CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CÔNG TÁC TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Khái niệm về ngân hàng Chính sách xã hội Ngân hàng Chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng Nhà nước hoạt động vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo không vì mục đích lợi nhuận; thực hiện bảo tồn vốn ban đầu, phát triển vốn và đảm bảo bù đắp các chi phí rủi ro hoạt động tín dụng; là đơn vị tự chủ về tài chính, hạch toán tập trung toàn hệ thống; tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật. Để có thể thực hiện cho vay các đối tượng chính sách theo lãi suất ưu đãi của Chính phủ, NHCSXH được áp dụng cơ chế tài chính riêng như: NHCSXH được miễn thuế và các khoản phải nộp Ngân sách nhà nước; có tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại NHNN bằng 0%; không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi. Theo những quy định trên đây thì NHCSXH được hưởng một số chế độ ưu đãi, trên cơ sở đó hạ lãi suất cho vay, nhưng thực hiện chế độ hạch toán kinh tế và tự chịu trách nhiệm về mặt tài chính.
NHCSXH trả phí dịch vụ cho đơn vị nhận làm dịch vụ uỷ thác theo sự thoả thuận của hai bên trên cơ sở định mức do Nhà nước quy định, trong thực tế NHNo&PTNT là người chịu trách nhiệm chính trong tổ chức điều hành tác nghiệp khi NHNg chưa hoàn toàn tách khỏi NHNo&PTNT như hiện nay. Trong thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính của NHCSXH tương đối đơn giản. Bảng tổng kết tài sản của NHCSXH trước đây không phản ảnh đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động mặc dù có tổ chức hạch toán theo hệ thống, có bảng cân đối riêng; bảng cân đối kế toán chủ yếu chỉ theo dõi các hoạt động có liên quan đến một số khoản chi mang tính riêng biệt và nguồn vốn, còn lại các chi phí khác về tiền lương, tài sản, chi 5 phí quản lý khác là do NHNo&PTNT hạch toán. Khái niệm về tín dụng 1.
Khái niệm tín dụng Tín dụng là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả hai bên, là một quan hệ bình đẳng, cả hai bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận. Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá ngày phát triển đòi hỏi số vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh ngày càng lớn, phong phú và phức tạp.
Bởi vậy tín dụng ngân hàng đã xuất hiện, phát triển và ngày càng trở thành nguồn cung cấp tín dụng chủ yếu cho nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Các hình thức tín dụng 1.
Phân theo thời hạn tín dụng Bao gồm 3 hình thức sau: - Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với ngân hàng loại tín dụng này chiếm vị trí quan trọng vì nguồn vốn của ngân hàng là các khoản tiền gửi ngắn hạn là chính. 6 - Cho vay trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5 năm. Mục đích là để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, cải tiến và mở rộng sản xuất ở quy mô lớn thu hồi vốn chậm. Phân theo phương thức tín dụng Theo quy chế cho vay của NHNN, các tổ chức tín dụng được phép thoả thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phương thức cho vay: - Cho vay từng lần: là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: theo phương thức này thì ngân hàng và khách hàng sẽ xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: đây là phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng nhưng ngân hàng sẽ cam kết dành cho khách hàng số hạn mức tín dụng đã định, không vì tình hình thiếu vốn để từ chối cho vay. - Cho vay theo dự án đầu tư: đây là phương thức cho vay trung và dài hạn, ngân hàng phải thẩm định dự án trước khi cho vay. Tuy nhiên, trong cho vay ngắn hạn ngân hàng vận dụng bổ sung phương thức cho vay theo dự án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống. - Cho vay trả góp: khi vay vốn thì ngân hàng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với vốn gốc được chia ra để trả theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
7 - Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: tổ chức tín dụng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt và đại lý của tổ chức tín dụng. - Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các qui định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Vai trò của tín dụng 1. Là động lực giúp người nghèo vượt qua nghèo đói Trong thực tế ở nông thôn Việt Nam bản chất của những người nông dân là tiết kiệm cần cù, nhưng nghèo đói là do không có vốn để tổ chức sản xuất, thâm canh, tổ chức kinh doanh.
Vì vậy, vốn đối với họ là điều kiện tiên quyết, là động lực đầu tiên giúp họ vượt qua khó khăn để thoát khỏi đói nghèo. Tạo điều kiện cho người nghèo không phải vay nặng lãi, nên hiệu quả hoạt động kinh tế được nâng cao hơn Những người nghèo đói do hoàn cảnh bắt buộc hoặc để chi dùng cho sản xuất hoặc để duy trì cho cuộc sống họ là những người chịu sự bóc lột bằng thóc hoặc bằng tiền nhiều nhất của nạn cho vay nặng lãi hiện nay. Chính vì thế khi nguồn vốn tín dụng đến tận tay người nghèo với số lượng khách hàng lớn thì các chủ cho vay nặng lãi sẽ không có thị trường hoạt động. Giúp người nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận với thị trường, có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Cung ứng vốn cho người nghèo theo chương trình, với mục tiêu đầu tư 8 cho sản xuất kinh doanh để xoá đói giảm nghèo, thông qua kênh tín dụng thu hồi vốn và lãi đã buộc những người vay phải tính toán trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì và làm như thế nào để có hiệu quả kinh tế cao.
Để làm được điều đó họ phải tìm hiểu học hỏi kỹ thuật sản xuất, suy nghĩ biện pháp quản lý từ đó tạo cho họ tính năng động sáng tạo trong lao động sản xuất, tích luỹ được kinh nghiệm trong công tác quản lý kinh tế. Góp phần trực tiếp vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, thực hiện việc phân công lại lao động xã hội Trong nông nghiệp vấn đề quan trọng hiện nay để đi lên một nền sản xuất hàng hoá lớn đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất. Đó là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và đưa các loại giống mới có năng suất cao vào áp dụng trong thực tiễn sản xuất và phải được thực hiện trên diện rộng. Để làm được điều này, đòi hỏi phải đầu tư một lượng vốn lớn, thực hiện được khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư.những người nghèo phải được đầu tư vốn họ mới có khả năng thực hiện.
Nội dung của công tác tín dụng tại ngân hàng Chính sách xã hội 1. Các đặc trưng của công tác tín dụng tại ngân hàng Chính sách xã hội 1. Hội, Đoàn thể nhận ủy thác một số công đoạn cho vay NHCSXH có hai phương thức cho vay: cho vay trực tiếp và cho vay ủy thác. Trong hai phương thức này, cho vay ủy thác chiếm hơn 98% tổng dư nợ (2017).
Cho vay ủy thác nghĩa là NHCSXH thực hiện ủy thác một số công đoạn trong quy trình cho vay cho bốn tổ chức chính trị - xã hội (gọi tắt là Hội, Đoàn thể) gồm Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Nội dung ủy thác có thể tóm tắt là: - Tuyên truyền các chính sách ưu đãi tín dụng đến đối tượng chính sách 9 xã hội được nhận thụ hưởng; tập huấn công tác khuyến nông – lâm – ngư nghiệp ,. để giúp người vay sử dụng vốn vay có hiệu quả; tổ chức các cuộc họp đánh giá định kỳ, đột xuất. - Tham gia buổi bình xét công khai hộ vay vốn của tổ TK&VV; giám sát, kiểm tra, chỉ đạo, đánh giá các hoạt động của tổ TK&VV.
- Kết hợp với các cơ quan đoàn thể có liên quan đôn đốc hộ vay trả nợ, kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay.