CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái quát về ứng phó với biến đổi khí hậu 1. Biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là hiện tượng thay đổi của khí hậu do nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp từ hoạt động của con người. Đã gây ra sự thay đổi về thành phần của khí quyển toàn cầu và ảnh hưởng đến sự biến động tự nhiên của khí hậu trong một khoảng thời gian có thể so sánh được.
[7] Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam cho rằng "Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của các hệ thống khí hậu hiện tại và trong tương lai, bao gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển và địa quyển, do cả nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo gây ra." [6] Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cho rằng biến đổi khí hậu là sự thay đổi nội tại trong hệ thống khí hậu do những thay đổi trong cấu trúc hệ thống hoặc trong mối quan hệ tương tác giữa các thành phần, có thể do các lực bên ngoài hoặc do hoạt động của con người gây ra. [24] Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu tại Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai, xác định rằng "Biến đổi khí hậu được dùng để chỉ những thay đổi của khí hậu vượt ra khỏi trạng thái trung bình đã duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là một vài thập kỉ." Các nguyên nhân của BĐKH có thể bao gồm các quá trình tự nhiên nội tại hoặc tác động từ bên ngoài, cũng như sự thay đổi thành phần của khí quyển hoặc trong việc khai thác và sử dụng đất do hoạt động của con người. Khái niệm về BĐKH ám chỉ đến những thay đổi trong hệ thống khí hậu vượt ra khỏi biến động trung bình hoặc bình thường trong một khoảng thời gian kéo dài, thường là vài thập kỷ hoặc lâu hơn. Những sự thay đổi này có thể bắt nguồn từ các quá trình tự nhiên trong hệ thống khí hậu, hay do tác 10 động từ bên ngoài hoặc được gây ra bởi hoạt động của con người như việc thay đổi cách sử dụng đất hoặc các thành phần của khí quyển.
Theo Ủy ban Biến đổi khí hậu Liên chính phủ (IPCC), BĐKH bao gồm những biến đổi đáng kể trong các chỉ số khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa hoặc mô hình gió kéo dài trong một khoảng thời gian dài, không phân biệt nguyên nhân gốc rễ là tự nhiên hay nhân tạo [17]. Từ các định nghĩa trên, ta có thể suy ra rằng BĐKH là thuật ngữ dùng để chỉ những sự thay đổi của hệ thống khí hậu vượt quá trạng thái bình thường trong một khoảng thời gian nhất định. Sự thay đổi này có thể bắt nguồn từ các quá trình tự nhiên hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hoặc trong việc khai thác và sử dụng đất. Ứng phó với BĐKH Luật Bảo vệ Môi trường 2020, tại Điều 3 Khoản 32, định nghĩa ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu phát thải khí nhà kính.
[19] Trong báo cáo "Biến đổi khí hậu năm 2001", Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) đã đưa ra hai nhóm chiến lược trong ứng phó với biến đổi khí hậu, bao gồm: - Chiến lược giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu tập trung vào việc giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính và đồng thời tăng cường khả năng hấp thụ khí nhà kính trên toàn cầu. - Mục tiêu của chiến lược thích ứng là ngăn chặn và giảm thiểu những thiệt hại do tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm cả những tác động tự nhiên và con người. - “Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm 11 khả năng bị tổn thương do biến đổi khí hậu và tận dụng các cơ hội do nó mang lại” [1]. Ứng phó với biến đổi khí hậu: là một quá trình trong đó con người thích ứng và làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu gây ra và tận dụng cơ hội của nó mang lại [25].
Theo Mai Văn Tâm (2022), ứng phó với Biến đổi khí hậu là những hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH, cũng như là quá trình điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với môi trường hoặc hoàn cảnh thay đổi, nhằm giảm thiểu khả năng bị tổn thương do sự dao động và BĐKH hiện có hoặc tiềm ẩn, và tận dụng các cơ hội mang lại từ đó. Vì vậy, các biện pháp cụ thể, công việc và hành động của chúng ta nhằm giảm thiểu và thích ứng với các hiện tượng thời tiết bất thường là một phần của việc ứng phó với biến đổi khí hậu. Những biện pháp này không chỉ giúp chúng ta chống lại và thích nghi với các hiện tượng thời tiết cực đoan, mà còn giúp giảm thiểu sự gia tăng của khí nhà kính - nguyên nhân chính gây ra biến đổi khí hậu. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu a) Nguyên nhân tự nhiên gây ra BĐKH Các yếu tố tự nhiên có thể gây ra sự biến đổi khí hậu toàn cầu.
Bởi vì chúng thuộc về tự nhiên, việc ngăn chặn hoặc kiểm soát các biến đổi này là rất khó. Tuy nhiên, đây chỉ là một trong những nguyên nhân nhỏ gây ra sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Các thay đổi của các yếu tố tự nhiên có thể gây ra sự biến đổi khí hậu, ví dụ như: Thay đổi cường độ sáng và xuất hiện điểm đen mặt trời: Từ khi mặt trời được hình thành (gần 4,5 tỷ năm) cho đến nay, cường độ sáng mặt trời đã tăng lên 30%. Bên cạnh đó, các điểm đen mặt trời cũng góp phần làm thay đổi bức xạ đến Trái Đất 12 Sự thay đổi của các dòng hải lưu: Những dòng hải lưu ở đại dương luôn di chuyển liên tục.
Theo đó, chúng sẽ mang các dòng nước nóng đi khắp hành tinh, góp phần làm nhiệt độ nước biển tăng cao. Quỹ đạo Trái Đất thay đổi: Trái đất của chúng ta quay quanh mặt trời ở trục nghiêng 23,5 độ. Theo thời gian, chỉ số của trục quay này sẽ thay đổi, gây ra một số tác động đến nhiệt độ trên trái đất. Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra rất chậm và chỉ góp phần nhỏ gây ra vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay.
b) Hoạt động của con người dẫn đến biến đổi khí hậu Do hoạt động của con người, nguyên nhân chính dẫn đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay. Các nhà khoa học đã tính toán rằng, con người đang khiến cho nhiệt độ Trái Đất tăng lên với tốc độ nhanh hơn hơn 170 lần so với tự nhiên. Những hoạt động này bao gồm: Sản xuất năng lượng: Việc sản xuất năng lượng thông qua đốt cháy nhiên liệu hoá thạch để tạo ra điện và nhiệt là một quá trình dẫn đến sự gia tăng lượng khí thải toàn cầu. Phần lớn điện được sản xuất bằng cách đốt than, dầu hoặc khí đốt, từ đó phát sinh các loại khí nhà kính mạnh như carbon dioxide và nitơ oxit, góp phần vào hiệu ứng nhà kính bằng cách giữ lại nhiệt từ ánh sáng mặt trời.
Chỉ có khoảng một phần tư tổng lượng điện trên toàn cầu được sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo như gió, mặt trời và các nguồn khác. Với các nguồn năng lượng tái tạo này, không có sự thải ra khí nhà kính hoặc các chất gây ô nhiễm không khí, đối lập hoàn toàn với các nhiên liệu hoá thạch. Ngành sản xuất hàng hoá góp phần đáng kể vào việc thải ra khí nhà kính, trong đó phần lớn là do quá trình sử dụng nhiên liệu hoá thạch để sản xuất xi măng, sắt, thép, điện, nhựa, quần áo và các sản phẩm khác. Các ngành khai thác, xây dựng cũng như các quy trình công nghiệp khác đều góp phần phát thải khí.
Máy móc sử dụng trong quá trình sản xuất thường hoạt động bằng cách sử dụng nhiên liệu hoá thạch như than, dầu hoặc khí đốt; và một số vật liệu như nhựa được sản xuất từ các hóa chất có nguồn gốc từ nhiên liệu 13 hoá thạch. Do đó, ngành công nghiệp sản xuất là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất trên toàn cầu. Việc khai thác rừng: Sự phá hủy rừng để tạo đất trồng hoặc làm đồng cỏ, hay bất kỳ lý do nào khác đều góp phần tạo ra khí thải do cây xanh bị chặt sẽ thải ra lượng cacbon đã được tích trữ trong cây. Hàng năm, khoảng 12 triệu ha rừng bị tàn phá.
Chặt cây có nghĩa là giảm khả năng thiên nhiên hấp thụ carbon dioxide, góp phần giới hạn việc giảm thiểu khí thải trong khí quyển. Việc phá rừng cùng với hoạt động nông nghiệp và sử dụng đất là một trong những nguyên nhân dẫn đến khoảng 1/4 tổng lượng phát thải khí nhà kính trên toàn cầu. Sử dụng phương tiện giao thông: Hầu hết các phương tiện giao thông như ô tô, xe tải, tàu thuyền và máy bay đều sử dụng nhiên liệu hoá thạch để hoạt động. Do đó, ngành giao thông vận tải là một trong những nguồn lượng khí thải khí nhà kính lớn nhất, đặc biệt là carbon dioxide.
Trong số này, phương tiện đường bộ chiếm tỷ trọng lớn nhất do phải sử dụng sản phẩm dầu mỏ (như xăng) trong động cơ. Trong khi đó, lượng khí thải từ tàu thuyền và máy bay vẫn tiếp tục gia tăng. Giao thông vận tải đóng góp gần 1/4 tổng lượng khí thải carbon dioxide liên quan đến năng lượng trên toàn cầu. Tình trạng này cho thấy xu hướng tăng đáng kể trong việc sử dụng năng lượng cho giao thông vận tải trong những năm tới.
Sản xuất lương thực: Việc sản xuất lương thực đóng góp vào việc phát thải các loại khí như carbon dioxide, methane và các khí nhà kính khác theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn như phá rừng và khai thác đất để trồng trọt và chăn nuôi gia súc, sản xuất và sử dụng phân bón để trồng trọt, sử dụng năng lượng (thường là nhiên liệu hoá thạch) để vận hành các thiết bị trong nông trại hay tàu cá. Tất cả những hoạt động này đều góp phần làm cho ngành sản xuất lương thực trở thành một nguồn đáng kể gây ra biến đổi khí hậu. Ngoài ra, việc phát thải khí nhà kính còn đến từ hoạt động đóng gói và phân phối lương thực.
14 Cung cấp điện cho các tòa nhà: Hơn một nửa lượng điện trên toàn cầu được tiêu thụ bởi các tòa nhà dân cư và trung tâm thương mại.