu chi NSNN đều được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. Đó là các luật thuế, các chế độ thu, chế độ chi tiêu, tiêu 9 chuẩn định mức chi tiêu.
Nhà nước ban hành.