Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Châu thổ sông Hồng là vùng đất hạ lưu màu mỡ với hệ sinh thái sông nước đặc trưng, nơi sản sinh và nuôi dưỡng nhiều loại hình văn hóa dân gian độc đáo của cư dân nông nghiệp lúa nước, tiêu biểu là nghệ thuật múa rối nước – di sản văn hóa phi vật thể hiện chỉ có tại Việt Nam. Tỉnh Thái Bình là vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa với nhiều di tích và loại hình nghệ thuật dân tộc nổi tiếng như đền Trần, chùa Keo, lăng mộ nhà bác học Lê Quý Đôn cùng nghệ thuật hát chèo. Bên cạnh đó, múa rối nước Thái Bình là một bộ phận cấu thành quan trọng trong không gian văn hóa vùng châu thổ. Tuy nhiên, trước tác động của cơ chế thị trường và quá trình đô thị hóa, nghệ thuật múa rối nước tại địa phương đang đứng trước nguy cơ mai một, thiếu vắng khán giả, phạm vi hoạt động bị thu hẹp và chưa phát huy tối đa giá trị trong đời sống xã hội cũng như hoạt động du lịch. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Bùi Thị Thúy Dung đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật múa rối nước truyền thống ở Thái Bình hiện nay".

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích lịch sử hình thành, phát triển và những nét đặc trưng văn hóa nghệ thuật của múa rối nước, khóa luận làm rõ thực trạng công tác bảo tồn, phát huy giá trị múa rối nước tại tỉnh Thái Bình; từ đó đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp nhằm bảo tồn bền vững loại hình sân khấu truyền thống này.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan về nghệ thuật múa rối nước truyền thống và làm rõ các giá trị văn hóa, nghệ thuật tiêu biểu của loại hình này.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật múa rối nước tại tỉnh Thái Bình (thành tựu, hạn chế và nguyên nhân).
  3. Đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, phát huy nghệ thuật múa rối nước ở Thái Bình trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình nghệ thuật múa rối nước truyền thống tại Thái Bình.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thái Bình, trọng tâm khảo sát tại hai phường rối còn hoạt động là phường rối xã Nguyên Xá (làng Nguyễn) và phường rối xã Đông Các (làng Đống) thuộc huyện Đông Hưng.
  • Phạm vi thời gian: Tiến trình lịch sử từ khi hình thành các phường rối dân gian đến mốc thời gian hoàn thành khóa luận (năm 2019).

Lịch sử nghiên cứu vấn đề: Khóa luận kế thừa và tham khảo các công trình nghiên cứu tiêu biểu:

  • Tô Sanh (1976), Nghệ thuật múa rối nước, NXB Văn hóa (nghiên cứu nguồn gốc, kỹ thuật, đặc điểm sân khấu).
  • Nguyễn Huy Hồng (1974, 1987, 2005), Nghệ thuật múa rối Việt Nam, Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình, Lịch sử nghệ thuật múa rối Việt Nam.
  • Hoàng Chương (chủ biên), Đoàn Thị Tình, Đặng Ánh Ngà, Phan Thanh Liêm (2012), Nghệ thuật múa rối nước Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin.
  • Luận án của Vũ Tú Quỳnh về Sự phục hồi của rối nước đồng bằng Bắc Bộ; Luận văn Thạc sĩ của Phạm Trọng Toàn (2007) về Nghệ thuật múa rối nước cổ truyền làng Nguyễn; Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Hoàng Minh Vân (2011) về Hoạt động của các phường rối nước ở châu thổ sông Hồng – Thực trạng và giải pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm:

  • Phương pháp luận: Khóa luận dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
  • Khái niệm công cụ: Khái niệm "Múa rối" của Tô Sanh (nghệ thuật sân khấu truyền cảm kết hợp tạo hình và điều khiển con rối) và Nguyễn Huy Hồng trong Từ điển Văn học (1984) (loại hình sân khấu dùng con rối làm trò, đóng kịch, diễn viên giấu mình sau buồng trò).
  • Cơ sở pháp lý: Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 Khóa VIII; Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị về văn học nghệ thuật; Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đặc biệt là Điều 20 (bảo vệ di sản) và Điều 26 (chính sách tôn vinh nghệ nhân); Nghị quyết số 05/NQ-CP (tháng 1/2011); Quyết định số 581/QĐ-TTg (tháng 5/2009) phê duyệt Chiến lược phát triển Văn hóa đến năm 2020.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích các văn bản lịch sử, văn bia, tư liệu sách báo chuyên khảo về múa rối dân gian.
  • Phương pháp logic – lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động của múa rối nước qua các thời kỳ phong kiến, kháng chiến và thời kỳ Đổi mới.
  • Phương pháp điều tra thực tế (điền dã xã hội học): Thu thập thông tin trực tiếp từ các nghệ nhân, trưởng phường rối tại xã Nguyên Xá và xã Đông Các; tổng hợp số liệu về cơ cấu nhân sự, thù lao biểu diễn, nguồn vốn tài trợ và hiện trạng cơ sở vật chất.

Nguồn dữ liệu:

  • Văn bia cổ "Sùng Thiện Diên Linh" dựng năm 1121 tại chùa Đọi (Hà Nam).
  • Báo cáo, tư liệu hoạt động của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, các văn bản chính sách của địa phương.
  • Dữ liệu thực tế ghi nhận tại hai phường múa rối nước Nguyên Xá và Đông Các (làng Đống).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nghệ thuật múa rối nước truyền thống

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về múa rối cạn và múa rối nước, làm rõ lịch sử phát triển và các thành tố cấu thành nghệ thuật rối nước truyền thống:

  • Phân loại múa rối: Múa rối dân gian Việt Nam gồm múa rối cạn (rối tay, rối que, rối máy, rối dây, rối bóng, rối mặt nạ với các tên gọi địa phương như ổi lỗi, Slương pấtlạp, Mộc thầu hí, Hát gỗ) và múa rối nước (loại hình dùng mặt nước làm sân khấu).
  • Lịch sử hình thành và phát triển: Chứng tích văn bản sớm nhất khẳng định sự phát triển của rối nước là tấm bia Đại Việt quốc đương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh dựng năm 1121 dưới đời vua Lý Nhân Tông do Nguyễn Công Bật soạn thảo tại chùa Đọi. Nghệ thuật này tiếp tục phát triển thời Trần, dịch chuyển về hội hè làng quê dưới thời Lê, Nguyễn, chịu tổn thất trong kháng chiến chống Pháp (1946–1954), được khôi phục sau năm 1954 (thành lập ngành Rối chuyên nghiệp tháng 3/1956), vươn ra quốc tế năm 1984 và tiếp tục bảo tồn trong thời kỳ Đổi mới (từ 1986).
  • Các yếu tố cấu thành múa rối nước:
    • Con rối: Chế tác chủ yếu bằng gỗ sung (đặc tính nhẹ, dai, dễ gọt và nổi tốt), phủ lớp sơn chống thấm. Cấu trúc gồm phần thân (chuyển động tạo hình) và phần đế (giữ thăng bằng và liên kết hệ thống dây, sào điều khiển). Nhân vật trung tâm là chú Tễu – hình tượng thân hình béo tròn, cởi trần đóng khố, miệng cười tươi, giữ vai trò giáo trò mở màn.
    • Sân khấu biểu diễn (Thủy đình/Buồng trò): Dựng giữa ao hồ, dài 10–15m; cấu trúc kiến trúc truyền thống hình vuông hai tầng tám mái lợp ngói mũi hài hình vẩy cá, bốn góc uốn đầu đao. Mặt nước đóng vai trò phản chiếu không gian và che giấu toàn bộ que, dây, máy điều khiển.
    • Âm nhạc và văn học: Sử dụng bộ gõ chủ đạo (trống cái, trống con, trống cơm, mõ, thanh la, não bạt) phối hợp các làn điệu hát chèo, hát tuồng. Lời giáo trò chủ yếu là văn biền ngẫu hoặc thơ lục bát lưu truyền bằng phương thức truyền khẩu.
    • Nghệ nhân và cách thức biểu diễn: Học nghề theo phương thức truyền ngón, thực hành nghiêm ngặt lời thề giữ bí mật nghề nghiệp ("chết một đời cha, chết ba đời con"), xưa kia chỉ truyền cho nam giới.
Thành tố Đặc điểm kỹ thuật và nghệ thuật trong múa rối nước
Vật liệu quân rối Gỗ sung nguyên khối, sơn chống thấm; chia thành phần thân nổi và phần đế chìm gắn máy.
Kiến trúc thủy đình Nhà hai tầng tám mái lợp ngói mũi hài, dựng trên mặt ao hồ rộng 10–15m.
Dàn nhạc đệm Bộ gõ (trống cái, trống con, mõ, thanh la, não bạt) kết hợp làn điệu chèo, tuồng.
Phương thức truyền nghề Truyền khẩu, gia truyền mang tính bí mật làng nghề, học thông qua quan sát thực hành.
  • Giá trị văn hóa nghệ thuật: Múa rối nước là sản phẩm của cư dân nông nghiệp lúa nước đồng bằng Bắc Bộ, gắn liền với không gian sinh hoạt cộng đồng làng xã, phản ánh lao động sản xuất (xay lúa, giã gạo, chăn vịt, bắt cá) và tinh thần lạc quan yêu đời của người nông dân.

Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tại Thái Bình hiện nay

Chương 2 phân tích điều kiện tự nhiên - xã hội của tỉnh Thái Bình, thực trạng hoạt động của hai phường rối còn tồn tại, chỉ ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân:

  • Bối cảnh địa phương: Thái Bình gồm 8 huyện/thành phố, 284 xã/phường/thị trấn; là tỉnh đồng bằng duy nhất không có đồi núi, được bao bọc bởi 4 con sông lớn (sông Hóa, sông Luộc, sông Hồng, sông Trà Lý) và hơn 50 km bờ biển; 80% dân cư làm nông nghiệp; sở hữu 2 khu dự trữ sinh quyển thế giới.
  • Các phường rối truyền thống tại Thái Bình: Toàn tỉnh xưa có 7 phường rối: Bắc Lạng, Tây Trong, Tây Ngoài (xã Nguyên Xá), Tăng (xã Phú Châu), Tước (xã Phú Lương), Đống (xã Đông Động), Kỳ Hội (xã Đông Hà). Đến nay chỉ còn 2 phường hoạt động thường xuyên thuộc huyện Đông Hưng là phường rối Nguyên Xá và phường rối Đông Các.
Tiêu chí so sánh Phường rối Nguyên Xá (làng Nguyễn) Phường rối Đông Các (làng Đống)
Năm thành lập ghi nhận Cổ truyền nhiều đời Thành lập năm 1931 (3 cụ: Phạm Viết Tạo, Phạm Việt Cư, Phạm Viết Nghinh)
Tạo hình Chú Tễu Cao 0,9m (lớn nhất sân khấu rối nước), diện mạo nghiêm trang, trẻ trung Cao 0,7m, diện mạo tròn béo, mang nét chàng trai nông dân làm ruộng
Kỹ thuật điều khiển Phối hợp máy sào và hệ thống máy dây phức tạp Chủ yếu sử dụng máy sào và que tay, rất ít trò dây
Sân khấu đặc trưng Thủy đình kiên cố hiện đại, diễn trên mặt ao Thủy đình cố định 200 chỗ ngồi và sáng chế thùng nước diễn lưu động
Âm nhạc, lời giáo Nghệ nhân hát trực tiếp theo làn điệu chèo Sử dụng băng thu âm sẵn lời hát và bài giáo trò
Quy mô nhân lực 22 thành viên (độ tuổi từ 26 đến 80) 21 thành viên (độ tuổi từ 33 đến 85)
Nghệ nhân tiêu biểu 5 Nghệ nhân Ưu tú: Nguyễn Hữu Ngữ, Nguyễn Bá Thắng, Nguyễn Trọng Đường, Nguyễn Hữu Phi, Nguyễn Trọng Chín Phạm Viết Túy, Phạm Viết Lăng, Nguyễn Văn Thành, Phạm Viết Trâm, Phạm Viết Rục, Phạm Viết Viêm
  • Thành tựu bảo tồn và nguyên nhân:
    • Danh hiệu và giải thưởng: Năm 2018, nghệ thuật múa rối nước Nguyên Xá và Đông Các được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tại Liên hoan Múa rối nước toàn quốc 1994, Nguyên Xá đạt 3 HCV, 2 HCB; làng Đống đạt 3 HCV, 3 HCB. Năm 2011, cả hai phường đạt giải A tại Hội diễn múa rối không chuyên toàn quốc tại Hải Dương.
    • Hoạt động lưu diễn: Tham gia Festival Huế (Nguyên Xá năm 2004, 2006; làng Đống năm 2004); biểu diễn phục vụ Giỗ Tổ Hùng Vương (2005, 2008, 2017); biểu diễn định kỳ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (làng Đống các năm 2009, 2014; Nguyên Xá từ tháng 9/2018). Phường rối Nguyên Xá từng lưu diễn tại Đài Loan 1,5 tháng; phường Đông Các hỗ trợ TS. Hà Lương Thuần thành lập Nhà hát múa rối nước Đảo Ngọc tại Phú Quốc (2014).
    • Sáng tác tích trò mới: Nguyên Xá phát triển các trò "Dệt cửi trao con", "Cải cách ruộng đất", "Thị Mầu lên chùa", "Xóc đĩa", "Thuốc phiện". Làng Đống sáng tạo các vở "Đánh đèo Hải Vân", "Cu Tý đánh Tây" và đưa trích đoạn tuồng Sơn Hậu vào biểu diễn.
    • Đầu tư cơ sở hạ tầng: Năm 2000, Sở VHTT đầu tư 70 triệu đồng xây hồ rối tại Nguyên Xá; năm 2003, Quỹ Ford tài trợ xây dựng thủy đình cho cả 2 phường và mở lớp đào tạo nghệ nhân trẻ (đào tạo được nghệ nhân Nguyễn Văn Giang, Phạm Viết Diện); năm 2015, nâng cấp mái thủy đình Nguyên Xá và trang bị loa máy cho làng Đống; năm 2018, tỉnh hỗ trợ 90 triệu đồng làm mới quân rối.
Mốc thời gian Nguồn đầu tư / Tổ chức Nội dung đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất
Năm 2000 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 70 triệu đồng xây dựng hồ múa rối tại xã Nguyên Xá
Năm 2003 Quỹ Ford (tài trợ quốc tế) Tài trợ kinh phí xây dựng thủy đình cố định và đào tạo nghệ nhân trẻ
Năm 2015 Tỉnh Thái Bình / Địa phương Nâng cấp mái, hệ thống điện, nhà khách Nguyên Xá; cấp tăng âm loa máy làng Đống
Năm 2018 UBND tỉnh Thái Bình Hỗ trợ 90 triệu đồng phục vụ sửa chữa và làm mới hệ thống quân rối
  • Hạn chế và nguyên nhân:
    • Tổ chức biểu diễn manh mún: Không có lịch diễn cố định; hoạt động theo hình thức thời vụ trong hội làng. Chi phí vận chuyển cồng kềnh (đoàn 15 người cùng xe tải chở đồ) khiến thu nhập thực tế rất thấp (khoảng 100.000 đồng/người/buổi diễn theo phản ánh của Trưởng phường Nguyễn Bá Thắng).
    • Nguy cơ đứt gãy thế hệ: Đa số nghệ nhân đã cao tuổi (trên 80 tuổi), sức khỏe suy giảm khi phải ngâm mình dưới nước; thanh niên địa phương không mặn mà học nghề do thu nhập thấp.
    • Bất cập trong sáng tạo vở mới: Thiếu kinh phí dàn dựng; một số tích trò hiện đại bị đánh giá là lai tạp, làm mất đi tính mộc mạc dân gian truyền thống ("gieo vừng ra ngô" theo nhận định của các chuyên gia Hoàng Chương, Ngô Quỳnh Giao).
    • Tác động đô thị hóa: Ao hồ làng quê bị thu hẹp; thị hiếu giải trí thay đổi; công tác quảng bá, giáo dục di sản cho thế hệ trẻ chưa được triển khai đồng bộ.

Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước ở Thái Bình

Chương 3 trình bày các định hướng mang tính chiến lược và cơ sở pháp lý nhằm duy trì, phát triển nghệ thuật múa rối nước:

  • Hoàn thiện cơ sở pháp lý và chính sách đãi ngộ: Thực hiện nhất quán các điều khoản của Luật Di sản văn hóa (Điều 20 về ngăn chặn nguy cơ mai một di sản; Điều 26 về chính sách ưu đãi, tôn vinh nghệ nhân). Đảm bảo 4 nhóm quyền cơ bản của nghệ nhân: Quyền sáng tạo nghệ thuật, Quyền công bố giá trị văn hóa, Quyền hưởng thụ chính sách ưu tiên đãi ngộ, và Quyền bảo vệ bản quyền tác giả.
  • Định hướng phát triển chuyên nghiệp gắn với du lịch: Quy hoạch các tour du lịch văn hóa kết nối các di tích lịch sử của Thái Bình (chùa Keo, đền Trần) với hai làng rối Nguyên Xá và Đông Các; hỗ trợ kinh phí định kỳ từ ngân sách nhà nước thay vì để các phường tự bơi theo cơ chế tự thu tự chi hoàn toàn.
  • Chiến lược đào tạo và truyền dạy: Nhân rộng mô hình đào tạo nghệ nhân trẻ do Quỹ Ford tài trợ; đưa chương trình giới thiệu di sản múa rối nước vào trường học trên địa bàn tỉnh để bồi dưỡng thị hiếu khán giả trẻ.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính:

  • Phục dựng bức tranh lịch sử múa rối nước Thái Bình: từ hệ thống 7 phường cổ truyền đến hiện trạng thu hẹp còn lại 2 phường Nguyên Xá và Đông Các (làng Đống).
  • Lập bảng tổng hợp, lượng hóa chi tiết số liệu nhân sự (Nguyên Xá: 22 người; Đông Các: 21 người), cơ cấu độ tuổi (nghệ nhân cao tuổi nhất 85 tuổi, trẻ nhất 26 tuổi), danh sách 5 Nghệ nhân Ưu tú cùng các nguồn vốn tài trợ (Sở VHTT 70 triệu năm 2000, Quỹ Ford 2003, tỉnh hỗ trợ 90 triệu năm 2018).
  • Làm rõ đặc trưng kỹ thuật phân biệt giữa hai phường: Nguyên Xá sử dụng cả máy sào - máy dây với chú Tễu cao 0,9m; Đông Các sử dụng máy sào - que tay với chú Tễu cao 0,7m và sáng chế thùng nước lưu động.

Đóng góp của tác giả:

  • Đánh giá thực trạng bảo tồn di sản dưới góc nhìn kinh tế - xã hội học và chính sách văn hóa cơ sở; chỉ ra mâu thuẫn giữa mô hình tự thu tự chi với yêu cầu bảo tồn di sản phi vật thể quốc gia.
  • Cung cấp nguồn dữ liệu điền dã thực tế có giá trị về tình hình tài chính, thu nhập thực tế của nghệ nhân (100.000 đồng/buổi diễn), phân tích các thất bại trong việc sáng tác vở mới hiện đại hóa thiếu kiểm soát.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Phạm vi khảo sát điền dã tập trung chủ yếu tại 2 phường rối thuộc huyện Đông Hưng, chưa khảo sát sâu dấu tích tàn dư của 5 phường rối cổ đã giải thể để tìm hiểu nguyên nhân đứt gãy truyền thống.
    • Hệ thống giải pháp ở Chương 3 nghiêng nhiều về định hướng chính sách, khung pháp lý và bảo tồn chung; chưa đưa ra mô hình kinh tế du lịch cụ thể (hạch toán chi phí - doanh thu) cho từng phường rối.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu cơ chế hợp tác công – tư (xã hội hóa) trong việc vận hành các nhà thủy đình làng xã kết hợp kinh doanh dịch vụ du lịch trải nghiệm.
    • Nghiên cứu số hóa di sản: ghi hình 3D, lập hồ sơ kỹ thuật hệ thống máy điều khiển sào, dây và kỹ thuật tạc tượng rối của các nghệ nhân cao tuổi trước nguy cơ thất truyền.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Văn hóa học, Quản lý văn hóa, Giáo dục chính trị, Sân khấu truyền thống và Lịch sử địa phương.
  • Nội dung đáng giá:
    • Tài liệu điền dã thực tế và hệ thống số liệu về cơ cấu nhân sự, kỹ thuật biểu diễn, danh mục trò diễn tại làng Nguyễn và làng Đống (Chương 2).
    • Hệ thống hóa tư liệu lịch sử và các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về chính sách đối với nghệ nhân dân gian (Chương 1 và Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Văn bia cổ nào là căn cứ lịch sử xác nhận nghệ thuật múa rối nước đã phát triển mạnh mẽ từ thời Lý ở Việt Nam?
Tác giả dẫn chứng văn bia Đại Việt quốc đương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh dựng năm 1121 tại chùa Đọi (Hà Nam) dưới triều vua Lý Nhân Tông, do Nguyễn Công Bật soạn thảo, trong đó miêu tả chi tiết cảnh rùa vàng nổi lên đội ba ngọn núi, phun nước và các tượng thần tiên xuất hiện múa bài "Gió về", "Vận tốt".

2. Thái Bình xưa kia có bao nhiêu phường rối nước và hiện nay còn lại những phường nào hoạt động?
Toàn tỉnh Thái Bình xưa có 7 phường rối gồm: Bắc Lạng, Tây Trong, Tây Ngoài (xã Nguyên Xá), Tăng (xã Phú Châu), Tước (xã Phú Lương), Đống (xã Đông Động), Kỳ Hội (xã Đông Hà). Đến năm 2019 chỉ còn 2 phường hoạt động thường xuyên là phường rối Nguyên Xá (làng Nguyễn) và phường rối Đông Các (làng Đống) thuộc huyện Đông Hưng.

3. Khác biệt cơ bản về kỹ thuật điều khiển và hình tượng chú Tễu giữa phường rối Nguyên Xá và Đông Các là gì?
Phường Nguyên Xá phối hợp cả máy sào và máy dây phức tạp, tạo hình chú Tễu cao to nhất Việt Nam (0,9m) diện mạo nghiêm trang, trẻ trung. Phường Đông Các chủ yếu dùng máy sào và que tay (rất ít trò dây), tạo hình chú Tễu cao 0,7m mang dáng dấp chàng trai nông dân béo tròn, đồng thời có sáng kiến biểu diễn bằng thùng nước lưu động.

4. Mức thù lao biểu diễn thực tế của nghệ nhân múa rối nước tại Thái Bình được ghi nhận là bao nhiêu?
Theo phản ánh của ông Nguyễn Bá Thắng (trưởng phường rối làng Đống) được tác giả trích dẫn, sau mỗi buổi biểu diễn mỗi thành viên chỉ nhận được khoảng 100.000 đồng – mức thu nhập quá thấp khiến lớp trẻ không mặn mà theo nghề, dẫn đến nguy cơ thiếu hụt thế hệ kế cận.

5. Nhà nước và các tổ chức đã có những hỗ trợ kinh phí cụ thể nào cho hai phường rối Thái Bình?
Sở VHTT đầu tư 70 triệu đồng xây hồ rối Nguyên Xá (năm 2000); Quỹ Ford tài trợ xây thủy đình (2003) và đào tạo nghệ nhân trẻ; tỉnh hỗ trợ tăng âm loa máy cho làng Đống và nâng cấp thủy đình Nguyên Xá (2015); UBND tỉnh hỗ trợ 90 triệu đồng sửa chữa, làm mới quân rối cho cả hai phường (năm 2018).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Thị Thúy Dung là công trình nghiên cứu hệ thống và nghiêm túc về lịch sử, giá trị nghệ thuật cùng thực trạng bảo tồn múa rối nước truyền thống tại tỉnh Thái Bình đến năm 2019. Tác giả đã chỉ rõ sự tương phản giữa bề dày thành tích di sản phi vật thể quốc gia với những thách thức cấp bách về cơ chế tự thu tự chi, tình trạng già hóa nghệ nhân và áp lực thương mại hóa làm biến dạng vốn cổ. Hệ thống giải pháp dựa trên Luật Di sản văn hóa và chính sách văn hóa cơ sở được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ thực tiễn có giá trị cho công tác quản lý và bảo tồn nghệ thuật múa rối nước dân gian.