Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH TỪ CÔNG CUỘC CẢI CÁCH Ở TRUNG QUỐC TRONG NHỮNG NĂM 1978 - 1989 1. Bối cảnh Trung Quốc trước biến cố Thiên An Môn 1989 Vào giữa những năm 1980, các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải đối mặt với một lựa chọn khó khăn giữa tự do hóa chính trị và thắt chặt ý thức hệ, một vấn đề khó khăn cho các nhà lãnh đạo bởi những nhu cầu về cải cách kinh tế và chính trị. Một phía đứng đầu là Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang và Thủ tướng Triệu Tử Dương, tiến hành một loạt các hành động gọi là cải cách chính trị và cho rằng đó là điều cần thiết để loại bỏ những trở ngại đối với cải cách kinh tế.
Các thành viên khác của nhóm này bao gồm Lục Định Nhất (cựu trưởng ban tuyên giáo của Đảng), Vạn Lý (phó thủ tướng, chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nhân dân Quốc gia) và Tập Trọng Huân (thành viên của Ban Bí thư Trung ương và là chủ tịch ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc (NPC)). Một bộ phận các nhà lãnh đạo thứ hai, đứng đầu là Trưởng lão Trần Vân (một nhà hoạch định chính sách kinh tế đã nghỉ hưu), Lý Tiên Niệm (nguyên thủ quốc gia ), và Bành Chân (người đứng đầu NPC), sợ rằng sự kiểm soát của Đảng đã bị suy yếu và rối loạn bởi các tư tưởng và xã hội. Họ nhấn mạnh những nguy cơ của "tự do hóa tư sản". Họ yêu cầu Đảng thực hiện các bước để khôi phục tổ chức và kỷ luật tư tưởng, đặc biệt là nghĩa vụ của các đảng viên, bao gồm cả trí thức để hỗ trợ các ý tưởng và chính sách của các thành viên khác.
Các Chiến dịch chống tự do hoá đã được phát động bởi những người bảo thủ trong Đảng trong năm 1987 để chống lại một trào lưu tự do đang tăng lên giữa giới trí thức Trung Quốc. Từ 1979 tới 1989, Đặng Tiểu Bình đã lặp lại và nhấn mạnh nhu cầu mở rộng việc giáo dục và đấu tranh để hỗ trợ vững chắc Bốn Nguyên Tắc Căn Bản1 và chống đối việc tự do hoá tư bản. 1 * Bốn Nguyên tắc Cốt yếu, được Đặng đưa ra trong năm 1979, nhấn mạnh rằng không thể có việc nghi ngờ về bốn trụ cột của nhà nước: con đường xã hội chủ nghĩa, chế độ độc tài dân chủ nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, và tư tưởng Marxist–Leninist–Maoist. 7 Với cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra ở Bắc Kinh vào tháng 12 năm 1986 đã khiến Hồ Diệu Bang phải từ chức.
Năm 1988 cựu phó thủ tướng Lý Bằng thay thế làm thủ tướng. Hồ Diệu Bang đã giữ chức tổng bí thư từ năm 1982 tới 1987 từ khi Đặng Tiểu Bình bắt đầu đề xướng ngoại thương , đầu tư, doanh nghiệp tư nhân, và những yếu tố giá thị trường. Song song với những cải tổ này, TQ đã chứng kiến sự gia tăng những ý tưởng hướng Tây của các ký giả, nhà văn, học giả, sinh viên, một giai cấp mới của những doanh gia tư mới nổi lên, và ngay cả nơi quần chúng. Những người bảo thủ đã chỉ trích ông Hồ Diệu Bang đã không ngăn chặn xu hướng đó.
Họ cũng đã hy vọng ông Triệu Tử Dương sẽ làm khá hơn sau khi thay thế Hồ. Mùa xuân năm 1988, Triệu đã đề xuất dưới sự chấp nhận của Đặng Tiểu Bình đã nỗ lực xóa bỏ nhanh chóng hệ thống giá nhà nước hiện có cho các đầu vào sản phẩm công nghiệp chính và cho phép giá tăng lên theo giá trị thị trường. Điều này sẽ loại bỏ phần lớn sự chậm chạp cho các doanh nghiệp nhà nước đồng thời xóa bỏ một số cơ hội sinh lợi nhất cho tham nhũng. Nhưng ngay cả trước khi kế hoạch được chính thức quyết định, những thông tin về nó đã khiến cho việc mua bán trở nên hoảng loạn.
Đầu tiên, các trưởng lão bảo thủ hơn là Trần Vân, Lý Tiên Niệm và sau đó chính Đặng cung đã kêu gọi từ bỏ kế hoạch cải cách giá cả. Kết quả của việc này khiến lòng tin của Đặng đối với Triệu Tử Dương đã bị lung lay, các kế hoạch cải cách chính trị của Triệu bị hoãn lại, và những cải cách kinh tế cũng bị trì hoãn. Thiên An Môn 1989 là sự kết hợp của một cuộc khủng hoảng lạm phát sau đó là sự siết chặt về kinh tế, và là khát vọng dân chủ cùng thất vọng sinh viên kéo theo đó là những mối bất đồng giữa các nhà lãnh đạo của ĐCSTQ, các yếu tố này đã gây ra một cuộc khủng hoảng lớn trong năm 1989. Các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa ở Trung Quốc trước biến cố Thiên An Môn 1989 1.
Chính trị - Xã hội 1. Chính trị Đầu những năm 80, Đặng Tiểu Bình cho rằng điều kiện và thời cơ để cải cách chế độ lãnh đạo đảng và nhà nước đã chín muồi đồng thời tiến hành thành lập ban bí thư trung ương; bỏ chức chủ tịch đảng; giải quyết việc kiêm chức và quá nhiều 8 chức phó ở trung ương; thiết lập ủy ban kiểm tra kỷ luật trung ương và ủy ban cố vấn trung ương. Sau đó, Đặng tập trung toàn bộ tâm sức làm cải cách kinh tế. Nhưng đến giữa thập kỷ 80, ông phát hiện thấy việc cải cách thể chế chính trị lạc hậu nghiêm trọng so với cải cách thể chế kinh tế, càng ngày càng thấy sự cần thiết và tính bức thiết của cải cách thể chế chính trị, nếu không cải cách thể chế chính trị thì cải cách kinh tế không thể đi sâu được, những thành công đã giành được cũng khó lòng giữ vững.
Năm 1986, nhiều lần Đặng đều nhắc đi nhắc lại về mục tiêu và phương pháp cải cách thể chế chính trị. Đến trước khi triệu tập Đại hội lần thứ XIII, Đặng đã hình thành ý tưởng về cải cách như sau: Mục tiêu thứ nhất là cơ cấu hành chính của đảng và toàn bộ thể chế nhà nước phải tăng cường sức sống. Mục tiêu thứ hai là khắc phục chủ nghĩa quan liêu, nâng cao hiệu suất công tác. Mục tiêu thứ ba là phát huy tính tích cực của cơ sở và công nhân, nông dân trí thức.
Phương pháp để tìm thuận lợi, bỏ tệ hại cũng có ba điều: 1) Tách riêng đảng và chính quyền. 2) Quyền lực trao xuống dưới. 3) Tinh giản cơ cấu.2 Trong điều kiện Đảng Cộng sản cầm quyền, cải cách thể chế lãnh đạo đảng và nhà nước rất dễ dẫn tới những nghi ngờ, lo lắng : Có còn cần sự lãnh đạo của đảng không? Sự lãnh đạo của đảng cần phải mạnh lên hay yếu đi? Những vị quan liêu sợ cải cách thường xuyên đưa những vấn đề này ra trước Đặng. Đặng trả lời: cải cách chế độ lãnh đạo của đảng và nhà nước chính là để giữ vững và tăng cưởng sự lãnh đạo của đảng, vì chỉ có “tiến hành cải cách triệt để” những tệ hại trên thì “nhân dân mới tín nhiệm sự lãnh đạo của chúng ta.
“ Nếu nói một số biện pháp cải cách của Đặng (như chống lại việc đảng can thiệp quá nhiều) là “làm yếu” sự lãnh đạo của đảng, thì mưu lược của Đặng là “muốn cho mạnh lên, tất phải làm yếu đi”. Có nghĩa là, Đặng muốn thông qua cải cách để chủ động sửa chữa những sai lầm của đảng phạm phải trước kia, tránh sau này lại tái phạm, làm cho sự lãnh dạo có được sức sống mới. Nếu không có những cải cách đó, Đảng Cộng sản Trung quốc có thể sẽ đi 2 Xuân Duy, Quỳnh Dung Mưu lược Đặng Tiểu Bình- NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 trang 303 9 theo vết xe đổ của Đảng Cộng sản Liên xô và các Đảng Cộng sản Đông Âu. Đặng cho rằng cải cách thể chế chính trị “không thể không làm”, sự lãnh đạo của đảng cần phải giữ vững, vấn đề là đảng phải giỏi lãnh đạo.
Phải không ngừng cải thiện sự lãnh đạo thì mới tăng cường dược sự lãnh đạo. 3 Những mâu thuẫn trong các vấn đề “tự do” ngày một nhiều. Những nhà lãnh đạo bảo thủ hơn yêu cầu Đảng thực hiện siết chặt kỷ luật tư tưởng Đảng viên và trí thức. Để thực hiện điều đó, năm 1986, Đặng Tiểu Bình đã ủy quyền cho Đảng đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng theo đạo luật “xây dựng nền văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa”.
Cuộc đấu tranh giữa hai phe mạnh mẽ hơn khi các cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra ở Bắc Kinh và một số thành phố khác vào tháng 12 năm 1986. Mặc dù các sinh viên đã trở lại lớp học vào tháng 1 năm 1987, vào ngày 16 tháng 1, Bộ Chính trị, với sự thông qua của Đặng, buộc Hồ Diệu Bang phải từ chức. Đây là một đòn giáng mạnh vào kế hoạch của Đặng cho sự kế vị của ông. Năm 1988 cựu phó thủ tướng Lý Bằng để thay thế làm thủ tướng.
Bất chấp những lo ngại của các đồng nghiệp bảo thủ của mình, Đặng đã chỉ thị Triệu Tử Dương không để chiến dịch chống bạo lực can thiệp vào một trong hai cải cách kinh tế hay chính trị. Tầm nhìn của Đặng về cải cách chính trị bị hạn chế. Nó liên quan đến việc "tách Đảng và chính phủ", có nghĩa là thay đổi các biện pháp hành chính để các cơ quan của Đảng Cộng sản ít can thiệp trực tiếp vào chính phủ, khiến cho tổ chức này hoạt động độc lập hơn và có chuyên môn cao hơn, đặc biệt là quản lý nền kinh tế. Triệu đã trình bày một kế hoạch chi tiết tại Đại hội Đảng lần thứ mười ba vào tháng 10 năm 1987, một động thái được thiết kế để chuẩn bị tăng cường cải cách kinh tế, Đại hội cũng tuyên bố rằng Trung Quốc đang ở “giai đoạn sơ bộ của chủ nghĩa xã hội”, nghĩa là giai đoạn thích hợp để sử dụng tư bản và những phương pháp như kinh tế thị trường và quản lý lợi nhuận để đạt được tăng trưởng kinh tế.
3 Xuân Duy, Quỳnh Dung Mưu lược Đặng Tiểu Bình- NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 trang 304- 305 10 Các nhà lãnh đạo cải cách đã hình dung vào năm 1978 rằng trí thức sẽ đóng một vai trò hàng đầu trong việc hướng dẫn đất nước thông qua các cải cách, nhưng điều này đã không xảy ra. Mặc dù các trường đại học mới được mở cửa và tăng tuyển sinh, hệ thống giáo dục do nhà nước chỉ đạo lại không tạo ra đủ sinh viên tốt nghiệp để đáp ứng nhu cầu thị trường gia tăng trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, dịch vụ và đầu tư nước ngoài.