CHƯƠNG I KHÁI QUAT VE LUẬT TRÁCH NHIỆM BOI THƯỜNG CUA NHÀ NƯỚC I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIÊM CỦA TRÁCH NHIỆM BOI THƯỜNG CUA NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Bat kì chế độ xã hội nào chỉ có thé tồn tại và phát triển trên cơ sở có sự ôn định về trật tự xã hội. Các quan hệ xã hội rất phong phú, đa dạng, phức tạp, luôn ở trạng thái vận động và phát triển nhưng trong một “trật tự” nhất định bởi chúng chịu sự điều chỉnh của nhiều loại quy phạm khác nhau.
Chủ thé của các quan hệ xã hội khi tham gia vào các quan hệ này chịu sự chi phối của nhiều loại quy phạm va tương ứng với mỗi loại quan hệ do các loại quy phạm khác nhau điều chỉnh, chủ thé phải gánh vác những trách nhiệm xã hội nhất định như trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm chính tri, trách nhiệm tôn giáo, trách nhiệm pháp lí. Hiểu một cách chung nhất, trách nhiệm là sự ràng buộc trong các mối liên kết của con người, trong đó cá nhân hay tổ chức phải thực hiện các nghĩa vụ vì người khác hoặc vì cộng đồng. Trách nhiệm pháp lí là loại trách nhiệm phát sinh trên cơ sở pháp luật, được bảo đảm thực hiện bằng 7 pháp luật. Theo nghĩa rộng, trách nhiệm pháp lí là nghĩa vụ thực hiện tat cả các yêu cầu của pháp luật dé duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội và gánh chịu những hậu quả bất lợi khi có hành vi xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Theo nghĩa hẹp, trách nhiệm pháp lí là việc phải gánh chịu hậu quả bất lợi khi có hành vi trái pháp luật. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là loại trách nhiệm pháp lí đã được quy định ngay từ thời kì đầu khi mới có nhà nước và pháp luật. Trải qua các giai đoạn phát triển, bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã có sự thay đổi rõ rệt. Ở thời kì cô đại, khi chính quyền trong xã hội chưa được tô chức chặt chẽ, cá nhân được phép dùng hình phạt dé trừng tri những người có hành vi gay thiệt hại cho mình theo nguyên tắc “trả thù ngang bằng”, “nợ gì trả nấy”.
Vì vậy, thời kì này được gọi là “chế độ tư nhân phục thù”. Giai đoạn thứ hai, trách nhiệm bồi thường chuyền sang bước phát triển mới. Thay vì phải chịu hình phạt do nạn nhân trả thù, người gây thiệt hại có thé được “chuộc tội” băng số tiền hay thục kim, vì vậy giai đoạn này được gọi là “chế độ thục kim”. Thời kì đầu khi chưa có sự can thiệp của pháp luật, việc chuộc lỗi là tự nguyện nên các bên tự thoả thuận với nhau về tiền chuộc.
Giai đoạn sau khi đã có sự điều chỉnh của pháp luật, số tiền chuộc lỗi của bên gây thiệt hại được xác định theo ngạch mức do pháp luật quy định. Trong giai đoạn này, hình phạt vẫn được áp dụng cho cả các quan hệ thuộc lĩnh vực (1). Ví dụ như trong Luật mười hai bảng ở La Mã, ra đời năm 449 TCN. 8 luật tư, vì vậy mà chưa có sự phân biệt rõ rệt giữa trách nhiệm hình sự - mục đích để trừng phạt người phạm tội với trách nhiệm dân sự - nhằm mục đích đền bù thiệt hại cho nạn nhân.
Đến giai đoạn thứ ba, trách nhiệm bồi thường đã tiến lên bước phát triển mới khi được tách ra khỏi trách nhiệm hình sự. Bộ máy nhà nước cùng chức năng quản lí trật tự công dần hoàn thiện và chặt chẽ hơn. Nhà nước có sự can thiệp để bảo vệ trật tự xã hội bằng cách dùng hình phat để trừng phạt tội phạm. Cá nhân mat quyền tự phục thù mà thay vào đó chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về dân sự dé khôi phục, bù đắp những thiệt hại mà họ phải gánh chịu.
Như vậy, trải qua quá trình phát triển lâu dài, cho đến nay, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm pháp lí chịu sự điều chỉnh của luật tư, cụ thé là loại trách nhiệm dân sự. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự, theo đó người gây thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tốn thất mà mình đã gây ra. Điều 604 BLDS quy định: “Người nào do lỗi cô ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tin, tài san, quyễn và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại — đó là nguyên tac cốt lõi trong trách nhiệm bồi thường dân sự của các quốc gia trên thé giới nhăm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tô chức trong xã hội, duy trì công bằng xã hội.
Theo nguyên tắc xác định trách nhiệm trong dân sự, người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyên, lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trong mối quan hệ giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại, có những trường hợp người gây thiệt hại ở một vị thế rất đặc biệt - họ là những cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước, gây thiệt hại khi đang thực hiện nhiệm vụ nhân danh nhà nước. Nhà nước là “tổ chức đặc biệt của quyền lực chính tri” thực hiện các chức năng quản lí nhằm duy trì trật tự xã hội thông qua những cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước. Trong quá trình thực thi công vụ, công chức nhà nước có thể gây thiệt hại trái pháp luật cho bất kì cá nhân hay tổ chức nào.
Mặc dù quan hệ này có liên quan đến việc thực hiện những hoạt động thuộc chức năng quản lí, điều hành mang tính quyền lực của nhà nước, không thê nói rằng nhà nước đứng trên pháp luật va không phải chịu trách nhiệm khi gây thiệt hại trai pháp luật cho chủ thé khác. Pháp luật dân sự ghi nhận nguyên tắc khi quyên, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tô chức bị xâm phạm bởi cá nhân, tô chức khác thì những chủ thể có hành vi xâm phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật. Trong quan hệ bồi thường thiệt hại vốn là quan hệ mang tính chất dân sự, cơ quan nhà nước và công dân cần phải được đối xử bình đăng với nhau. Tuy là chủ thé của công quyền nhưng khi nha nước gây ra thiệt hại cũng phải có trách nhiệm bồi thường theo những nguyên tắc (1).Xem: Trường Dai học Luật Hà Nội, Gido trình lí luận nhà nước và pháp luật, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 10 chung của luật dân sự như bất cứ chủ thể nào khác. Mục đích cơ bản của việc xác lập trách nhiệm pháp lí này là nhằm bảo vệ quyên lợi của bên bị thiệt hại. Hơn nữa, nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đang trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền — nhà nước mà trong đó không chỉ mỗi cá nhân, tổ chức mà bản thân nhà nước và những người đứng đầu chính quyền đều phải tôn trọng pháp luật và bảo đảm các quyền con người.
Trách nhiệm bồi thường của nhà nước đối với các thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra cho các cá nhân, tô chức trong xã hội được thiết lập trên cơ sở những tư tưởng về nhà nước pháp quyền dân chủ theo đó nhà nước phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về tính hợp pháp trong các hoạt động của mình. Nội dung cơ bản nhất của trách nhiệm bồi thường nhà nước chính là cam kết của nhà nước rang khi cán bộ, công chức có hành vi xâm phạm quyền và lợi ich hợp pháp của các cá nhân, tổ chức trong xã hội và gây thiệt hại thì nhà nước sẽ phải bồi thường cho các thiệt hại mà cá nhân, tổ chức này đã gánh chịu. Như vậy, trách nhiệm bồi thường của nhà nước là trách nhiệm pháp lí trong đó nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vu gay ra trong một số lĩnh vực hoạt động của nhà nước. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường của nhà nước Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật có thể mang tư cách chủ thể của quyền lực công (đối với các quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lí nhà nước) hoặc chủ thể lãi thông thường (đối với các quan hệ thuộc lĩnh vực luật tư).
Trong quá trình thực hiện hoạt động quản lí xã hội mà nhà nước gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì giữa nhà nước và bên bị thiệt hại phát sinh một quan hệ pháp luật, theo đó nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã gây ra. Xét về bản chất, đây là mối quan hệ dân sự, vì vậy, trách nhiệm bồi thường của nhà nước là một loại trách nhiệm dân sự. Trách nhiệm bồi thường của nhà nước mang những đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong dân sự: - Trách nhiệm bồi thường của nhà nước chỉ được đặt ra khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác với mục đích nhằm bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của người bi thiệt hại; - Trách nhiệm bồi thường của nhà nước là loại trách nhiệm mang tính chất tài sản, theo đó nhà nước phải bù đắp những lợi ích vật chất cho bên bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh than do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra; - Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường của nhà nước cũng giống như trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung dựa trên bốn yếu tố: có hành vi trái pháp luật; có thiệt hại xảy ra trên thực tế; có lỗi của người gây thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra.