phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu làm ba chƣơng: CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ VÀ QUYỀN CON NGƢỜI CHƢƠNG 2: BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ 9 z CHƢƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI 2. NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Nội dung nghiên cứu Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu, phân tích, bình luận và khuyến nghị về những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề bảo vệ các quyền con ngƣời bằng Tòa án hình sự quốc tế. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về pháp luật, về quyền con ngƣời nói chung, và thẩm quyền, vai trò trong hoạt động bảo vệ quyền con ngƣời của Tòa án hình sự quốc tế nói riêng.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ áp dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ: Phƣơng pháp phân tích để làm sáng tỏ những nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu; phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng để làm rõ mức độ tƣơng quan giữa những quy định của pháp luật quốc tế với pháp luật quốc gia và đặc biệt là thông qua phƣơng pháp này để có đƣợc những đánh giá khách quan giữa quy định của pháp luật với thực tiễn thực hiện các quy định ấy; phƣơng pháp tổng hợp và thống kê đƣợc sử dụng để khái quát hoá nội dung nghiên cứu một cách hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu. Địa điểm nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Luận văn đƣợc giới hạn phạm vi nghiên cứu là vai trò của Tòa án hình sự quốc tế trong việc bảo vệ các quyền con ngƣời, nghiên cứu so sánh sự tƣơng thích với pháp luật quốc gia, bình luận và đƣa ra các khuyến nghị. DỰ KIẾN KẾT QUẢ - Giai đoạn 1: Hoàn thành đề cƣơng Luận văn, nộp theo thời gian thông báo của Khoa. - Giai đoạn 2: Hoàn thành công tác thu thập các tài liệu có liên quan (sách chuyên khảo, sách tham khảo, bài báo, tạp chí, nghiên cứu, báo cáo,…).
- Giai đoạn 3: Nghiên cứu tài liệu thu thập đƣợc, hoàn thành đề cƣơng Luận văn chi tiết. - Giai đoạn 4: Hoàn thiện nội dung Chƣơng I, Chƣơng II và Chƣơng III của Luận văn. - Giai đoạn 5: Hoàn thiện toàn bộ nội dung Luận văn - Giai đoạn 6: Thực hiện bảo vệ Luận văn theo quy định của khoa. TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN STT Hoạt động/Nội dung Thời gian 1 Tiến hành viết Đề cƣơng Tháng 7 năm 2018 2 Hoàn thiện Đề cƣơng Tháng 8 năm 2018 3 Nộp Đề cƣơng tại Khoa Tháng 8 năm 2018 4 Bảo vệ Đề cƣơng tại Khoa Theo kế hoạch tại Khoa 5 Thu thập thêm tài liệu tham khảo Tháng 9 năm 2018 6 Tiến hành viết đề cƣơng chi tiết Tháng 11 năm 2018 7 Hoàn thiện Chƣơng I Luận văn Tháng 01 năm 2019 8 Hoàn thiện Chƣơng II Luận văn Tháng 03 năm 2019 9 Hoàn thiện Chƣơng III Luận văn Tháng 05 năm 2019 10 Hoàn thiện toàn bộ Luận văn Tháng 08 năm 2019 11 Nộp Luận văn Tháng 09 năm 2019 12 Bảo vệ Luận văn Theo kế hoạch tại Khoa 11 z CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TÒA ÁN HÌNH SỰ QUỐC TẾ VÀ QUYỀN CON NGƢỜI 1.
Khái quát về Tòa án hình sự quốc tế 1. Quá trình hình thành và phát triển của Tòa án hình sự quốc tế Vào đầu 1872, Gustave Moynier, một ngƣời Thuỵ Sĩ, đã đƣa ra ý kiến về việc thành lập một tòa án hình sự ở quy mô quốc tế sau khi chứng kiến sự bạo tàn của cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (1870 – 1871). Nhƣng tại thời điểm đó, ý kiến này đã không nhận đƣợc sự ủng hộ tích cực từ phía các quốc gia. Năm 1948, trong hai phiên tòa Nuremberg và Tokyo xét xử những tội phạm Đức Quốc xã và Nhật Bản, Đại hội đồng (Liên Hợp Quốc) đã công nhận nhu cầu cần có một cơ chế thƣờng xuyên nhằm truy tố những kẻ sát nhân và những tội phạm chiến tranh.
Từ việc công nhận của Liên Hợp Quốc, rất nhiều điều ƣớc quốc tế đã xác định và nghiêm cấm các hành vi tội ác chiến tranh cùng với sự phát triển của luật quốc tế bảo vệ nhân quyền. Có thể kể đến nhƣ, Công ƣớc về tội diệt chủng năm 1948 bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 12/1/1951, đã liệt kê năm hành động đƣợc coi là hành động diệt chủng gồm sát hại các thành viên của nhóm ngƣời đó; gây nên những tổn hại nghiêm trọng về thể xác và tinh thần đối với các thành viên của nhóm ngƣời đó; cố tình buộc nhóm ngƣời đó phải chịu những điều kiện sống đƣợc tính toán nhằm gây nên sự tiêu vong toàn bộ hoặc một phần nhóm ngƣời đó; áp đặt các biện pháp nhằm ngăn chặn việc sinh đẻ trong nhóm ngƣời đó; dùng vũ lực chuyển trẻ em trong nhóm ngƣời đó sang một nhóm khác.3 Hay nhƣ, Công ƣớc không áp dụng thời hiệu tố tụng với tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại 1968 thừa nhận rằng, cần thiết và đã đến lúc khẳng định trong luật pháp quốc tế, thông qua Công ƣớc này, nguyên tắc không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với tội ác chiến tranh và tội ác chống 12 z nhân loại và bảo đảm việc áp dụng toàn cầu nguyên tắc này; Công ƣớc chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc có hiệu lực từ năm 1987, nhằm mục đích phòng chống tra tấn trên toàn thế giới, đòi hỏi các nƣớc phải có biện pháp hữu hiệu để phòng chống tra tấn trong nƣớc mình, và nghiêm cấm các nƣớc trả lại ngƣời về đất nƣớc của họ nếu có lý do để tin rằng ở đó họ sẽ bị tra tấn; Công ƣớc Genève về đối xử nhân đạo đối với tù binh, hàng binh chiến tranh là công ƣớc về các quy tắc mà các nƣớc đã phê chuẩn hoặc chƣa phê chuẩn đƣợc khuyến cáo tuân theo khi đối xử với tù binh, hàng binh chiến tranh và dân thƣờng trong vùng chiếm đóng. Hƣớng dẫn về việc bảo toàn an toàn tính mạng, danh dự, phẩm giá tù binh và hàng binh, bao gồm các khuyến cáo về việc trợ giúp cứu chữa cho ngƣời bị thƣơng; các hành vi bị khuyến cáo không đƣợc phép dùng để truy bức về tinh thần và thể xác; các hình thức, các nhục hình và các lời nói làm xúc phạm đến nhân phẩm ngƣời bị bắt hoặc xúc phạm niềm tin tôn giáo, tín ngƣỡng hoặc lý tƣởng ngƣời bị bắt; các khuyến cáo về việc không đƣợc dùng tù binh và hàng binh làm con tin hoặc bia đỡ đạn, hoặc lao động khổi sai. các hƣớng dẫn về việc sinh hoạt tối thiểu của ngƣời bị bắt về vệ sinh, lƣơng thực, thuốc men, thực phẩm tuỳ theo điều kiện cho phép của các bên và tình hình chiến trƣờng.
Tuy nhiên những Công ƣớc, điều ƣớc quốc tế đó lại không đƣa ra đƣợc đề xuất khả thi nào về một cơ chế quy kết trách nhiệm hình sự của các cá nhân.4 Trƣớc Rome, Tòa án Hình sự quốc tế Nam Tƣ cũ (ICTY) đƣợc thành lập năm 1993 là một cơ quan của Liên Hợp Quốc đƣợc thành lập để truy tố các tội phạm nghiêm trọng vi phạm trong các cuộc chiến tranh ở Nam Tƣ cũ từ năm 1991, thƣờng đƣợc gọi là Tòa án tội phạm quốc tế Nam Tƣ cũ, và xét xử các thủ phạm tội ác này. Đây là một tòa đặc biệt đƣợc đặt tại La Haye, Hà Lan. Và Tòa án Hình sự quốc tế Rwanda đƣợc thành lập vào năm 1994, theo Nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, có nhiệm vụ xét xử những 13 z ngƣời đã gây ra nạn diệt chủng Rwanda cùng những tội ác nghiêm trọng vi phạm luật pháp quốc tế xảy ra tại Rwanda từ ngày 01/01 đến ngày 31/12/1994. Đây là hai tòa án không thƣờng trực nhằm xét xử các tội phạm chiến tranh ở hai quốc gia, khu vực cụ thể.
Tuy nhiên, hai tòa án này chỉ thực hiện đƣợc chức năng của mình trong phạm vi hẹp, hạn chế, chỉ giải quyết đƣợc các tội phạm nghiêm trọng có liên quan đến chiến tranh ở Nam Tƣ, ở Rwanda, còn những tội ác nhân loại khác thì không can thiệp, giải quyết đƣợc. Vì vậy, tình hình đặt ra là cần có phải có một thiết chế Tòa án hình sự quốc tế mang tính bao quát và có chức năng, nhiệm vụ, vai trò mang tầm quốc tế. Do đó, năm 1998, đã có 160 quốc gia đã tham gia vào Hội nghị ngoại giao của Liên Hợp Quốc (LHQ) đƣợc tổ chức tại Rome từ 15/6 đến 17/7/1998 để thông qua một trong các thiết chế của luật hình sự quốc tế là Tòa án hình sự quốc tế (International Criminal Court, gọi tắt là ICC) đƣợc thành lập dựa trên Quy chế Rome ngày 17/7/1998. Văn bản dự thảo đƣợc đệ trình tại Hội nghị lần này là kết quả chuẩn bị của Uỷ ban luật quốc tế của Liên Hợp Quốc, của những cuộc đàm phán lớn và những thỏa hiệp rất thận trọng.
Văn kiện đã đƣợc các đoàn đại biểu có mặt đồng ý thông qua trọn gói (package deal) bằng bỏ phiếu, trong đó có 120 phiếu ủng hộ, 7 phiếu chống và 21 quốc gia không tham gia bỏ phiếu. Đây là một sự kiện hết sức có ý nghĩa đúng vào lúc cả nhân loại kỷ niệm 50 năm ngày thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời (10/12/1948). Với việc 10 quốc gia phê chuẩn Quy chế ngày 11/4/2002, Quy chế bắt đầu phát sinh hiệu lực từ ngày 01/7/2002 căn cứ theo Điều 126. Quy chế đƣợc chia thành 13 phần và 128 điều khoản trong đó định nghĩa về các tội phạm hình sự, thẩm quyền xét xử, cơ cấu tổ chức, thẩm quyền của Tòa, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan cũng nhƣ những nguyên tắc chung của luật hình sự, bản án, thủ tục tố tụng hình sự, việc thi hành các bản án và hợp tác trong lĩnh vực hình sự, đặc biệt nhấn mạnh đến 14 z những nguyên tắc của luật hình sự quốc tế….
Căn cứ theo Điều 120, các quốc gia tham gia không đƣợc phép bảo lƣu đối với bất kỳ điều khoản nào trong Quy chế.