phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận gồm 3 chƣơng. 4 c CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƢỚC TRUYỀN THỐNG 1. Nghệ thuật múa rối 1. Khái niệm nghệ thuật múa rối Bàn về nghệ thuật Rối thì ở nhiều nƣớc trên thế giới đều sử dụng khái niệm Sân khấu Rối hoặc Rối còn ở Việt Nam thì gọi nghệ thuật Rối là Múa rối.
Căn cứ vào đặc điểm về quân rối, kỹ thuật tạo hình hay sân khấu và nghệ thuật biểu diễn Múa rối, các nhà nghiên cứu trong nƣớc đã đƣa ra một số khái niệm về Múa rối nhƣ: Nhà nghiên cứu Tô Sanh là nguời đầu tiên đƣa ra khái niệm về Múa rối nhƣ sau: “Múa rối là một loại hình nghệ thuật sân khấu có khả năng truyền cảm một cách cao độ, là sự phối hợp tài tình giữa kỹ thuật và nghệ thuật tạo hình với kỹ thuật và nghệ thuật điều khiển, lấy con rối làm phƣơng tiện chủ yếu để hoàn thành nhiệm vụ thể hiện mọi mặt phong phú của trí tƣởng tƣợng loài ngƣời của hiện thực khách quan. Nó có khả năng tập trung hoà hợp nhiều hình thức nghệ thuật, không gian và thời gian kể cả các loại hình sân khấu khác. Nó phục vụ mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thiếu nhi. Múa rối có rất nhiều loại.
Nhân vật rối là trung tâm. Ngƣời diễn viên điều khiển thƣờng che dấu kín, sân khấu của nó và bản thân nó cần phù hợp với kích thƣớc với tính chất của ngƣời và rối, chứ không phải cơ bản do hoá trang ngƣời thật hoặc máy móc quyết định” [20; Tr. Trong từ điển Văn học, Nxb Khoa học xã hội - 1984, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng đã đƣa ra khái niệm về Múa rối nhƣ sau: “Múa rối là một loại hình sân khấu truyền thống của hầu khắp các dân tộc thế giới, chuyên thể hiện nhân vật bằng diễn viên mang mặt nạ, đội lốt hay điều khiển các con nộm, con giống. (quen gọi chung là con rối) làm trò, đóng kịch.
Con rối 5 c đƣợc sáng tạo, mô phỏng tự nhiên (động vật, thực vật) hay do tƣởng tƣợng (nhƣ thần, tiên, ma, quỷ, rồng, phƣợng .) bằng mọi chất liệu (gỗ, vải, giấy, bông, da, chất dẻo.) thành mọi kiểu (tƣợng, tròn, hình bẹt, hình bông.) và cử động nhờ phƣơng tiện: Tay (rối tay), que (rối que), dây (rối dây), máy (rối máy), gió (rối gió), hơi pháo (rối pháo), sức nƣớc (rối nƣớc). Nghệ sĩ Rối luôn luôn giấu kín mình, điều khiển con rối thể hiện hành động sân khấu cử động của thân hình nó và lời nói mƣợn ngƣời lồng tiếng tạo nên sự kỳ diệu của vật chết sống dậy, tái hiện chuyện đời thực và tƣởng tƣợng”. Nhƣ vây, chúng ta có thể hiểu múa rối là nghệ thuật dùng con rối làm trò và đóng kịch trên sân khấu. Nó bắt nguồn từ những trò chơi ngẫu nhiên trong sinh hoạt, thân thuộc trong cuộc sống của con ngƣời.
Con rối là nhân vật trung tâm nhƣng nó lại phụ thuộc vào sự phối hợp nhịp nhàng giữa nghệ thuật điêu khắc và bàn tay khéo léo điều khiển con rối của ngƣời nghệ nhân. Tất cả những điều đó đem lại niềm vui và tiếng cƣời cho khán giả. Các loại hình múa rối Nghệ thuật múa rối dân gian Việt Nam bao gồm : múa rối cạn và múa rối nƣớc. Mỗi loại rối lại có những đặc trƣng khác nhau phụ thuộc vào cấu tạo của mỗi loại rối.
Trước tiên, chúng ta sẽ tìm hiểu về nghệ thuật múa rối cạn Nghệ thuật múa rối cạn phát triển rộng khắp trên cả nƣớc với nhiều tên gọi khác nhau nhƣ: Miền Bắc có nhũng tên gọi: ổi, Lỗi, ổi lỗi, Khối lỗi, Rối, Múa rối, Trò, Trò máy,…theo cách gọi của ngƣời Việt, Mộc thầu hí theo cách gọi của ngƣời Nùng, Slƣơng pấtlạp theo cách gọi của ngƣời Tày, Mụa rội theo cách gọi của ngƣời Mƣờng,… ở miền Nam gọi múa rối cạn là Hát gỗ, Hát hình, … Múa rối cạn bao gồm nhiều thể loại khác nhau nhƣ: Rối tay, rối que, rối dây, rối bóng, rối mặt nạ, rối nhà mồ, rối lốt,… phần lớn“các tích trò trong 6 c múa rối cạn thƣờng sử dụng các làn điệu”chèo, ca trù, tuồng,… để dẫn trò, hát đế và biểu diễn trên sân khấu: Rối tay đƣợc mọi ngƣời ít biểu diễn trên sân khấu,“còn gặp nhiều trong trò nghi lễ chùa chiền. Rối tay có cấu tạo đầu bằng gỗ, mình khâu vải”(không tay). Để điều khiến con rối thì ngƣời nhân sẽ lồng bàn tay vào trong lòng khoét rỗng của thân rối. Rối que đƣợc sử dụng phổ biến, có kích thƣớc cỡ 30-35 cm.
Đầu đƣợc tạc liền với mình bằng gỗ có cả tóc, tai, khăn, mũ, bàn tay bằng gỗ gắn liền với cổ tay hoặc rời. Đặc biệt, loại rối này không có chân nên các nghệ nhân cần phải chế tác riêng sau đó gắn vào mình rối. Rối que đƣợc điều khiển bằng que tre hoặc que sắt cắm vào thân rối và cổ tay luồn trong áo. Rối máy rất thông dụng trong cuộc sống khi có cả ở trong đồ chơi, trò chơi và sân khấu biểu diễn.
Rối máy đƣợc tạc riếng lẻ từng bộ phận sau đó nối với nhau bằng các khớp lỏng. Loại rối này không có trang phục mà dùng àu để vẽ lên. Đƣợc điều khiển bằng que, dây và dùng xen với rối tay, rối que. Rối dây chỉ“thấy xuất hiện ở vùng biên giới Cao Bằng với tên”Mộc thầu hí, Slƣơng pấtlạp.
Đầu rối đƣợc tạc bằng gỗ, mình rối nan đan, bàn tay gỗ và không có chân. Loại rối này đƣợc điều khiển bằng tre, dây tơ hoặc dây gai mềm. Rối bóng trƣớc kia có ở tỉnh Kiên giang nhƣng hiện nay, trò rối này đã không còn. Rối mặt nạ trong đó mặt nạ đƣợc làm bằng nhiều nguyên liệu khác nhau gần gũi với con ngƣời.
Con rối đƣợc sơn màu và vẽ theo tạo hình của nhân vật. Loại rối này có thể dùng tay để điều khiển hoặc đeo lên đầu ngƣời diễn theo nhân vật đó. Ở Việt Nam, nhân vật trên sân khấu rối rất phong phú và đa dạng, có thể“là những nhân vật trong truyện cổ tích, thần thoại”nhƣ Lý Thông, Thạch 7 c Sanh, Sơn Tinh, Thuỷ Tinh,… hay đó là những nhân vật hiện đại nhƣ Cu Tý, bé Rồng, Anh bộ đội kéo pháo,… Và hơn nữa trên sân khấu múa rối những loài động vật, cây cối, nhà cửa, vật dụng… đều có thể trở thành những nhân vật có đời sống sinh động và phong phú dƣới bàn tay khéo léo của ngƣời nghệ nhân. Có thể nói sân khấu rối “chấp nhận” mọi sự tƣởng tƣợng phong phú do con ngƣời tạo nên.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu đã gọi sân khấu rối là “Thế giới tuyệt đẹp của tuổi thơ”. Thứ hai, nghệ thuật múa rối nước Tại Ấn Độ và các nƣớc Đông Nam Á chỉ có rối tay, rối que và rối dây. Còn múa rối nƣớc thì chỉ có ở Việt Nam và Trung Quốc. Theo nhà nghiên cứu Tô Sanh, Trung Quốc gọi múa rối là bù nhìn nƣớc.
Tuy nhiên, múa rối nƣớc ở Việt Nam khác với Trung Quốc vì ở nƣớc ta, rối nƣớc diễn trong ao và biểu diễn trong cộng đồng, còn múa rối nƣớc Trung Quốc diễn trong bể thiên về trò chơi. Pim – pa – ne – au, múa rối nƣớc đã không còn xuất hiện ở Trung Quốc và hiện nay có thể nói rằng, khi nhắc đến múa rối nƣớc là nói đến Việt Nam. Nghệ thuật múa rối nƣớc ra đời từ sự tìm tòi, khám phá, sáng tạo và liên tƣởng của cha ông ta trƣớc cuộc sống bình dị của ngƣời nông dân, gắn liền với nền nông nghiệp trồng lúa nƣớc của ngƣời dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Múa rối nƣớc mang nhiều đặc điểm khác so với múa rối nhƣ: dùng mặt nƣớc làm sân khấu, thủy đình là sân khấu biểu diễn trò múa rối nƣớc.
Thông“qua những tiết mục biểu diễn, khán giả sẽ đƣợc dẫn dắt vào một thế giới tƣởng tƣợng phong phú”dƣới sự chỉ huy của ngƣời nghệ nhân. Những con rối mang nét mặt vui tƣơi rạng rỡ, trình diễn những động tác linh hoạt, uyển chuyển trên mặt nƣớc, kết hợp với âm thanh đầy sôi động đã làm nên một nghệ thuật múa rối nƣớc độc đáo mang những đặc trƣng riêng của ngƣời dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. 8 c Theo Tô Sanh: “Múa rối nƣớc là một loại hình nghệ thuật sân khấu múa rối, mà chỗ diễn con rối là ở mặt nƣớc. Buồng trò của ngƣời biểu diễn là một cái nhà đƣợc cất giữa ao, hồ hoặc sát mé hồ.
Ngƣời điều khiển ngâm mình dƣới nƣớc, nấp sau tấm mành,. điều kiển con rối bằng cách khua sào có dính con rối ở dây và đầu sào. Nƣớc che kín các loại que, dây,máy. Sân khấu hoặc nhà hát cố định của múa rối nƣớc truyền thống là hệ thống nhà hai tầng tám mái xây bằng gạch, có từ lâu đời.
Múa rối nƣớc là môn nghệ thuật kì lại chỉ có ở Việt Nam” [20; Tr. Nghệ thuật múa rối nƣớc truyền thống ở Việt Nam 1. Lịch sử hình thành và phát triển của múa rối nước truyền thống ở Việt Nam Theo giáo sƣ Trần Văn Khê và nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hồng thì nguồn gốc ra đời của múa rối nƣớc cho đến nay vẫn chƣa ai biết chính xác.“Nhiều nghệ nhân lão thành có nhắc lại theo trí nhớ của mình về thời điểm ra đời của múa rối nƣớc nhƣng không có đủ cơ sở để khẳng định tính khoa học lịch sử về nguồn gốc”của múa rối nƣớc. Cái mà chúng ta có thể dẫn về nguồn gốc, xuất xứ của múa rối nƣớc là từ tấm bia “Sùng Thiện Diên Linh”.
Tuy thế, chúng ta có thể khẳng định rằng dƣới thời Lý (1010 – 1225) thì nghệ thuật múa rối nƣớc đã khá phát triển. Văn bia “Sùng Thiện Diên Linh” đƣợc dựng năm 1121dƣới đời vua Lý Nhân Tông (1072 – 1128) tại chùa Đọi (Phủ Lí – Hà Nam) đã chứng minh cho sự ra đời của múa rối nƣớc ở nƣớc ta. Văn bia “Sùng Thiện Diên Linh” có tên đầy đủ là tấm bia “Đại Việt quốc đƣơng gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh” do Thƣợng thƣ bộ hình của vua Lý Nhân Tông là Nguyễn Công Bật soạn thảo.