Tổng quan nghiên cứu

Nguồn nước dưới đất đóng vai trò huyết mạch trong việc duy trì an ninh nguồn nước và ổn định hệ sinh thái toàn cầu, cung cấp khoảng 50% lượng nước sinh hoạt và 38% lượng nước tưới tiêu trên thế giới. Tại thành phố Hà Nội, mạng lưới cấp nước đô thị phụ thuộc lớn vào tài nguyên nước ngầm với 16 nhà máy nước lớn và 15 trạm sản xuất, vận hành tổng cộng 302 giếng khoan có công suất khai thác đạt 718.200 m³/ngày đêm. Bên cạnh đó, khu vực ngoại thành có khoảng 1.100 giếng khoan công nghiệp với lưu lượng 310.000 m³/ngày đêm và hơn 793.000 giếng khoan đơn lẻ phục vụ nông thôn với tổng lưu lượng khai thác khoảng 800.000 m³/ngày đêm. Thống kê y tế cho thấy khoảng 17,2 triệu người dân Việt Nam, tương đương 21,5% dân số, vẫn đang sử dụng trực tiếp nguồn nước giếng khoan chưa qua xử lý đạt chuẩn.

Thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ là một trong năm đô thị vệ tinh trọng điểm của thủ đô Hà Nội, sở hữu diện tích tự nhiên 960 ha cùng quy mô dân số trên 26.000 người, tập trung 163 doanh nghiệp và hơn 1.000 hộ kinh doanh cá thể. Áp lực đô thị hóa nhanh chóng cùng với việc khai thác nước ngầm tầng nông tự phát đang đặt nguồn tài nguyên nước dưới đất tại đây trước nguy cơ suy giảm trữ lượng và ô nhiễm cục bộ.

Đề tài luận văn thạc sĩ khoa học môi trường tập trung đánh giá toàn diện sự biến động mực nước ngầm theo không gian và thời gian trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019, đồng thời kiểm định 10 thông số lý hóa và tính toán chỉ số chất lượng nước dưới đất tại 12 điểm đại diện trên địa bàn thị trấn Xuân Mai. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu quan trắc thực nghiệm tin cậy, làm nền tảng khoa học vững chắc để các cấp quản lý xây dựng chính sách khai thác bền vững và thiết lập hệ thống xử lý nước phù hợp cho người dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết địa chất thủy văn động thái công trình, quy luật vận động của dòng thấm trong môi trường xốp và chu kỳ tuần hoàn tự nhiên của nước ngầm. Nước dưới đất được phân chia thành tầng chứa nước không áp sát mặt và tầng chứa nước có áp nằm sâu giữa các lớp sét cách nước. Mực nước và thành phần hóa học của tầng nông chịu sự chi phối trực tiếp từ điều kiện khí tượng, lượng mưa bổ cập, tốc độ bốc thoát hơi nước và các hoạt động kinh tế nhân sinh trên bề mặt đất.

Lý thuyết đánh giá chất lượng môi trường nước được cụ thể hóa thông qua mô hình Chỉ số Chất lượng Nước dưới đất. Phương pháp này tích hợp nồng độ của nhiều thông số lý hóa riêng biệt thành một giá trị định lượng duy nhất trên thang điểm từ 0 đến 100, phản ánh mức độ phù hợp của nguồn nước đối với mục đích sinh hoạt. Nghiên cứu tập trung vào 5 khái niệm cốt lõi: tầng chứa nước, biên độ hạ thấp mực nước, tải lượng bổ cập tự nhiên, độ khoáng hóa toàn phần và chỉ số đánh giá rủi ro ô nhiễm nước ngầm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra thực địa kết hợp quan trắc định kỳ từ tháng 5/2019 đến tháng 9/2019, đồng thời kế thừa chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2017 - 2018. Mực nước ngầm được đo đạc với tần suất 1 lần/tháng tại 4 vị trí giếng quan trắc đặc trưng bằng thiết bị chuyên dụng có độ chính xác cao. Cỡ mẫu chất lượng nước bao gồm 12 vị trí lấy mẫu đại diện cho 9 khu dân cư trọng điểm như Tân Xuân, Chiến Thắng, Tân Mai, Tiên Trượng và khu vực đồi núi Luốt.

Quy trình lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển được kiểm soát nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn quốc gia về kỹ thuật lấy mẫu nước ngầm. Mẫu được chứa trong bình chuyên dụng 500 ml, bảo quản lạnh ở nhiệt độ từ 2°C đến 5°C bằng đá tinh khiết và phân tích trong phòng thí nghiệm đạt chuẩn. Nghiên cứu tiến hành phân tích 10 chỉ tiêu lý hóa cơ bản: độ pH, tổng chất rắn hòa tan, độ cứng toàn phần tính theo canxi cacbonat, nitrit, nitrat, amoni, clorua, asen, sắt tổng số và mangan. Phương pháp phân tích trắc phổ hấp thụ nguyên tử, trắc quang và so màu được lựa chọn nhằm đảm bảo giới hạn phát hiện thấp và độ lặp lại cao. Kết quả phân tích được đối chiếu trực tiếp với Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước dưới đất và Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mực nước ngầm tại khu vực nghiên cứu có sự biến động sâu sắc theo mùa khí hậu và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ lượng mưa tự nhiên. Tại điểm quan trắc Núi Luốt thuộc Trường Đại học Lâm Nghiệp, nơi cách xa khu dân cư và không chịu áp lực khai thác nhân tạo, mực nước ngầm mùa khô dao động ở độ sâu trung bình 12,0 m và đạt mức sâu kỷ lục 13,25 m vào tháng 3/2019. Đến mùa mưa, khi lượng mưa đạt đỉnh 93,6 mm vào tháng 10/2018 và 122 mm vào tháng 8/2019, độ sâu mực nước phục hồi nhanh chóng về mức 5,37 m và 9,54 m. Biên độ dao động mực nước cực đại tại đây đạt 7,88 m, tương ứng mức hạ thấp mực nước mùa khô lên tới 250% so với mùa mưa.

Thứ hai, hoạt động khai thác sinh hoạt của con người tạo ra sự sụt giảm mực nước cục bộ mạnh mẽ hơn cả yếu tố tự nhiên. Tại điểm đo Chiến Thắng, biên độ chênh lệch mực nước giữa tháng 3/2017 với độ sâu 6,41 m và tháng 10/2018 với độ sâu 1,1 m lên tới 5,31 m, tương đương tỷ lệ biến động 580%. Đáng chú ý, tại điểm quan trắc Cổng phụ Trường Đại học Lâm Nghiệp, độ sâu mực nước vào tháng 7/2019 ghi nhận mức phục hồi bất thường đạt 1,39 m, giảm 2,19 m so với độ sâu 3,58 m của tháng 3/2019. Hiện tượng này diễn ra do thời gian nghỉ hè của học sinh và sinh viên làm giảm mạnh nhu cầu khai thác nước sinh hoạt trong khu vực trọ xung quanh trường.

Thứ ba, sự phân hóa mực nước theo không gian phản ánh rõ nét tác động của địa hình và mật độ dân cư. Khu vực Núi Luốt ở độ cao 35 m so với mực nước biển có độ sâu mực nước lớn nhất từ 9,54 m đến 13,25 m. Ngược lại, tại khu vực đồng bằng có cao trình 16 m như Tân Xuân và Chiến Thắng, mực nước phân bố ở tầng nông từ 1,5 m đến 3,91 m. Tuy nhiên, tốc độ hạ thấp mực nước tại Tân Xuân trong năm 2019 cao hơn năm 2017 khoảng 8% do sự gia tăng số lượng giếng khoan thương mại.

Thứ tư, về chất lượng nước, hầu hết các chỉ tiêu lý hóa cơ bản như độ pH dao động từ 6,2 đến 7,1; hàm lượng tổng chất rắn hòa tan nằm trong ngưỡng 180 mg/l đến 420 mg/l, đều đạt giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn môi trường. Chỉ số chất lượng nước dưới đất tính toán trung bình từ tháng 5/2019 đến tháng 9/2019 đạt giá trị dưới 45 điểm, xếp loại chất lượng nước ở mức Tốt và Rất tốt. Tuy nhiên, tại một số giếng khoan tầng nông gần trục thoát nước thị trấn, hàm lượng amoni ghi nhận mức xấp xỉ 0,85 mg/l và sắt tổng số đạt 4,2 mg/l, tiệm cận ngưỡng giới hạn quy chuẩn.

Thảo luận kết quả

Sự biến động mực nước dưới đất tại Xuân Mai thể hiện độ trễ thủy văn từ 3 đến 4 ngày sau các trận mưa lớn, chứng minh quá trình ngấm và thẩm thấu qua các tầng trầm tích diễn ra có quy luật. Cấu trúc thảm thực vật rừng tự nhiên và rừng trồng tại khu vực đồi núi Luốt đóng vai trò điều tiết cốt lõi, giúp làm chậm dòng chảy mặt, gia tăng độ ẩm đất và duy trì lượng bổ cập ổn định cho các thấu kính nước ngầm xung quanh.

Dữ liệu quan trắc khi được biểu diễn trên biểu đồ tương quan lượng mưa và mực nước thể hiện đường hồi quy nghịch biến rõ rệt giữa lượng mưa tích lũy và độ sâu mực nước tĩnh. Hiện tượng suy giảm mực nước cục bộ tại Tân Xuân và Cổng phụ hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu thủy địa chất tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ, nơi mật độ khai thác vượt quá khả năng tự phục hồi của tầng chứa nước Holocen. Mặc dù chất lượng tổng thể vẫn đạt mức an toàn, nguy cơ ô nhiễm nitơ hữu cơ và kim loại nặng từ nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý xả vào sông Bùi đang đe dọa trực tiếp các giếng đào tầng nông có độ sâu dưới 7 m.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thiết lập mạng lưới trạm quan trắc tự động mực nước và chất lượng nước ngầm tại 5 phân vùng trọng điểm của thị trấn Xuân Mai. Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Chương Mỹ cần hoàn thành lắp đặt hệ thống cảm biến đo đạc tự động trong vòng 12 tháng, đặt mục tiêu giảm thiểu 30% nguy cơ suy thoái tầng chứa nước thông qua cảnh báo sớm.

Thứ hai, chuẩn hóa mô hình công nghệ xử lý nước cấp quy mô hộ gia đình và cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Trạm y tế và phòng tài nguyên môi trường địa phương cần hướng dẫn người dân lắp đặt hệ thống giàn mưa kết hợp bể lọc cát thạch anh, cát mangan và than hoạt tính gáo dừa trong vòng 6 tháng tới. Mô hình này hướng đến mục tiêu loại bỏ 95% hàm lượng sắt, khử hoàn toàn mùi tanh và đảm bảo 100% mẫu nước sau lọc đạt Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ăn uống.

Thứ ba, thực hiện kiểm kê, cấp phép khai thác và trám lấp giếng khoan không sử dụng. Chính quyền thị trấn Xuân Mai cần triển khai đợt tổng rà soát toàn bộ 9 khu dân cư trong lộ trình 18 tháng, tiến hành trám lấp kỹ thuật đúng quy chuẩn đối với 100% giếng khoan hỏng hoặc bỏ hoang, nhằm loại bỏ nguy cơ dẫn truyền chất bẩn từ bề mặt xâm nhập vào tầng ngầm sâu.

Thứ tư, bảo vệ và phục hồi diện tích rừng đầu nguồn tại khu vực núi Luốt và các vùng đồi phụ cận. Trường Đại học Lâm Nghiệp chủ trì đề án nâng cao độ che phủ rừng lên trên 45% giai đoạn 2020 - 2025, gia tăng mật độ cây bản địa nhiều tầng tán nhằm tăng khả năng giữ ẩm đất, giúp nâng tỷ lệ bổ cập nước ngầm tự nhiên thêm 15% đến 20% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính sau:

Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chương Mỹ có thể sử dụng bộ số liệu thực địa và bản đồ phân vùng mực nước làm căn cứ hoạch định quy hoạch khai thác nước dưới đất đến năm 2030, phục vụ việc cấp phép và giám sát tài nguyên nước bền vững.

Đơn vị quy hoạch và phát triển đô thị: Các kiến trúc sư, kỹ sư hạ tầng đô thị đang nghiên cứu phát triển đô thị vệ tinh Xuân Mai có thể khai thác tài liệu để đánh giá sức tải môi trường, tính toán lưu lượng cấp nước ngầm an toàn và thiết kế mạng lưới thoát nước thải sinh hoạt tách biệt với nguồn bổ cập ngầm.

Học viên, sinh viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành môi trường: Sinh viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Nước, Địa chất Thủy văn có thể tham khảo phương pháp luận tính toán chỉ số chất lượng nước dưới đất, kỹ thuật xử lý số liệu quan trắc chuỗi thời gian và phương pháp lấy mẫu chuẩn quốc gia để ứng dụng cho các đề tài nghiên cứu liên quan.

Cộng đồng doanh nghiệp và người dân địa phương: Các hộ kinh doanh phòng trọ, cơ sở sản xuất và các hộ gia đình trên địa bàn huyện Chương Mỹ nắm được hiện trạng chất lượng nguồn nước giếng khoan đang sử dụng, từ đó chủ động lựa chọn sơ đồ công nghệ lọc nước gia đình phù hợp để bảo vệ sức khỏe lâu dài.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ số chất lượng nước dưới đất tại khu vực Xuân Mai đạt mức độ nào? Kết quả tính toán chỉ số chất lượng nước dưới đất tại 12 điểm quan trắc trên địa bàn thị trấn Xuân Mai giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2019 đều đạt giá trị dưới 45 điểm. Thang phân loại khoa học xác định nguồn nước ngầm tại đây nằm trong ngưỡng Tốt đến Rất tốt, hoàn toàn phù hợp cho các mục đích sinh hoạt thông thường sau khi qua các bước lọc cơ học cơ bản.

Biến động mực nước ngầm giữa mùa khô và mùa mưa chênh lệch bao nhiêu mét? Độ sâu mực nước ngầm có sự dao động mạnh tùy thuộc vị trí địa lý, với mức chênh lệch giữa mùa khô và mùa mưa ghi nhận từ 2,35 m tại khu Tân Xuân đến 7,88 m tại khu vực Núi Luốt. Vào các tháng đỉnh điểm mùa khô như tháng 3/2019, mực nước hạ thấp sâu hơn từ 216% đến 580% so với thời điểm mùa mưa nhiều nước.

Hoạt động của con người ảnh hưởng thế nào đến mực nước ngầm tại địa phương? Nhu cầu khai thác nước sinh hoạt của cư dân và sinh viên tạo ra sự sụt giảm mực nước rõ rệt. Cụ thể tại mũi khoan cổng phụ trường học, độ sâu mực nước vào tháng 7/2019 đã dâng cao và hồi phục thêm 2,19 m so với tháng 3/2019 nhờ lượng sinh viên nghỉ hè giảm đi, làm giảm áp lực bơm hút liên tục từ các tầng chứa nước.

Nguồn nước ngầm tại Xuân Mai có bị nhiễm kim loại nặng asen không? Các kết quả phân tích mẫu nước ngầm bằng phương pháp đo phổ hấp thụ nguyên tử cho thấy hàm lượng asen tổng số tại các điểm nghiên cứu đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn 09:2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nguồn nước chưa ghi nhận dấu hiệu nhiễm độc asen diện rộng, tuy nhiên cần kiểm soát định kỳ để phòng ngừa nguy cơ tích tụ lâu dài.

Người dân địa phương nên áp dụng công nghệ gì để xử lý nước giếng khoan? Người dân nên áp dụng hệ thống xử lý nước gia đình gồm công đoạn làm thoáng bằng giàn mưa để oxy hóa sắt hòa tan, lắng cặn và lọc qua cột vật liệu đa tầng gồm cát sỏi thạch anh kết hợp cát mangan và than hoạt tính. Công nghệ này giúp khử triệt để hàm lượng sắt từ mức 4,2 mg/l xuống dưới 0,5 mg/l, loại bỏ mùi tanh và khử trùng an toàn trước khi ăn uống.

Kết luận

Thứ nhất, luận văn đã xây dựng thành công bức tranh toàn cảnh về sự biến động mực nước ngầm theo cả thời gian và không gian tại thị trấn Xuân Mai, xác định biên độ dao động mực nước tự nhiên đạt từ 2,35 m đến 7,88 m giữa hai mùa khô và mưa.

Thứ hai, nghiên cứu chứng minh tác động kép của điều kiện khí tượng và hoạt động khai thác nhân sinh, chỉ ra sự suy giảm mực nước ngầm cục bộ tại các khu vực đông dân cư có tỷ lệ biến động lên tới 580% trong các chu kỳ khai thác cao điểm.

Thứ ba, đánh giá chất lượng nước qua 10 chỉ tiêu lý hóa và chỉ số chất lượng nước dưới đất khẳng định nguồn nước cơ bản đạt chất lượng tốt, đồng thời khoanh vùng các điểm có nguy cơ nhiễm amoni và kim loại sắt tầng nông.

Thứ tư, công trình đã đề xuất 4 nhóm giải pháp công nghệ và quản lý mang tính khả thi cao, bao gồm thiết lập mạng lưới quan trắc tự động, chuẩn hóa quy trình lọc nước gia đình, trám lấp giếng hỏng và khoanh nuôi rừng đầu nguồn.

Thứ năm, kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu thực nghiệm giá trị cho quy hoạch cấp thoát nước của đô thị vệ tinh Xuân Mai, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu mở rộng mô hình hóa lan truyền chất ô nhiễm trong các tầng chứa nước sâu.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần hoàn thiện việc lắp đặt hệ thống quan trắc tự động trong 12 tháng tới và thực hiện rà soát, trám lấp giếng hỏng trên toàn địa bàn trước năm 2022. Các nhà nghiên cứu, đơn vị quản lý tài nguyên và cộng đồng địa phương hãy cùng chung tay áp dụng các giải pháp kỹ thuật, bảo vệ nguồn nước ngầm quý giá và duy trì sự phát triển bền vững cho thế hệ tương lai.