đặt vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số trong từng ngữ cảnh khác nhau và xem xét toàn bộ các yếu tố tác động đến vấn đề này một cách có hệ thống, cũng như đánh giá dưới góc độ so sánh. Đó là lý do đề tài “Bảo vệ cổ đông thiểu số tại Việt Nam: Một phân tích so sánh” được lựa chọn. Câu hỏi nghiên cứu Để giải quyết vấn đề được đề cập, các câu hỏi nghiên cứu được đưa ra: (i) Các quy định liên quan đến vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số đã thực sự hiệu quả? Để trả lời câu hỏi này, tôi phân tích khung pháp lý bảo vệ cổ đông thiểu số hiện tại của Việt Nam trong ngữ cảnh so sánh. Việc lựa chọn tiêu chuẩn so sánh là rất quan trọng.
Nếu lựa chọn tiêu chuẩn không phù hợp, có thể làm cho việc so sánh ít có ý nghĩa. Một thực tế trong so sánh pháp lý, không có một tiêu chuẩn thống nhất để lựa chọn. Mặc dù, OECD đã ban hành tiêu chuẩn về quản trị công ty liên quan đến bảo vệ cổ đông thiểu số (tiêu chuẩn OECD), nhưng đây là tiêu chuẩn của các nước đã phát triển và mô hình quản trị công ty khác với Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, nên nghiên cứu này không sử dụng tiêu chuẩn OECD như là một so sánh chính thức.
Tuy nhiên, những quy định về bảo vệ cổ đông nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng theo tiêu chuẩn OECD phù hợp với ngữ cảnh của Việt Nam sẽ là nguồn tham khảo hữu ích. Đối với tiêu chuẩn mang tính pháp lý, tôi sử dụng khung pháp lý về bảo vệ cổ đông thiểu số của Thái Lan và Hoa Kỳ như là nguồn so sánh chính thức. Tiêu chuẩn Thái Lan được lựa chọn do xếp hạng về bảo vệ cổ đông thiểu số của Ngân hàng thế giới (WB) năm 2016 đứng thứ 33, trong khi Việt Nam là 121. Ngoài ra, cấu trúc cổ đông công ty Thái Lan thuộc sở hữu tập trung, một số ít cổ đông lớn nắm giữ tỷ lệ cổ phần chi phối5, tương tự như trường hợp Việt Nam.
Legal framework for promoting minority shareholders. 4 Hệ thống pháp luật của Việt Nam được xếp vào nhóm “Luật dân sự” – Civil law, vừa mang tư tưởng của trường phái pháp lý xã hội chủ nghĩa (Liên Xô củ)6, chịu ảnh hưởng pháp luật của Pháp. Tuy nhiên, đối với những quy định pháp lý về quản trị công ty, Việt Nam vay mượn từ các nước phương tây, đặc biệt là các nước theo hệ thống luật Luật thông lệ7. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, Luật công ty của Hoa kỳ, đặc trưng của Anglo American (Comon law), rất chú trọng đến bảo vệ cổ đông thiểu số và mức độ bảo vệ lớn hơn so với những quốc gia thuộc hệ thống “Luật dân sự”.
Do đó, trong nghiên cứu này, ngoài khung pháp lý của Thái Lan, những quy định của Hoa Kỳ về bảo vệ cổ đông thiểu số sẽ được phân tích, đánh giá, và tham chiếu đối với khung pháp lý của Việt Nam. (ii) Có thể vay mượn các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số từ nước ngoài? Hiện tượng vay mượn pháp lý (transplant) của quốc gia khác để sử dụng là tương đối phổ biến trên thế giới. Trong những trường hợp xuất hiện lĩnh vực, vấn đề, hoặc ngành nghề mới và chưa có luật điều chỉnh, một quốc gia có thể nhập khẩu luật của một quốc gia khác để sử dụng. Trong quá trình phát triển, trên thực tế, Việt Nam đã vay mượn luật từ những quốc gia thuộc nhóm Luật dân sự và cả những quốc gia thuộc nhóm Luật thông lệ9.
Sự vay mượn này giúp bù đắp những thiếu hụt pháp lý cần thiết liên quan đến những vấn đề, lĩnh vực, hoặc ngành nghề cần phải có luật điều chỉnh. Tuy nhiên, sự bù đắp bằng vay mượn pháp luật của quốc gia khác có thành công trong thực tế hay không là vấn đề cần được xem xét, nếu không, những điều khoản vay mượn đó sẽ không mang lại hiệu quả trên thực tế. Changing concepts of socialist law in Vietnam, in Asian socialism & legal change the dynamics of Vietnamese and Chinese reform, Asia Pacific Press at ANU, Canberra, A. 7 Le Minh Toan and Walker Gordon, 2008.
Corporate Governance of Listed Companies in Vietnam. Bond Law Review: Vol. Available at: http://epublications.au/blr/vol20/iss2/6 8 Holger Spamann, 2009. Contemporary legal transplants – legal families and the diffusion of (corporate) law.
Discussion Paper No. 28, 4/2009, Harvard Law School. 9 Hanh Do Thi Mai, 2011. Transplanting common law precedents: An appropriate solution for defects of legislation in vietnam.
European Scientific Journal, Vol 7, No 26. 5 Những quy định pháp lý về quản trị công ty theo Luật công ty Hoa kỳ có mục tiêu hướng đến bảo vệ nhóm cổ đông thiểu số và đây là vấn đề chính trong thiết kế Luật công ty của họ. Dựa vào luận điểm này, việc tham khảo những quy định pháp lý của Hoa Kỳ về vấn đề này để áp dụng tại Việt Nam có thể hữu ích. Tuy nhiên, Troy A.
Paredes (2004) tranh luận rằng việc vay mượn, nhập khẩu, hoặc tham khảo pháp luật Hoa Kỳ vào các quốc gia đang phát triển có thể gặp nhiều trục trặc, do sự khác biệt về cấu trúc nền kinh tế, hệ thống chính trị, trật tự xã hội, và các giá trị văn hóa. Như vậy, khi áp dụng hoặc vay mượn pháp lý của một quốc gia khác cần phải tính đến các yếu tạo nên sự khác biệt đó. Thông thường, các nước đang phát triển thường vay mượn pháp lý từ các quốc gia đã phát triển (Châu Âu và Hoa Kỳ). Sau khi khối xã hội chủ nghĩa sụp đổ, các Đông Âu đã thay đổi hệ thống pháp lý bằng cách sử dụng pháp lý của các nước Châu Âu10.
Hiện tượng này của họ một mặt phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường, mặt khác chính là đòi hỏi khi gia nhập liên minh Châu Âu. Trong quá trình phát triển kinh tế, các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, và Mã Lai cũng đã vay mượn pháp lý từ các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Anh, Úc, và Đức. Rất nhiều các dự án chuyển đổi pháp lý được tài trợ bởi các tổ chức đa phương11. Các dự án chuyển đổi này thường tập trung vào nội dung pháp lý, cũng như sử dụng những khung pháp lý, khái niệm, và những chuẩn mực cụ thể từ các quốc gia đã phát triển để áp dụng cho các quốc đa trong quá trình chuyển đổi hoặc đang phát triển.
Kết quả của nó thường là thất bại và không hiệu quả12. Nhà nghiên cứu luật so sánh Alan Watson cho rằng việc sử dụng pháp lý của một quốc gia khác bằng cách vay mượn là khả thi và cấu thành một nguồn luật quan trọng cho quốc gia khác13. Tuy nhiên, Kahn-Freund lại cho rằng luật chỉ phù hợp trong những ngữ cảnh cụ thể và tùy thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường văn hóa và chính trị14. 10 María Paula Reyes Gaitán, 2014.
The Challenges of Legal Transplants in a Globalized Context: A Case Study on ‘Working’ Examples. University of Warwick. 11 Sử dụng nguồn pháp lý của các quốc gia để áp dụng cho một quốc gia khác. 12 Peerenboom and Randall, 2012.
Toward a methodology for successful legal transplants. Available at: http://ssrn.com/abstract=1981887 or http://dx. The viability of transplanted law: Kazakhstani reception of a transplanted foreign investment code. 6 Như đã đề cập ở trên, việc hoàn thiện và thay đổi khung pháp lý dựa trên “vay mượn” không phải là điều dễ dàng.
Nhiều kinh nghiệm về vấn đề này cho thấy như vậy. Những khác biệt giữa các quốc gia đã chi phối và làm giảm hiệu quả trong việc tiếp thu pháp lý của một quốc gia khác. Vấn đề đầu tiên khi vay mượn pháp lý là phải xem xét những quy định về khung pháp lý đó có hiệu quả tại quốc gia đang áp dụng và dự tính được hiệu quả trong việc lựa chọn tại quốc gia tiếp nhận15. Những vấn đề này nếu không được tính đến, việc hoàn thiện khung pháp lý từ nguồn vay mượn sẽ chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
Một trong những trở ngại chính đối với vay mượn khung pháp lý chính là văn hóa. Văn hóa ở đây không chỉ đề cập đến những cá nhân hoặc một nhóm người cụ thể mà bao gồm cả cộng đồng. Hiểu một cách tương đối, văn hóa là những gì tích lũy theo thời gian tạo thành thói quen. Chẳng hạn, văn hóa kinh doanh của một cộng đồng nào đó là không minh bạch và không có tinh thần trách nhiệm xã hội.
Khi đó, việc du nhập khung pháp lý từ nước ngoài quy định cụ thể việc minh bạch thông tin và yêu cầu cộng đồng doanh nghiệp kinh doanh dựa trên trách nhiệm đôi khi có thể là một thứ “xa xỉ”. Như vậy, trong một khía cạnh cụ thể nào đó, việc áp dụng từ vay mượn pháp lý có thể chống lại văn hóa đang tồn tại. Một trở ngại khác là vấn đề xung đột lợi ích. Những đề xuất hoàn thiện pháp lý trong việc bảo vệ cổ đông thiểu số có thể ảnh hưởng đến những nhóm lợi ích hiện tại, có thể là những cổ đông lớn, những người quản lý công ty.
Những nhóm này có thể chống lại việc hoàn thiện và áp dụng khung pháp lý. Ngoài ra, khó khăn từ chính những cơ quan ban hành các quy định và thực thi pháp lý. Vấn đề hiệu lực và thực thi luật pháp là rất quan trọng, nghiên cứu này đánh giá chi tiết những điểm yếu trong hệ thống quy định liên quan đến vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số. Một quốc gia có hệ thống quy định pháp lý tốt, nhưng thực thi kém, hệ quả là hệ thống đó không có hiệu quả.
Transplanting Legal Models across Culturally Diverse Societies: A Comparative Law Perspective. Osaka University Law Review, pp. Phương pháp nghiên cứu Để trả lời những câu hỏi như trên, tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích so sánh và phương pháp học thuyết pháp lý. Phương pháp phân tích so sánh Theo cách tiếp cận này, thứ nhất, tôi sẽ so sánh các quy định hiện tại về bảo vệ cổ đông thiểu số với các quy định trước đây.
Thứ hai, tôi so sánh các quy định về bảo vệ cổ đông thiểu số tại Việt Nam so với quy định của Thái Lan và Hoa Kỳ (bang Delaware). Việc so sánh như vậy sẽ mang lại một sự đánh giá tổng quan và cụ thể đối với vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số. Phương pháp học thuyết pháp lý Phương pháp này hướng đến giải thích tại sao những quy định pháp lý tồn tại trong xã hội. Sự giải thích này có thể dựa trên khía cạnh lịch sử, kinh tế, nguyên tắc, chuẩn mực, tâm lý, và tính hợp lý của vấn đề dựa trên quan điểm16.