Chương 1: Một số nội dung lý luận chủ yếu về nguồn nhân lực khoa học công nghệ Chương 2: Phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ Nhật Bản từ thập kỷ 1990 đến nay Chương 3: Bài học kinh nghiệm về phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ cho Việt Nam. 6 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN CHỦ YẾU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 1. Khái niệm nguồn nhân lực khoa học công nghệ 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực: (Human resources) theo nghĩa rộng là nguồn lực con người của một quốc gia, là một bộ phận của cả nguồn lực có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Đó là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng lao động, tức là những người lao động có kỹ năng, đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa [38, tr 33 - 34]. Nguồn nhân lực khoa học công nghệ Trong các nguồn số liệu thống kê về nhân lực khoa học công nghệ (KHCN) của Việt nam công bố như hiện nay, có sự không thống nhất về khái niệm. Một số nghiên cứu, bài viết trên báo, tạp chí đề cập đến nhân lực KHCN, trong khi một số khác lại đề cập đến nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D) hay nhân lực mang tính chất tiềm năng. Vậy nên hiểu như thế nào về những thuật ngữ này? Xin được bắt đầu với cách hiểu về nhân lực KHCN từ các tài liệu chính thức của Bộ KHCN.
Theo sách Khoa học và Công nghệ Việt 2003 (tr.61), định nghĩa được dựa theo cuốn “Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực KH&CN”, xuất bản năm 1995 tại Paris của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) như sau: “Nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: • Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một lĩnh vực KH&CN; • Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương”. Trên cở sở này, cách hiểu về nhân lực KHCN được diễn giải gồm những người: 1) Đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và làm việc trong một ngành KHCN; 2) Đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng nhưng không làm việc trong một ngành KHCN nào; 3) 7 z Chưa tốt nghiệp đại học, cao đẳng nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KHCN đòi hỏi trình độ tương đương. UNESCO cũng đưa ra hai khái niệm liên quan đến nhân lực trong lĩnh vực KHCN là “Tổng số nhân lực có trình độ” và “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác”. Quan điểm của UNESCO về hai khái niệm này là: “Tổng số nhân lực có trình độ” cần phải được xem xét như một đại lượng đo được bởi qua đó có thể biết được tổng số những người được đào tạo để có năng lực trở thành nhà khoa học và kỹ sư bất kể hiện tại họ có làm việc theo năng lực này hay không.
Nói một cách khác, đại lượng này thể hiện cho tiềm năng của một quốc gia về nhân lực KHCN. Trong khi đó, thống kê về “Số nhân lực có trình độ hiện đang công tác” phản ánh số lượng cán bộ thực sự đang làm việc theo năng lực của họ (không chắc là làm trong lĩnh vực KHCN hay không) và đang đóng góp cho các hoạt động kinh tế của một đất nước. Khái niệm này dường như quá rộng để thể hiện hoạt động KHCN của một quốc gia. Do vậy, nhân lực KHCN hiểu theo khái niệm trong Sách KH&CN Việt Nam 2003 là hợp lý hơn cả.
Tóm lại, nhân lực KHCN có thể được hiểu như sau: Nhân lực KHCN là tập hợp những nhóm người tham gia (hoặc có khả năng tham gia) vào các hoạt động KHCN với các chức năng nghiên cứu, sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của KHCN. Trong tổng thể nhân lực KHCN thì bộ phận nhân lực KHCN với chức năng nghiên cứu sáng tạo (thường được gọi là nhà nghiên cứu hay nhà khoa học), giảng dạy KHCN (chỉ đề cập đến những giảng viên tham gia hoạt động giáo dục và đào tạo những con người nhằm giúp họ biết sử dụng KHCN), quản lý (thường được gọi là nhà quản lý) và chức năng khai thác, sử dụng công nghệ bao gồm cả chức năng thực hiện kỹ thuật, công nghệ trong các phòng thí nghiệm. Như vậy, có thể chia nhân lực KHCN thành 2 nhóm: Nhóm 1: Các kỹ sư, công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề về KHCN. Đây là nhóm đối tượng lao động chính, trực tiếp tham gia các chương trình, dự án về KHCN.
Nhóm này có số lượng lớn, thuộc nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau. Nhóm 2: Đội ngũ nhân lực KHCN trình 8 z độ cao cấp, chuyên thực hiện nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy về KHCN. Cho dù là nhóm 1 hay nhóm 2 ta đều thấy rõ ràng, nguồn nhân lực KHCN chủ yếu là lao động trí óc với tính sáng tạo cá nhân cao và đều phải thông qua quá trình được đào tạo cả về tri thức khoa học và cả kỹ năng nghề nghiệp, cho nên nếu có hoạt động bằng cơ bắp thì tỷ lệ phần trí óc cũng phải chiếm phần thích đáng. Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, tỷ lệ phần lao động trí óc trong hao phí lao động của nhân lực KHCN phải chiếm từ 30% trở lên; tỷ lệ lao động trí óc càng cao thì giá trị của nhân lực KHCN càng lớn [38].
Trong luận văn này, đối tượng chủ yếu được đề cập nghiên cứu là nhân lực KHCN với các chức sáng tạo, giảng dạy KHCN, quản lý, khai thác sử dụng công nghệ, bao gồm cả chức năng thực hiện kỹ thuật và công nghệ trong phòng thí nghiệm. Đó là bộ phận quan trọng nhất trong nguồn nhân lực KHCN, là lực lượng trực tiếp sáng tạo ra công nghệ và có vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng của nền sản xuất kinh tế - xã hội. Phân loại Nếu xem xét nhân lực KHCN theo cách phân loại thông thường hiện nay, chúng ta có thể chia thành hai nhóm: nhân lực KHCN tham gia trực tiếp sản xuất ở doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và nhân lực KHCN tham gia các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy ở các viện nghiên cứu, trường đại học, không trực tiếp sản xuất. Nhân lực KHCN không trực tiếp sản xuất Lực lượng KHCN hoạt động trong viện nghiên cứu, trường đại học có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học và giảng dạy, đào tạo cán bộ khoa học.
Nhân lực KHCN trực tiếp sản xuất Lực lượng này thuộc tổ chức KHCN do doanh nghiệp lập ra để nghiên cứu những vấn đề phục vụ trực tiếp cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn thường có một bộ phận hoặc một nhóm cán bộ KHCN giải quyết những vấn đề kỹ thuật sản xuất, thường được gọi là phòng kỹ thuật hoặc tổ kỹ thuật. Một số doanh nghiệp cũng đã hình thành một lực lượng KHCN nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến phát triển công nghệ của doanh nghiệp. Hầu hết các hãng lớn như: Microsoft, Sony, Samsung,.đều tạo riêng cho mình một lực lượng khoa học hùng hậu với 9 z hàng ngàn chuyên gia để nghiên cứu tạo ra sản phẩm và quy trình công nghệ sản xuất nhằm đáp ứng thị trường.
Họ là người làm việc trực tiếp tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh; họ nghiên cứu những vấn đề liên quan trực tiếp đến sản phẩm hàng hóa phục vụ con người. Ngoài ra, những kỹ sư, công nhân kỹ thuật cũng là lực lượng trực tiếp tham gia quá trình sản xuất. Đặc điểm nguồn nhân lực khoa học công nghệ 1.Yêu cầu cao về trình độ Nói đến nhân lực KHCN là nói đến trình độ kiến thức, năng lực chuyên môn, phẩm chất khoa học và năng lực tổ chức, quản lý. Nhân lực KHCN chủ yếu làm lao động trí óc.
Lao động của họ là loại lao động phức tạp và có tính sáng tạo cao. Lao động càng phức tạp bao nhiêu thì mức độ tự do và yêu cầu tư duy sáng tạo của con người lại càng đòi hỏi phải cao bấy nhiêu. Là lao động sáng tạo của từng cá nhân cho nên đối với nhân lực KHCN không phải lúc nào cũng có thể áp dụng cách quản lý máy móc kỷ luật lao động với kỷ luật giờ giấc. Tuy nhiên, với các lao động khoa học của giáo viên như giờ giảng, của bác sĩ bệnh viện như giờ trực thì lại đòi hỏi rất nghiêm ngặt về kỷ luật giờ giấc.
Đối với các nhà khoa học chân chính, đặc biệt đối với các chuyên gia đầu ngành, đầu đàn với lao động khoa học xem như một thiên chức xã hội cao quý thì lý tưởng nghề nghiệp rất được đề cao, coi trọng đối với bản thân họ cũng như đối với đánh giá của xã hội. Công luận xã hội cũng luôn chú ý tới phẩm chất, tư cách của họ, đó là tính trung thực, tài năng, lòng nhiệt tình, say mê sự nghiệp KHCN, tinh thần yêu nước, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của dân tộc mình. Nhân lực KHCN là những người tiếp cận nhanh nhất các luồng thông tin nghề nghiệp ở quy mô thế giới và khu vực, do đó đòi hỏi về giao tiếp, dân chủ và đãi ngộ của họ khá cao. Nhân lực KHCN thời đại ngày nay không chỉ biết lao động sáng tạo khoa học mà còn biết làm kinh tế.
Các nhà khoa học luôn cân nhắc kỹ về hiệu quả kinh tế của các công trình nghiên cứu, sao cho kết quả nghiên cứu khoa học được chuyển giao cho sản xuất ứng dụng với mức chi phí có thể chấp nhận được tương xứng với 10 z lợi ích kinh tế do ứng dụng đó mang lại. Họ cố gắng giảm dần chi phí, nâng cao chất lượng,. làm thế nào đó để sản phẩm khoa học của mình cạnh tranh được và đứng vững trên thị trường. Nhân lực KHCN thường xuyên trau dồi nâng cao trình độ và bổ sung kiến thức mới về chuyên môn của mình và các lĩnh vực khoa học có liên quan, về kiến thức kinh tế và thị trường, về kỹ năng tay nghề kể cả những thao tác trong sử dụng các thiết bị KHCN liên tục đổi mới hiện nay.
Tính lƣu động của nguồn nhân lực khoa học công nghệ (chảy chất xám) Trong bối cảnh toàn cầu hoá, hiện tượng di chuyển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực KHCN diễn ra khá phổ biến.