Lời mở đầu Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948 14 nhiều nước ký kết Công ước về Quyên trẻ em, do đó các quy định của Công ước đã trở thành chuẩn mực pháp ly chung, là cơ sở để xây dựng mới hoặc điều chỉnh các văn bản pháp luật về nuôi con nuôi ở tất cả các nước thành viên. Việt Nam đã ký Công ước vào ngày 26/01/1990 và phê chuẩn ngày 20/02/1990 (theo Nghị quyết số 241/NQ-HDNN của Hội đồng Nhà nước ngày 20/02/1990). Việt Nam cũng là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em (sau nước Ga Na). Hiện nay đã có 191/193 quốc gia đã phê chuẩn (còn 2 quốc gia là Mỹ và Suzan chưa phê chuẩn).
Với mục tiêu bảo vệ quyền trẻ em nói chung và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhận làm con nuôi nói riêng, bên cạnh Công ước về quyên trẻ em, không thé không kê đến một Công ước vô cùng quan trọng trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, đánh dấu sự phát triển vượt bậc của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này, mà Việt Nam đã trở thành thành viên đó là Công ước Lahaye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (sau đây gọi tắt là Công ước Lahaye). Xuất phát điểm là năm 1965, Ủy ban Công ước Lahaye tiễn hành thảo luận với một số quốc gia và thông qua Công ước năm 1965 quy định về thâm quyên, luật áp dụng và việc công nhận các văn bản pháp luật liên quan đến con nuôi. Việc thông qua Công ước 1965 góp phần quan trọng giải quyết vấn dé nuôi con nuôi giữa các nước, thống nhất nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi. Đây cũng là công ước đầu tiên của Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước.
Nhờ có công ước nay, hàng triệu trẻ em đã tìm được tổ 4m mới, để được chăm sóc, yêu thương đầy đủ và toàn diện trong môi trường gia đình. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, Công ước đã bộc lộ nhiều bất cập khi có hiện tượng trẻ em ở nước nghèo bị mang ra nước ngoài bán dưới hình thức cho làm con nuôi, bi coi là món hàng buôn bán từ tay cá nhân này sang cá nhân khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác, để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, nhằm trục lợi cá nhân. Lúc nay, từ vị thế là hoạt động nhân đạo dé giúp đỡ, 15 chăm sóc bảo vệ trẻ em thì việc cho nhận nuôi con nuôi đã bị biến tướng thành hoạt đông vụ lợi. Trước tình hình như vậy, tại kỳ họp lần thứ XXI Hội nghị Lahay (từ 10 — 29/5/1993), các đại biểu của 66 nước tham gia, trong đó có Việt Nam (Việt Nam tham gia với tư cách khách mời) đã nhất trí thông qua và ký văn kiện cuối cùng về nội dung Công ước Lahaye về bảo vệ trẻ em và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi.
Theo đánh giá của UNICEE, “Công ước Lahaye là một tài liệu pháp lý quan trọng cho trẻ em, gia đình sinh ra các em và những người nhận con nuôi nước ngoài. Công ước quy định các nghĩa vụ của các cơ quan có thầm quyền của nước cho con nuôi và các nước nhận con nuôi. Công ước này nhằm đảm bảo tính đạo đức mà minh bạch của quá trình cho và nhận con nuôi. Công ước chủ yéu hướng đến lợi ích tốt đẹp nhất của trẻ như đã được quy định trong Công ước quốc tế về Quyền trẻ em.
Công ước đảm bảo rằng việc cho và nhận con nuôi nằm trong thắm quyền của những cơ quan có năng lực va dựa trên sự hiểu biết thấu đáo và đồng thuận của các bên liên quan. Công ước cũng nhằm đảm bảo việc cho và nhận con nuôi giữa các quốc gia được bảo vệ và tuân theo những tiêu chuẩn được áp dụng cho việc cho và nhận con nuôi ở trong nước; và việc cho và nhận con nuôi không phải nhằm mục đích lợi nhuận. Điều này trước tiên là để bảo vệ trẻ em và cũng có tác dụng bảo vệ quyền của cha mẹ đẻ và đảm bảo cho các cha mẹ nuôi răng trẻ mình nhận nuôi không phải là kết qua của một quá trình phạm pháp”. ' Ngoài lời nói đầu, Công ước Lahaye gồm 07 chương, 48 điều, đề cập 07 vấn đề chính là: (1) Phạm vi áp dụng; (2) Các yêu cầu đối với việc nuôi con nuôi quốc tế; (3) Cơ quan trung ương của mỗi quốc gia phụ trách về nuôi con nuôi quốc tế; (4) Thủ tục cho, nhận con nuôi quốc tế; (5) Công nhận và hậu quả của việc nuôi con nuôi; (6) Quy định chung: (7) Những điều khoản cuối cùng.
Công ước Lahaye đã tạo dựng nên một khuôn khô pháp lý quốc tế cơ bản và thiết lập cơ chế hợp tác giữa các nước để bảo vệ trẻ em làm con nuôi, nhăm đảm bảo việc nuôi con nuôi quôc tê được thực hiện vì lợi ích tôt nhât '6 “UNICEF đánhgiá cao việc Việt Nam phê chuẩn Công ước La-hay về con nuôi”, UNICEF Việt Nam, http://www.org/vietnam/vi/media_19457.htm, truy cập ngày 18/06/2016 16 cho trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em được pháp luật quốc tế công nhận, đồng thời ngăn ngừa việc bắt cóc và buôn bán trẻ em. Ngoài điều ước quốc tế đa phương, nước ta đã ký kết nhiều hiệp định hợp tác song phương về nuôi con nuôi với các nước và vùng lãnh thé. Trước năm 2000, Việt Nam đã ký các hiệp định tương trợ tư pháp nói chung và nuôi con nuôi là một phần của Hiệp định, ví dụ như Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đền dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Hungary ký ngày 18/01/1985 hay Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ký ngày 06/07/1998. Tuy nhiên đến năm 2000, hiệp định đầu tiên chỉ tập trung điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi quốc tế là Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam và Pháp ký ngày 01/02/2000.
Đến nay, Việt Nam đã ký khoảng 13 hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi với một số các quốc gia khác, một số đã hết hiệu lực. Các van dé cơ bản mà hiệp định quy định bao gồm: (1) Nguyên tắc giải quyết nuôi con nuôi, (2) Phạm vi áp dung, (3) Điều kiện nuôi con nuôi, (4) Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, (5) Cơ quan và trình tự thủ tục giải quyết VIỆC nuôi con nuôi. Các hiệp định này là cơ sở quan trọng cho việc giải quyết vấn đề nuôi con nuôi giữa công dân các nước ký kết. Hệ thống quy phạm pháp luật quốc gia Van bản pháp luật chính điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hiện nay là Luật Nuôi con nuôi 2010.
Luật này ra đời đánh dấu bước ngoặt trong quá trình phát triển của khung pháp luật Việt Nam đối với hoạt động nuôi con nuôi nói chung và đảm bảo quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi nói riêng. Bên cạnh đó luật này cũng tạo sự thống nhất giữa pháp luật về nuôi con nuôi trong nước và pháp luật về nuôi con nuôi quốc tế, gop phan nội luật hóa các quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em, là bước cải cách lớn về lập pháp, đảm bảo tính công khai, minh bạch trong cơ 17 chế điều hành và nguồn tài chính liên quan, tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thâm quyền liên quan. Ngoài Luật Nuôi con nuôi 2010, giai đoạn này còn có Nghị định SỐ 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi, Luật quốc tịch 2009 sửa đối năm 2014, Luật cư trú. Đặc biệt, liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em, đối với trẻ được nhận làm con nuôi nước ngoài, không thé không ké đến Luật trẻ em 2016.
Có thé nói hệ thống các quy phạm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của nước ta đã hình thành nên chế định pháp lý tương đối đầy đủ và chỉ tiết về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế Một trong những quyền cơ bản của trẻ em được pháp luật bảo vệ là quyền được sống, được chăm sóc, nuôi dưỡng trong môi trường gia đình. Các quyền này hầu như đều được ghi nhận cũng như thể hiện trong các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền trẻ em. Nó được dành cho tat cả trẻ em trên thé giới, bất kế dân tộc, tôn giáo, chế độ xã hội, châu lục, sinh sống ở miền núi hay hải đảo.
Không ai có quyền xâm phạm những quyền này của trẻ em vì đây là quyền tối thiểu dé trẻ em có thé tôn tại và phát triển bình thường. Tuy nhiên không phải tất cả trẻ em sinh ra đều có cha mẹ và đều may mắn được như vậy. Dù là trong thời kỳ nào, cô đại — trung đại — hiện đại, hay dưới bat kỳ chế độ nào phong kiến — tư bản chủ nghĩa — xã hội chủ nghĩa thì cũng có những đứa trẻ phải sống trong điều kiện khắc nghiệt. Có nhiều tình huống dẫn dén hoàn cảnh này như trẻ bị bỏ rơi không được cha mẹ thừa nhận, hoặc bị thất lạc cha mẹ trong chiến tranh, hoặc bị thất lạc cha mẹ vì một lý do nào đó, hoặc bị mồ côi, hay khuyết tật, sống trong các gia đình nghèo không đủ điều kiện nuôi dưỡng cần một mái 4m gia đình thay thế.
Một trong những biện pháp mang lại cho trẻ một gia đình là cho trẻ làm con nuôi. Vấn đề nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi quốc tế nói riêng là vấn đề mang tính nhân đạo cao. Đây cũng được coi là giải pháp bảo vệ trẻ em, không dé trẻ em phải sống lang thang, thiếu điều kiện phát trién. Đê đảm bảo việc cho trẻ em làm con nuôi là vì lợi ích tôt nhât của trẻ em, tôn 18 trọng các quyền cơ bản của trẻ em thì khung pháp luật về vấn đề này cần được xây dựng và liên tục hoàn thiện, có vị trí quan trọng trong tong thé khung pháp luật bảo vệ quyền trẻ em.