Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán, hiệu quả và rủi ro: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng thương mại Việt Nam niêm yết" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Hưng thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, thuộc ngành Tài chính - Ngân hàng (Mã số: 93.201), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Phú Quốc và TS. Thân Thị Thu Thủy (năm 2022).
Trong hệ thống tài chính, thị trường chứng khoán (TTCK) và hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò hai kênh dẫn truyền vốn thiết yếu giữa các chủ thể thặng dư và thiếu hụt vốn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Levine và Zervos, 1996; Batten và Vo, 2019). Tại Việt Nam, 14 ngân hàng thương mại cổ phần (NH TMCP) đã lọt vào bảng xếp hạng 500 ngân hàng mạnh khu vực Châu Á - Thái Bình Dương năm 2020. Tuy nhiên, khu vực ngân hàng vẫn bộc lộ những điểm yếu về quản trị, chất lượng tín dụng và quy mô vốn, khiến hệ thống dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. Nhằm lành mạnh hóa hệ thống, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án 254 (Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012) và Đề án 242 (Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28/2/2019), trong đó đặt ra lộ trình bắt buộc các NHTM phải hoàn thành niêm yết, đăng ký giao dịch trên sàn chứng khoán trước khi kết thúc năm 2020.
Việc tham gia sàn chứng khoán giúp các ngân hàng gia tăng khả năng huy động vốn nhưng đồng thời khiến hoạt động của ngân hàng chịu tác động trực tiếp từ biến động của thị trường chứng khoán (SMV). Thực tế diễn biến qua hai sự kiện điển hình: cuộc khủng hoảng năm 2008 (thị trường giảm điểm mạnh, lãi suất huy động tăng cao khiến dòng tiền dịch chuyển sang ngân hàng theo hiệu ứng chắc chắn) và giai đoạn cuối năm 2020 – đầu năm 2021 (phiên ngày 19/01/2021 chỉ số VN-Index giảm kỷ lục 60,94 điểm, tương đương 5,11%, kéo theo sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư sang kênh ngân hàng để phòng vệ rủi ro). Mặc dù vậy, các chính sách tiền tệ và chiến lược ngành hiện hành chủ yếu tập trung vào quản trị nội bộ theo chuẩn mực Basel II mà chưa xem xét thấu đáo các tín hiệu cảnh báo từ biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định dựa trên ba điểm cốt lõi:
- Các nghiên cứu quốc tế trước đây về tác động của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán lên hiệu quả hoạt động ngân hàng còn rất ít và mang lại kết quả mâu thuẫn về chiều hướng tác động.
- Chưa có công trình thực nghiệm nào kiểm định tác động trực tiếp của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán lên mức độ rủi ro của ngân hàng.
- Vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng trong mối quan hệ giữa biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán với hiệu quả và rủi ro ngân hàng chưa được phân tích toàn diện.
Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định ảnh hưởng của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán lên hiệu quả hoạt động và rủi ro của các NH TMCP niêm yết tại Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng.
Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản luận án gồm:
- Mục tiêu 1: Nghiên cứu tác động của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán lên hiệu quả của NH TMCP niêm yết.
- Mục tiêu 2: Nghiên cứu tác động của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán lên rủi ro của NH TMCP niêm yết.
- Mục tiêu 3: Nghiên cứu tác động của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán lên hiệu quả hoạt động của NH TMCP niêm yết trong điều kiện thay đổi quy mô của ngân hàng.
- Mục tiêu 4: Nghiên cứu tác động của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán lên rủi ro của NH TMCP niêm yết trong điều kiện thay đổi quy mô của ngân hàng.
Bốn câu hỏi nghiên cứu tương ứng được đặt ra:
- Câu hỏi 1: Biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán có tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng không?
- Câu hỏi 2: Biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán có tác động đến rủi ro ngân hàng không?
- Câu hỏi 3: Ảnh hưởng của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán lên hiệu quả hoạt động có bị ảnh hưởng bởi quy mô ngân hàng không?
- Câu hỏi 4: Ảnh hưởng của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán lên rủi ro có bị ảnh hưởng bởi quy mô ngân hàng không?
Đối tượng nghiên cứu là biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán, hiệu quả hoạt động, rủi ro và quy mô ngân hàng. Phạm vi không gian gồm 24 NH TMCP niêm yết trên 03 sàn giao dịch của Việt Nam:
- Sàn HOSE (14 ngân hàng): ACB, BID, CTG, EIB, HDB, LPB, MBB, MSB, STB, TCB, TPB, VCB, VIB, VPB.
- Sàn HNX (03 ngân hàng): BAB, NVB, SHB.
- Sàn UPCOM (07 ngân hàng): ABB, BVB, KLB, NAB, PGB, SGB, VBB.
Phạm vi thời gian nghiên cứu kéo dài theo dữ liệu quý từ Quý 2/2006 đến Quý 1/2021 (gồm 60 quý liên tục).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án cho thấy các nghiên cứu về ngân hàng thường tập trung vào các nhân tố quyết định hiệu quả và rủi ro từ khía cạnh nội bộ như tính thanh khoản (Pasiouras và Kosmidou, 2007), tỷ lệ vốn trên tổng tài sản (Bouzgarrou và cộng sự, 2018), cấu trúc tài sản (Trujillo-Ponce, 2013), tỷ lệ chi phí hoạt động (Vu và Nahm, 2013), đa dạng hóa (Meslier và cộng sự, 2014); các yếu tố ngành như quy mô ngành (Tan và Floros, 2013) và mức độ tập trung ngành (Park và Peristiani, 2007); hoặc các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng kinh tế (Trujillo-Ponce, 2013), lạm phát, lãi suất (Khemraj và Pasha, 2009), thất nghiệp (Louzis và cộng sự, 2012). Một nhánh nghiên cứu khác xem xét chiều ngược lại: tác động của hiệu quả và rủi ro ngân hàng lên giá hoặc tỷ suất sinh lợi cổ phiếu (Hadad và cộng sự, 2011; Brealey và cộng sự, 2012; Rjoub và cộng sự, 2017; Al-Shubiri, 2010; Ali và cộng sự, 2018; Sharma, 2018).
Về mối quan hệ giữa biến động thị trường chứng khoán (SMV) và hiệu quả ngân hàng, các công trình quốc tế ghi nhận kết quả không đồng nhất:
- Angbazo (1997) dùng biến động lãi suất quỹ liên bang làm đại diện và chỉ ra mối quan hệ đồng biến với tỷ lệ lãi cận biên (NIM).
- Albertazzi và Gambacorta (2009, 2010) nghiên cứu tại các quốc gia công nghiệp phát triển (Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ giai đoạn 1981-2003) bằng phương pháp GMM, chỉ ra SMV có mối quan hệ dương với thu nhập lãi thuần, thu nhập ngoài lãi, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) nhưng tác động âm đến lợi nhuận trước thuế do tăng trích lập dự phòng rủi ro.
- Tan và Floros (2012b) khảo sát 11 ngân hàng niêm yết tại Trung Quốc (2003-2009) bằng phương pháp hồi quy GMM sai phân và hệ thống, kết luận SMV tác động tích cực lên ROA, NIM và EVA.
- Ngược lại, Rashid và Ilyas (2018) nghiên cứu các NHTM tại Pakistan giai đoạn 2006-2014 bằng mô hình GMM kết hợp GARCH, phát hiện SMV làm suy giảm ROE và ROA do chi phí tài trợ nợ gia tăng.
Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trực tiếp về biến động thị trường và hiệu quả ngân hàng:
| Tác giả (Năm) | Mẫu nghiên cứu và Phương pháp | Kết quả chính |
|---|---|---|
| Angbazo (1997) | 286 ngân hàng Mỹ; Hồi quy GLS | SMV có quan hệ đồng biến với tỷ lệ lãi cận biên (NIM). |
| Albertazzi và Gambacorta (2009, 2010) | 10 quốc gia phát triển (1981-2003); Phương pháp GMM | SMV tác động dương đến thu nhập lãi, thu nhập ngoài lãi và ROE; tác động âm đến lợi nhuận trước thuế. |
| Tan và Floros (2012b) | 11 ngân hàng Trung Quốc (2003-2009); Hồi quy S-GMM | SMV tác động tích cực lên hiệu quả hoạt động (ROA, NIM, EVA). |
| Rashid và Ilyas (2018) | NHTM Pakistan (2006-2014); Mô hình GMM kết hợp GARCH | SMV tác động tiêu cực lên ROA và ROE. |
Đối với tác động của SMV lên rủi ro ngân hàng, tác giả ghi nhận sự thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm trực tiếp, chỉ tồn tại các luận điểm gián tiếp qua cơ chế tài sản thế chấp (Albertazzi và Gambacorta, 2010; Brewer III và Lee, 1986), biến động biên lãi ròng (Ho và Saunders, 1981; Angbazo, 1997) và sự tích lũy tín dụng (Danielsson và cộng sự, 2018). Về vai trò của quy mô, các công trình của Al-Tamimi và Charif (2011), Sufian (2009), Kosmidou (2008), Hoàng và Huân (2016), Haq và Heaney (2012), Rashid (2014) chỉ ra ngân hàng lớn có lợi thế kinh tế theo quy mô nhưng đối mặt với nguy cơ quá lớn để sụp đổ.
Vị trí của luận án: Luận án là công trình thực nghiệm đầu tiên tại thị trường mới nổi Việt Nam kiểm định đồng thời tác động của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán lên cả hai khía cạnh hiệu quả và rủi ro của hệ thống NHTM, đồng thời phân tích vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng trên mẫu dữ liệu bảng theo quý.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng ba nền tảng lý thuyết kinh tế chính:
- Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory) của Kahneman và Tversky (1979) cùng hiệu ứng chắc chắn (Certainty Effect): Nhà đầu tư có xu hướng né tránh rủi ro khi thị trường chứng khoán biến động mạnh. Dòng vốn có xu hướng rút khỏi kênh cổ phiếu bất ổn để dịch chuyển vào kênh tiền gửi tiết kiệm ngân hàng có tỷ suất sinh lợi chắc chắn. Lượng vốn khả dụng và thanh khoản dồi dào này giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động (García-Herrero và cộng sự, 2009; Smaoui và cộng sự, 2020).
- Lý thuyết bất ổn tài chính (Financial Instability Hypothesis) của Minsky (1992) và Quan điểm nghịch lý biến động (Volatility Paradox) của Adrian và Shin (2014), Brunnermeier và Sannikov (2014): Lý thuyết cho rằng thời kỳ thị trường có biến động thấp kéo dài kích thích tâm lý lạc quan quá mức, dẫn đến hành vi nới lỏng tín dụng, tăng đòn bẩy và tích lũy rủi ro. Ngược lại, biến động thị trường cao sẽ buộc các chủ thể tài chính thận trọng hơn, làm giảm rủi ro hệ thống.
- Lý thuyết quy mô tối ưu và tính kinh tế theo quy mô của Krasa và Villamil (1992), Panzar và Willig (1977): Quy mô lớn giúp ngân hàng tiết giảm chi phí giao dịch, tăng khả năng hấp thụ dòng vốn dịch chuyển và phân tán rủi ro, nhưng cũng có thể làm gia tăng rủi ro đạo đức (moral hazard) do tâm lý "quá lớn để sụp đổ".
Đo lường các biến nghiên cứu:
- Biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán (SMV): Đo lường theo phương pháp độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi thị trường theo French và cộng sự (1987), Võ Xuân Vinh và Võ Văn Phong (2016), và kiểm tra độ bền vững theo phương pháp của Lau và cộng sự (2013).
- Hiệu quả hoạt động ngân hàng: Sử dụng các chỉ tiêu truyền thống gồm tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lợi vượt mức trên vốn chủ sở hữu (EROE), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi thuần cận biên (NIM), kết hợp chỉ tiêu đo lường hiện đại là giá trị kinh tế gia tăng (EVA) theo Stewart III (1991) và Stern và cộng sự (1995a).
- Rủi ro ngân hàng: Đo lường bằng hệ số ổn định ngân hàng (ZSCORE) và độ biến động của tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (DROE).
- Quy mô ngân hàng: Đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản (SIZE) và biến giả phân loại quy mô (DUM_SIZE).
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Luận án sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng gồm 24 NHTM cổ phần niêm yết trong giai đoạn Quý 2/2006 – Quý 1/2021. Quy trình phân tích áp dụng:
- Hồi quy bình phương bé nhất tổng quát (OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
- Các kiểm định thống kê: Kiểm định nhân tử Lagrange (Breusch-Pagan LM test) và kiểm định F để lựa chọn giữa OLS, FEM và REM; kiểm định Hausman để chọn lựa giữa FEM và REM.
- Phương pháp hồi quy tổng quát hóa thời điểm hệ thống 2 bước (Two-step System GMM - S-GMM) trên mô hình dữ liệu bảng động để xử lý triệt để hiện tượng nội sinh, hiện tượng tự tương quan và tính quán tính của các biến hiệu quả và rủi ro. Tính hợp lệ của mô hình S-GMM được xác nhận qua kiểm định tự tương quan sai số bậc hai AR(2) và kiểm định tính hợp lệ của biến công cụ Hansen.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể. Tác giả phân tích bối cảnh phát triển của hệ thống tài chính Việt Nam, chỉ ra thực trạng tái cơ cấu các tổ chức tín dụng theo Đề án 254 và Đề án 242 của Chính phủ. Chương này xác định tính cấp thiết của đề tài, động cơ nghiên cứu, 4 mục tiêu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu (24 NHTM cổ phần niêm yết trên HOSE, HNX, UPCOM), phạm vi thời gian (Quý 2/2006 – Quý 1/2021), tóm tắt phương pháp và đóng góp khoa học, thực tiễn của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm
Chương 2 trình bày chi tiết định nghĩa các khái niệm SMV, hiệu quả, rủi ro và quy mô ngân hàng. Tác giả lược khảo các lý thuyết nền tảng gồm Lý thuyết triển vọng (Kahneman và Tversky, 1979), Lý thuyết bất ổn tài chính (Minsky, 1992), Nghịch lý biến động (Adrian và Shin, 2014), Lý thuyết quy mô ngân hàng tối ưu (Krasa và Villamil, 1992). Đồng thời, tác giả tổng hợp có hệ thống các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước về tác động của SMV đến hiệu quả (Angbazo, 1997; Albertazzi và Gambacorta, 2009, 2010; Tan và Floros, 2012b; Rashid và Ilyas, 2018) và rủi ro. Từ khoảng trống nghiên cứu, chương này xây dựng 3 nhóm giả thuyết chính: (H1) SMV tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng; (H2) SMV có tác động đến rủi ro ngân hàng; (H3) Quy mô ngân hàng có vai trò điều tiết tác động của SMV lên hiệu quả và rủi ro.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 thiết lập các phương trình hồi quy định lượng tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu:
- Mô hình tác động của SMV lên hiệu quả hoạt động (sử dụng các biến phụ thuộc ROE, EROE, ROA, NIM, EVA).
- Mô hình tác động của SMV lên rủi ro ngân hàng (biến phụ thuộc ZSCORE, DROE).
- Mô hình tương tác đánh giá vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng thông qua biến tích số giữa SMV và quy mô (SMVSIZE và SMVDUM_SIZE) lên hiệu quả và rủi ro. Chương này làm rõ công thức toán học đo lường các biến, mô tả việc thu thập mẫu dữ liệu bảng không cân bằng từ báo cáo tài chính của 24 ngân hàng, và quy trình ước lượng kỹ thuật từ OLS, FEM, REM đến S-GMM hai bước với các biến công cụ trễ.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 cung cấp kết quả thống kê mô tả (Bảng 4.1), ma trận hệ số tương quan cặp (Bảng 4.2) và kết quả ước lượng từ Bảng 4.3 đến Bảng 4.14. Các kết quả thực nghiệm nổi bật bao gồm:
- Ảnh hưởng của SMV lên hiệu quả ngân hàng (Bảng 4.3 và Bảng 4.9): Biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán có tác động dương và có ý nghĩa thống kê lên hiệu quả hoạt động ngân hàng (được đo lường bằng ROE, EROE, ROA, NIM và EVA). Kết quả này ủng hộ giả thuyết H1 và phù hợp với dự đoán của Lý thuyết triển vọng.
- Ảnh hưởng của SMV lên rủi ro ngân hàng (Bảng 4.4 và Bảng 4.10): SMV có mối quan hệ đồng biến có ý nghĩa thống kê với rủi ro ngân hàng (làm giảm hệ số ổn định ZSCORE và làm tăng độ biến động lợi nhuận DROE). Phát hiện thực nghiệm này trái ngược với giả thuyết của Lý thuyết bất ổn tài chính (Minsky, 1992) và Nghịch lý biến động (Adrian và Shin, 2014), chứng minh sự tồn tại của cơ chế truyền dẫn rủi ro từ thị trường chứng khoán sang hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
- Vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng (Bảng 4.5 – 4.8 và Bảng 4.11 – 4.14): Hệ số hồi quy của biến tương tác giữa SMV và quy mô (SIZE, DUM_SIZE) mang dấu dương có ý nghĩa thống kê đối với cả mô hình hiệu quả và mô hình rủi ro. Điều này chỉ ra rằng khi thị trường chứng khoán biến động, các ngân hàng có quy mô lớn đạt mức gia tăng hiệu quả cao hơn, nhưng đồng thời cũng gánh chịu mức gia tăng rủi ro lớn hơn so với các ngân hàng quy mô nhỏ.
- Kiểm tra tính vững (Mục 4.4): Phương pháp S-GMM khẳng định tính nhất quán của kết quả khi kiểm soát hiện tượng nội sinh và tự tương quan, với kiểm định AR(2) có p-value > 0,05 và kiểm định Hansen có p-value > 0,05, xác nhận mô hình động và các biến công cụ hoàn toàn hợp lệ. Việc thay đổi thước đo SMV theo Lau và cộng sự (2013) cũng mang lại kết quả tương đồng.
Bảng tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu (tổng hợp từ Bảng 5.1 của luận án):
| Câu hỏi nghiên cứu | Giả thuyết liên quan | Kết quả thực nghiệm | Ý nghĩa lý thuyết / Thực tiễn |
|---|---|---|---|
| SMV có tác động đến hiệu quả ngân hàng? | Giả thuyết H1: Tác động cùng chiều (+) | Chấp nhận giả thuyết | Phù hợp Lý thuyết triển vọng (Kahneman và Tversky, 1979); dòng tiền chuyển sang ngân hàng. |
| SMV có tác động đến rủi ro ngân hàng? | Giả thuyết H2: Có tác động | SMV làm gia tăng rủi ro (+) | Trái ngược Lý thuyết bất ổn tài chính (Minsky, 1992) và Nghịch lý biến động; rủi ro lan truyền. |
| Quy mô có điều tiết tác động SMV - Hiệu quả? | Giả thuyết H3a: Có điều tiết | Tác động khuếch đại (+) ở ngân hàng lớn | Ngân hàng quy mô lớn thu hút dòng vốn chuyển dịch tốt hơn, gia tăng lợi nhuận. |
| Quy mô có điều tiết tác động SMV - Rủi ro? | Giả thuyết H3b: Có điều tiết | Rủi ro gia tăng mạnh hơn (+) ở ngân hàng lớn | Ngân hàng lớn nhạy cảm hơn với rủi ro thị trường và áp lực duy trì thanh khoản. |
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết các phát hiện thực nghiệm, trình bày 3 đóng góp lý luận chính, 3 nhóm hàm ý chính sách dành cho Ngân hàng Nhà nước và các nhà điều hành ngân hàng thương mại, đồng thời chỉ rõ các hạn chế nghiên cứu và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án mang lại ba đóng góp khoa học:
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam xác nhận biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động ngân hàng (ROE, EROE, ROA, NIM, EVA), củng cố giá trị giải thích của Lý thuyết triển vọng (Kahneman và Tversky, 1979) trong thị trường mới nổi.
- Phát hiện rủi ro ngân hàng gia tăng trong thời kỳ thị trường chứng khoán biến động mạnh. Bằng chứng này đi ngược lại dự báo của Lý thuyết bất ổn tài chính (Minsky, 1992) và Quan điểm nghịch lý biến động (Adrian và Shin, 2014) vốn cho rằng rủi ro tích lũy trong giai đoạn biến động thấp, qua đó chỉ ra cơ chế truyền dẫn rủi ro từ thị trường cổ phiếu sang hệ thống ngân hàng thương mại.
- Bổ sung vào khoảng trống y văn quốc tế về vai trò điều tiết của quy mô ngân hàng: ngân hàng có quy mô lớn tận dụng biến động thị trường để gia tăng hiệu quả vượt trội nhưng đồng thời phải đối mặt với mức gia tăng rủi ro cao hơn ngân hàng nhỏ.
Về mặt thực tiễn và hàm ý chính sách:
- Đối với Ngân hàng Nhà nước: Cần theo dõi sát sao chỉ số biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán (SMV) như một biến số cảnh báo sớm vĩ mô để có biện pháp can thiệp thị trường tiền tệ kịp thời. Cần xây dựng cơ chế giám sát thận trọng đặc thù đối với các ngân hàng thương mại quy mô lớn khi thị trường chứng khoán biến động nhằm ngăn ngừa rủi ro lan truyền hệ thống.
- Đối với các nhà quản trị ngân hàng thương mại: Không nên chỉ xem các chỉ số tài chính nội bộ là thước đo duy nhất; cần thiết lập hệ thống phòng ngừa rủi ro chủ động trước các biến động của thị trường chứng khoán, xây dựng chính sách lãi suất huy động và cho vay linh hoạt để điều tiết dòng vốn chuyển dịch, kiểm soát biên lãi ròng và đệm dự phòng rủi ro thanh khoản.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ các hạn chế cụ thể:
- Mẫu nghiên cứu chỉ giới hạn ở 24 ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên các sàn HOSE, HNX và UPCOM; chưa bao quát các ngân hàng thương mại cổ phần chưa niêm yết và các ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước, ngân hàng liên doanh.
- Dữ liệu sử dụng thu thập theo tần suất quý, do đó có thể chưa phản ánh trọn vẹn những phản ứng tức thời ở tần suất cao (dữ liệu ngày, tuần) của thị trường tài chính đối với các cú sốc bất thường.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở:
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các ngân hàng thương mại chưa niêm yết khi dữ liệu được công bố minh bạch và đầy đủ hơn để có cái nhìn toàn cảnh về hệ thống ngân hàng.
- Ứng dụng các thước đo biến động thị trường và rủi ro ở tần suất cao hơn (dữ liệu ngày, tháng) hoặc áp dụng các mô hình chuỗi thời gian phi tuyến, mô hình ngưỡng (threshold model) để kiểm tra các tác động bất đối xứng giữa các giai đoạn thị trường tăng trưởng và suy thoái.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo quy trình xây dựng mô hình dữ liệu bảng động, kỹ thuật hồi quy hệ thống hai bước (S-GMM) để kiểm soát biến nội sinh, cùng cách tiếp cận đo lường hiệu quả ngân hàng hiện đại bằng thước đo Giá trị kinh tế gia tăng (EVA) kết hợp với các chỉ tiêu truyền thống (ROA, ROE, NIM).
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp tài liệu tham khảo về cơ sở lý thuyết kết nối giữa thị trường vốn và hệ thống trung gian tài chính (Lý thuyết triển vọng, Lý thuyết bất ổn tài chính, Nghịch lý biến động).
- Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở định lượng để tích hợp tín hiệu biến động thị trường chứng khoán vào hệ thống cảnh báo sớm vĩ mô và chính sách an toàn vĩ mô cho hệ thống ngân hàng.
- Ban điều hành các ngân hàng thương mại: Tham khảo để hoạch định chiến lược quản trị quy mô tài sản và quản trị rủi ro thanh khoản tương ứng với các chu kỳ biến động của thị trường chứng khoán.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng phương pháp nào để đo lường biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán (SMV)?
Tác giả đo lường SMV bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán theo phương pháp của French và cộng sự (1987) và Võ Xuân Vinh và Võ Văn Phong (2016). Ngoài ra, tác giả sử dụng thêm cách tiếp cận của Lau và cộng sự (2013) để kiểm tra tính vững của kết quả ước lượng.
2. Mẫu nghiên cứu của luận án gồm bao nhiêu ngân hàng và trong giai đoạn nào?
Mẫu nghiên cứu gồm 24 NH TMCP Việt Nam được niêm yết trên cả 3 sàn (14 ngân hàng trên HOSE, 3 ngân hàng trên HNX và 7 ngân hàng trên UPCOM). Dữ liệu được thu thập theo quý trong khoảng thời gian từ Quý 2/2006 đến Quý 1/2021 (tổng cộng 60 quý).
3. Kết quả tác động của SMV lên rủi ro ngân hàng có điểm gì đặc biệt so với lý thuyết kinh tế truyền thống?
Kết quả thực nghiệm cho thấy SMV làm gia tăng rủi ro ngân hàng. Kết quả này trái ngược với Lý thuyết bất ổn tài chính của Minsky (1992) và Quan điểm nghịch lý biến động của Adrian và Shin (2014) vốn cho rằng rủi ro chỉ tích lũy khi thị trường duy trì mức biến động thấp kéo dài; từ đó luận án chứng minh sự tồn tại của cơ chế truyền dẫn rủi ro trực tiếp từ thị trường chứng khoán sang hệ thống NHTM Việt Nam.
4. Tại sao luận án lại sử dụng phương pháp S-GMM hai bước bên cạnh các mô hình OLS, FEM và REM?
Phương pháp S-GMM hai bước trên mô hình dữ liệu bảng động được sử dụng nhằm kiểm tra tính vững và khắc phục triệt để các khuyết tật mô hình gồm hiện tượng nội sinh tiềm ẩn giữa các biến, hiện tượng tự tương quan và tính quán tính của các chỉ số hiệu quả và rủi ro ngân hàng qua thời gian. Tính hợp lệ của các biến công cụ và mô hình được xác nhận qua kiểm định Hansen và kiểm định AR(2).
5. Yếu tố quy mô ngân hàng đóng vai trò như thế nào trong các mô hình nghiên cứu của luận án?
Quy mô ngân hàng đóng vai trò là biến điều tiết. Kết quả ước lượng chỉ ra rằng khi biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán gia tăng, các ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn đạt được mức tăng hiệu quả cao hơn nhưng đồng thời cũng chịu mức độ gia tăng rủi ro lớn hơn đáng kể so với các ngân hàng quy mô nhỏ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thành Hưng đã giải quyết thành công khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán với hiệu quả hoạt động và mức độ rủi ro của 24 NHTM cổ phần niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2006-2021. Kết quả nghiên cứu xác nhận biến động thị trường làm gia tăng hiệu quả hoạt động ngân hàng (ủng hộ Lý thuyết triển vọng) nhưng đồng thời làm gia tăng rủi ro của ngân hàng (trái ngược với Lý thuyết bất ổn tài chính và Nghịch lý biến động). Tác động này được khuếch đại rõ nét hơn ở các ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn, từ đó cung cấp các luận cứ khoa học quan trọng cho Ngân hàng Nhà nước trong việc sử dụng tín hiệu thị trường chứng khoán để cảnh báo rủi ro hệ thống và hỗ trợ các nhà quản trị ngân hàng nâng cao hiệu quả điều hành dòng vốn.