Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đinh Thị Tâm, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Vương Long, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Tư pháp) năm 2022, thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, mã số 9380106.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ quản lý xã hội là hoạt động gắn liền với quá trình vận động của xã hội, mang tính đặc thù và bao trùm đời sống. Khi Nhà nước xuất hiện, phần lớn công việc xã hội do Nhà nước quản lý. Để thực hiện chức năng này, Nhà nước sử dụng tập quán như một công cụ hỗ trợ cho pháp luật. Chủ trương tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã nhấn mạnh yêu cầu kết hợp hài hòa bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc với tính hiện đại của hệ thống pháp luật, đồng thời chỉ đạo nghiên cứu khả năng khai thác, sử dụng án lệ và tập quán. Hiến pháp năm 2013 tại Điều 5 cũng quy định các dân tộc có quyền giữ gìn bản sắc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp. Mặc dù tập quán đã được thừa nhận là một loại nguồn của pháp luật, hiệu quả áp dụng trên thực tế vẫn chưa cao do bốn nguyên nhân cốt lõi:
- Hệ thống pháp luật hiện hành còn thiếu các quy định bảo đảm tính khả thi; nhiều quy phạm điều chỉnh việc áp dụng tập quán còn chung chung, chưa tạo lập không gian pháp lý rõ ràng.
- Thiếu vắng các công trình nghiên cứu toàn diện, sâu sắc làm sáng tỏ cơ sở lý luận về áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước nhằm tạo nền tảng lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật.
- Hoạt động nghiên cứu, rà soát, thiết lập danh mục tập quán để tạo nguồn áp dụng chưa được triển khai đầy đủ; thiếu cơ sở tham chiếu và công tác tổng kết thực tiễn áp dụng của cơ quan nhà nước chỉ diễn ra ở phạm vi ngành hẹp.
- Nhận thức của các chủ thể có thẩm quyền về vị trí, giá trị của tập quán chưa đầy đủ, dẫn đến tâm lý e ngại áp dụng tập quán khi giải quyết các vụ việc cụ thể.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước, làm cơ sở đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam; trên cơ sở đó xác lập hệ thống quan điểm và đề xuất giải pháp bảo đảm hiệu quả áp dụng tập quán trong thời gian tới.
Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Một là, tìm hiểu tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài, đánh giá các kết quả hiện có và xác định các vấn đề cốt lõi cần tập trung giải quyết.
- Hai là, làm rõ cơ sở lý luận về áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước: khái niệm tập quán, khái niệm áp dụng tập quán, sự cần thiết khách quan, các yếu tố tác động, phạm vi, trường hợp, nguyên tắc và quy trình áp dụng.
- Ba là, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng tập quán của các chủ thể có thẩm quyền trong một số lĩnh vực cụ thể, chỉ ra nguyên nhân của những kết quả đạt được và hạn chế tồn tại.
- Bốn là, đánh giá xu hướng áp dụng tập quán ở Việt Nam trong thời gian tới, đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm hiệu quả áp dụng.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là việc áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng trong một số lĩnh vực và các giải pháp bảo đảm hiệu quả.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận khái niệm quản lý xã hội của Nhà nước theo nghĩa rộng (hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của các chủ thể có thẩm quyền), nhưng tập trung nghiên cứu hoạt động của các chủ thể trực tiếp áp dụng tập quán khi giải quyết vụ việc phát sinh trong đời sống. Luận án khảo sát thực trạng trong ba lĩnh vực cụ thể: lĩnh vực quản lý hộ tịch của Ủy ban nhân dân (UBND), lĩnh vực xét xử của Tòa án nhân dân (TAND) và lĩnh vực hòa giải ở cơ sở. Luận án không nghiên cứu thực trạng trong trọng tài thương mại và hòa giải thương mại vì đây là các hoạt động không thể hiện rõ nét tính quyền lực nhà nước.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, tập trung vào các địa bàn trọng điểm thuộc ba khu vực: Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ – nơi có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và các thiết chế xã hội cổ truyền vẫn duy trì ảnh hưởng.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực trạng áp dụng tập quán trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2022.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài được tác giả tổng hợp và phân loại thành ba nhóm công trình chính:
Nhóm 1: Các nghiên cứu lý luận về áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước:
- Về văn hóa, phong tục, luật tục truyền thống: Phan Kế Bính với "Việt Nam phong tục" (2014) phân tích quá trình hình thành, phân loại phong tục gia tộc, làng xóm, xã hội và quan điểm gạn đục khơi trong; Đoàn Triển với "An Nam phong tục sách" chỉ ra sự biến đổi và sai lệch của tập quán theo thời gian; Nhất Thanh trong "Đất lề quê thói - Phong tục Việt Nam" (2015) cắt nghĩa sâu sắc về phong tục; Trần Ngọc Thêm trong "Cơ sở văn hóa Việt Nam" (1999) lý giải tính cộng đồng, tính tự trị làng xã gắn với phong tục; Toàn Ánh với "Nếp cũ Làng xóm Việt Nam" (2005) nghiên cứu về lệ làng và hương ước; Đào Duy Anh với "Việt Nam văn hóa sử cương" (2014) khảo sát biến đổi phong tục thời kỳ Âu hóa; Ngô Đức Thịnh với "Luật tục trong đời sống các tộc người ở Việt Nam" (2014), cùng các công trình điền dã "Luật tục Ê-đê (tập quán pháp)" (Ngô Đức Thịnh và Chu Thái Sơn, 1996), "Luật tục M’Nông (Tập quán pháp)" (Ngô Đức Thịnh chủ biên, 1998); Phan Đăng Nhật với "Luật tục các dân tộc thiểu số Việt Nam" (2014); Vương Đằng với "Phong tục Miền Nam" (2014).
- Về vai trò của tập quán trong quản lý xã hội và cộng đồng: Bùi Xuân Đính với "Lệ làng phép nước" (1985) và "Hương ước và quản lý làng xã" (1998); Dương Thị Thanh Mai chủ nhiệm Đề tài cấp Nhà nước "Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay" (2011); nhóm tác giả Nguyễn Thị Quỳnh, Nguyễn Quốc Việt, Nguyễn Hoàng Phương với "Báo cáo nghiên cứu tập quán pháp - Thực trạng ở Việt Nam và một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng tập quán pháp ở Việt Nam" (2013); Trương Tiến Hưng với "Vận dụng luật tục dân tộc Chăm trong quản lý nhà nước của chính quyền địa phương" (2014); Nguyễn Văn Trọng chủ nhiệm đề tài cấp bộ về tập quán đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc (2013); Bùi Văn Hùng chủ nhiệm đề tài cấp bộ về luật tục Tây Nguyên trong quản lý cộng đồng cơ sở (2018); Lê Đức Tiết với "Hương ước, lệ làng - Quá khứ, hiện tại, tương lai" (2020) và bài viết năm 2019.
- Luận án tiến sĩ chuyên ngành luật học: Nguyễn Thị Tuyết Mai (2014) nghiên cứu áp dụng tập quán giải quyết vụ việc dân sự của TAND; Nguyễn Mạnh Thắng (2015) nghiên cứu áp dụng tập quán giải quyết tranh chấp thương mại; Vi Văn Sơn (2015) nghiên cứu luật tục người Thái; Trương Thị Hiền (2015) nghiên cứu luật tục Ê Đê tại Đắk Lắk; Nguyễn Thị Vân Anh (2017) khảo sát ảnh hưởng của luật tục đến thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình ở Tây Nguyên; Bùi Hồng Quý (2018) nghiên cứu luật tục Ê Đê tại Tây Nguyên; Hoàng Văn Quynh (2018) nghiên cứu luật tục bảo vệ tài nguyên và môi trường ở Tây Bắc và Tây Nguyên.
- Mối tương quan giữa tập quán và pháp luật thành văn: Vũ Văn Mẫu trong "Dân luật khái luận" (1961); Phan Nhật Thanh trong "Luật tập quán và quyền con người" (2013) và công trình chủ biên "Tập quán pháp, tiền lệ pháp và việc đa dạng hóa hình thức pháp luật ở Việt Nam" (2017); bài viết của Lê Vương Long (2000), Nguyễn Việt Hương (2000), Hoàng Thị Kim Quế (2005), Bùi Ngọc Sơn (2008), Bùi Quang Dũng (2013), Bùi Xuân Đính (2015), Phan Nhật Thanh (2016), Phạm Văn Tuyết (2015), Nguyễn Thị Hạnh (2015), Nguyễn Hải An (2018).
- Nghiên cứu luật học so sánh và quốc tế: David C. nghiên cứu pháp luật gia đình và luật tục châu Á; René David (2003) phân tích nguồn tập quán trong các hệ thống pháp luật lớn; Mary Ann Glendon, Paolo G. Carozza và Colin B. Picker (2008) so sánh áp dụng tập quán giữa truyền thống Common Law và Civil Law; Phan Nhật Thanh và Luke McNamara (2011); Vi Văn Sơn (2014); Matthew L. Fletcher (2007); Amanda Perreau-Saussine và James Bernard Murphy (2007); Bederman (2010); Lisa Bernstein và Francesco Parisi; Tobin Brendan Michael (2011); Simisola Obatusin (2018); Christa Rautenbach (2019).
Nhóm 2: Các nghiên cứu về thực trạng áp dụng tập quán trong quản lý xã hội:
- Các nghiên cứu thực tế của Trương Bi, Bùi Minh Vũ, Kra Y Wơn (2007); Đặng Thị Hoa (2014); Trương Tiến Hưng (2014); Trương Thị Hiền (2017); Buôn Krông Thị Tuyết Nhung (2019); Báo cáo kết quả Dự án điều tra cơ bản do Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp triển khai (2015-2018) về tập quán điển hình trong quan hệ dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình.
- Các bài tạp chí phản ánh thực tiễn: Nguyễn Năng Nam (2011); Đặng Thị Hoa và Đặng Chí Thông (2012); Đỗ Hồng Kỳ (2013); Bùi Quang Dũng (2013); Bùi Xuân Đính (2014); Phạm Hữu Nghị (2015); Trương Thị Hiền (2015); Nguyễn Phương Lan (2016); Trần Thị Ngọc Anh và Hoàng Văn Sơn (2016); Tô Văn Hoà (2020).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây tiếp cận tập quán dưới góc độ dân tộc học, văn hóa học, xã hội học hoặc đi sâu vào từng quan hệ pháp luật tư chuyên biệt (dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình). Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật về việc áp dụng tập quán trong hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước (hoạt động thực thi quyền lực nhà nước). Luận án định vị giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng mô hình lý luận chung, xác lập các nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn, quy trình áp dụng và khảo sát thực chứng trên ba thiết chế thực thi quyền lực cụ thể tại ba vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đa dạng hóa nguồn của pháp luật.
Về khung lý thuyết và khái niệm:
- Luận án phân tích hai trường phái: Thuyết đa nguyên pháp luật (coi tập quán mang tính pháp lý tự thân) và Thuyết nhất nguyên pháp luật (coi pháp luật chỉ xuất phát từ Nhà nước). Luận án khẳng định trong bối cảnh Việt Nam, tập quán hình thành tự phát trong đời sống nhưng chỉ trở thành "tập quán pháp" – một loại nguồn của pháp luật có giá trị bắt buộc thực hiện – khi được Nhà nước thừa nhận.
- Định nghĩa tập quán được kế thừa từ khoản 1 Điều 5 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Bốn tiêu chuẩn nhận biết một thói quen xử sự là tập quán gồm: (i) tính lặp đi lặp lại; (ii) tồn tại trong một thời gian dài; (iii) được thừa nhận rộng rãi; (iv) có nội dung xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên.
- Luận án phân định ranh giới giữa tập quán với các khái niệm tương đồng:
- Phong tục: Phạm vi rộng hơn, thiên về văn hóa, tâm linh, lễ nghi, tính bảo lưu cao và ít bị chế tài cưỡng chế trực tiếp như tập quán.
- Luật tục: Hình thức phát triển cao của tập quán trong các cộng đồng dân tộc thiểu số, có tính bắt buộc thực hiện và chế tài cưỡng chế cộng đồng nghiêm ngặt.
- Hương ước / lệ làng: Quy ước riêng của làng xã nông thôn, được hình thành trên cơ sở tập quán kết hợp với sự thỏa thuận của dân cư và sự phê chuẩn của chính quyền nhà nước.
- Tập quán pháp: Tập quán được Nhà nước thừa nhận, nâng lên thành pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước.
- Ba đặc điểm cơ bản của tập quán: (1) Mang tính cộng đồng, không mang tính quyền lực nhà nước; (2) Hình thành và tồn tại gắn liền với cộng đồng dân cư hoặc lĩnh vực đời sống nhất định; (3) Tính đa dạng, có thể nảy sinh xung đột giữa các tập quán với nhau hoặc giữa tập quán với pháp luật thành văn.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, so sánh văn bản quy phạm pháp luật để làm sáng tỏ các khái niệm, quy trình và đánh giá thực trạng thể chế.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa luật học, dân tộc học và xã hội học pháp luật để nhận diện tính chất điều chỉnh của tập quán.
- Phương pháp khảo sát, thống kê và phỏng vấn chuyên gia: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các đề tài, báo cáo của Bộ Tư pháp và thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn thẩm phán TAND, cán bộ tư pháp - hộ tịch thuộc UBND cấp xã và hòa giải viên cơ sở tại ba địa bàn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ.
Nguồn dữ liệu, tư liệu:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp 2013, BLDS 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Hòa giải ở cơ sở, Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP.
- Hồ sơ thực tiễn, bản án do TAND cung cấp; dữ liệu Dự án điều tra cơ bản của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp, 2015-2018).
- Kết quả khảo sát thực tế xã hội học pháp luật do tác giả thực hiện đối với thẩm phán, cán bộ xã và hòa giải viên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết cho luận án thông qua năm nội dung lớn:
- Khái niệm và sự cần thiết: Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng, hình thành từ thói quen ứng xử lâu đời của cộng đồng, được thừa nhận là quy tắc xử sự chung. Sự cần thiết áp dụng tập quán trong quản lý xã hội xuất phát từ: tính đa dạng phong phú của đời sống xã hội mà pháp luật thành văn không thể dự liệu hết; yêu cầu bổ khuyết khoảng trống pháp luật; bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao tính khả thi, hiệu quả quản lý của Nhà nước tại cơ sở.
- Chủ thể, phạm vi, trường hợp và nguyên tắc áp dụng: Chủ thể áp dụng bao gồm cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND, TAND) và các thiết chế được Nhà nước thừa nhận (Tổ hòa giải ở cơ sở). Phạm vi áp dụng chỉ giới hạn trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình và giải quyết mâu thuẫn cộng đồng; không áp dụng trong các lĩnh vực quản lý mệnh lệnh - phục tùng tuyệt đối như hình sự hay xử phạt vi phạm hành chính. Nguyên tắc áp dụng: tôn trọng sự thỏa thuận của các bên; chỉ áp dụng khi pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận; không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, trật tự công cộng và đạo đức xã hội; tôn trọng bình đẳng giới và quyền con người.
- Lựa chọn và công nhận tập quán: Làm rõ hai phương thức tạo nguồn: (1) Nhà nước chủ động rà soát, công nhận và ban hành danh mục tập quán; (2) Đương sự hoặc người tham gia quan hệ viện dẫn, chứng minh tập quán trong từng vụ việc cụ thể để cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận.
- Quy trình áp dụng tập quán trong giải quyết vụ việc: Xác định quan hệ xã hội phát sinh chưa có quy định pháp luật điều chỉnh -> Tìm kiếm, viện dẫn quy tắc tập quán tương ứng -> Đánh giá tính hợp pháp, hợp lý và điều kiện hiệu lực của tập quán -> Đưa ra quyết định áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc.
- Các yếu tố tác động: Yếu tố truyền thống văn hóa - tâm lý tộc người; trình độ dân trí; mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật; năng lực, kỹ năng và nhận thức của cán bộ, thẩm phán; điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của từng vùng miền.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về áp dụng tập quán và thực tiễn áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng văn bản và số liệu khảo sát thực chứng:
- Thực trạng pháp luật: Hệ thống văn bản (Hiến pháp 2013, BLDS 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, BLTTDS 2015, Luật Hòa giải ở cơ sở 2013) đã tạo lập hành lang pháp lý thừa nhận tập quán là nguồn hỗ trợ. Tuy nhiên, các quy định còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: quy định mang tính khái quát, thiếu cơ chế và tiêu chí cụ thể để thẩm phán, cán bộ đánh giá tính hợp pháp của tập quán; thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết về nghĩa vụ và phương thức chứng minh tập quán trong tố tụng; thiếu danh mục tập quán được chuẩn hóa.
- Thực tiễn áp dụng trong một số lĩnh vực:
- Lĩnh vực quản lý hộ tịch tại UBND cấp xã: Thể hiện chủ yếu qua việc đăng ký khai sinh, xác định họ, dân tộc cho con theo tập quán phụ hệ hoặc mẫu hệ của các đồng bào dân tộc thiểu số. Thực tiễn còn gặp lúng túng khi phát sinh trường hợp cha mẹ thuộc hai dân tộc có tập quán mẫu hệ và phụ hệ trái ngược nhau.
- Lĩnh vực xét xử của TAND: Thẩm phán rất hiếm khi áp dụng tập quán để ban hành bản án giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tâm lý e ngại rủi ro nghề nghiệp, lo sợ bản án bị hủy, sửa do thiếu hướng dẫn thống nhất từ TAND tối cao.
- Lĩnh vực hòa giải ở cơ sở: Tập quán được áp dụng phổ biến, thường xuyên và đạt tỷ lệ thành công cao nhất, do các hòa giải viên kết hợp nhuần nhuyễn quy tắc tập quán truyền thống của bản làng với pháp luật để dàn xếp tranh chấp đất đai, hôn nhân, mâu thuẫn sinh hoạt.
Số liệu khảo sát xã hội học pháp luật được luận án phản ánh qua hệ thống biểu đồ tại Chương 2:
| Chỉ số khảo sát |
Nội dung dữ liệu thực chứng theo khảo sát của luận án |
| Thực trạng hòa giải ở cơ sở (Biểu đồ 3.1) |
Tỷ lệ cán bộ tại UBND cấp xã khẳng định các hòa giải viên ở cơ sở có áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp chiếm tỷ lệ áp đảo so với các phương thức thuần túy hành chính. |
| Thực trạng xét xử tại TAND (Biểu đồ 3.2) |
Tỷ lệ thẩm phán cho biết có áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp khi thụ lý vụ việc không có quy định pháp luật ở mức rất thấp; phần lớn lựa chọn các giải pháp tương tự pháp luật hoặc hòa giải. |
| Nguyên nhân thẩm phán không áp dụng (Biểu đồ 3.3) |
Nguyên nhân chủ yếu: e ngại trách nhiệm pháp lý khi bản án bị kháng cáo/hủy sửa; thiếu quy định hướng dẫn chứng minh tập quán; khó khăn trong việc xác định nội dung chính xác của tập quán địa phương. |
| Đánh giá về khuôn khổ pháp lý (Biểu đồ 3.4) |
Đa số các thẩm phán được khảo sát đánh giá hệ thống quy định pháp luật hiện hành về áp dụng tập quán còn mang tính thiếu đầy đủ, thiếu cụ thể và thiếu cơ chế tham chiếu chính thức. |
Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam thời gian tới
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ định hướng thực tiễn:
- Quan điểm chỉ đạo:
- Kết hợp hài hòa giữa pháp luật của Nhà nước với tập quán tốt đẹp, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền.
- Kế thừa, phát huy các tập quán tiến bộ, đồng thời kiên quyết loại bỏ các tập quán lạc hậu, hủ tục cản trở sự phát triển hoặc xâm phạm quyền con người, quyền bình đẳng giới.
- Áp dụng tập quán phải dựa trên sự tự nguyện, tôn trọng quyền tự quyết của cộng đồng, bảo đảm tính minh bạch và công bằng xã hội.
- Các nhóm giải pháp đồng bộ:
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Bổ sung các quy phạm hướng dẫn cụ thể về điều kiện, thứ bậc ưu tiên và quy trình áp dụng tập quán trong BLDS, BLTTDS và Luật Hộ tịch; quy định rõ trách nhiệm và phương pháp thu thập chứng cứ, chứng minh tập quán của đương sự và Tòa án.
- Triển khai điều tra, rà soát và lập danh mục tập quán: Giao Bộ Tư pháp phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức điều tra, phân loại, xuất bản các tập danh mục tập quán tốt đẹp được công nhận tại ba địa bàn trọng điểm (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ) làm cơ sở tham chiếu xét xử và quản lý hộ tịch.
- Nâng cao năng lực cho chủ thể có thẩm quyền: Tổ chức tập huấn kiến thức văn hóa dân tộc, kỹ năng nhận diện và vận dụng tập quán cho thẩm phán, thư ký tòa án, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã và đội ngũ hòa giải viên cơ sở.
- Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục: Vận động nhân dân sửa đổi hương ước, quy ước thôn bản, đưa các tập quán tiến bộ vào hương ước mới theo Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên ở Việt Nam tiếp cận việc áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật.
- Làm rõ bản chất pháp lý của tập quán với tư cách là một loại nguồn hỗ trợ của pháp luật, phân biệt rõ ràng tập quán với phong tục, luật tục, hương ước và tập quán pháp.
- Luận giải sâu sắc sự cần thiết khách quan, các yếu tố tác động và xác lập hệ thống nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn cùng quy trình bốn bước áp dụng tập quán trong giải quyết vụ việc cụ thể của các chủ thể thực thi quyền lực nhà nước.
Về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Cung cấp bức tranh thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành thông qua khảo sát thực chứng tại ba lĩnh vực (hộ tịch, xét xử, hòa giải cơ sở) gắn với ba địa bàn trọng điểm (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ).
- Làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự e dè, hạn chế áp dụng tập quán của đội ngũ thẩm phán và cán bộ cơ sở.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, từ hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, xây dựng danh mục tập quán chuẩn hóa, đến đào tạo cán bộ và đổi mới cơ chế hòa giải ở cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi đối tượng: Luận án chỉ tập trung vào ba lĩnh vực có tính chất quyền lực nhà nước trực tiếp (quản lý hộ tịch của UBND, xét xử của TAND, hòa giải ở cơ sở); chưa bao quát các lĩnh vực quản lý nhà nước khác như quản lý đất đai, bảo vệ rừng, trật tự an toàn xã hội. Luận án loại trừ trọng tài thương mại và hòa giải thương mại.
- Về phạm vi không gian: Khảo sát thực tế chủ yếu khu biệt tại ba địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ), chưa khảo sát so sánh sâu rộng tại các vùng nông thôn đồng bằng hoặc các khu vực ven đô thị đang trong tiến trình đô thị hóa nhanh.
- Về phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát và đánh giá thực tiễn chủ yếu giới hạn trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2022.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu áp dụng tập quán trong các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về đất đai, môi trường và quản lý cộng đồng dân cư tự quản.
- Nghiên cứu cơ chế giải quyết xung đột pháp lý giữa tập quán của các tộc người khác nhau khi phát sinh tranh chấp hỗn hợp.
- Xây dựng tiêu chí chi tiết cho việc pháp điển hóa danh mục tập quán quốc gia cho từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số cụ thể.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp trung ương (Quốc hội, TAND tối cao, Bộ Tư pháp): Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện các quy định về nguồn của pháp luật trong BLDS, BLTTDS, Luật Hòa giải ở cơ sở; xây dựng đề án quốc gia về rà soát, xuất bản danh mục tập quán tốt đẹp của các dân tộc.
- Đối với đội ngũ cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, Hòa giải viên): Là tài liệu hướng dẫn kỹ năng nhận diện, phân tích tính hợp pháp, hợp lý và các bước xử lý khi đương sự yêu cầu áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc.
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Cung cấp nguồn tư liệu toàn diện phục vụ giảng dạy, học tập các học phần Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Xã hội học pháp luật cho giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định các tiêu chí nào để một thói quen xử sự trở thành tập quán?
Luận án căn cứ vào khoa học pháp lý và khoản 1 Điều 5 BLDS năm 2015 để xác định bốn tiêu chí: (i) có tính lặp đi lặp lại nhiều lần; (ii) tồn tại trong một thời gian dài; (iii) được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc lĩnh vực đời sống; (iv) có nội dung rõ ràng xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên.
2. Vì sao luận án loại trừ hoạt động trọng tài thương mại và hòa giải thương mại khỏi phạm vi nghiên cứu thực trạng?
Theo chú thích số 4 của luận án, mặc dù tập quán được áp dụng thường xuyên trong trọng tài thương mại (khoảng 90% tranh chấp mua bán hàng hóa quốc tế có áp dụng tập quán) và hòa giải thương mại, tác giả không đưa vào phạm vi nghiên cứu do đây là các hoạt động giải quyết tranh chấp mang tính chất đặc thù của thương nhân, không thể hiện rõ nét tính quyền lực nhà nước như hoạt động của TAND, UBND và Tổ hòa giải ở cơ sở.
3. Khái niệm "tập quán" và "tập quán pháp" khác nhau như thế nào theo quan điểm của luận án?
Tập quán là các quy tắc xử sự hình thành tự phát từ thói quen cộng đồng, mang tính cộng đồng và không mang tính quyền lực nhà nước. Tập quán pháp là những tập quán được Nhà nước thừa nhận, nâng lên thành pháp luật và được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Mọi tập quán pháp đều bắt nguồn từ tập quán, nhưng không phải mọi tập quán đều trở thành tập quán pháp.
4. Khảo sát thực tế của luận án chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi nào khiến thẩm phán e ngại áp dụng tập quán trong xét xử?
Dữ liệu khảo sát tại Biểu đồ 3.3 cho thấy các nguyên nhân chủ yếu gồm: tâm lý sợ trách nhiệm khi bản án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy hoặc sửa; pháp luật tố tụng thiếu các hướng dẫn cụ thể về quy trình và nghĩa vụ chứng minh tập quán; khó khăn trong việc thu thập, thẩm định nội dung chính xác của tập quán địa phương do thiếu danh mục tập quán chính thức.
5. Luận án xây dựng quy trình áp dụng tập quán giải quyết vụ việc gồm những bước cơ bản nào?
Quy trình gồm bốn bước: (1) Xác định vụ việc phát sinh trong đời sống thuộc phạm vi quan hệ mà pháp luật cho phép áp dụng tập quán nhưng chưa có quy định pháp luật điều chỉnh; (2) Tìm kiếm, xác định quy tắc tập quán tương ứng có hiệu lực tại địa bàn, cộng đồng; (3) Kiểm tra tính hợp pháp, tính hợp lý và sự phù hợp của tập quán với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật và trật tự công cộng; (4) Ban hành quyết định xử lý hoặc phán quyết áp dụng tập quán để giải quyết quan hệ phát sinh.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đinh Thị Tâm là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật về việc áp dụng tập quán trong quản lý xã hội của Nhà nước ở Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, hệ thống hóa các tiêu chí nhận diện, nguyên tắc và quy trình áp dụng tập quán, đồng thời phân tích khách quan thực trạng pháp lý và dữ liệu khảo sát thực chứng tại các địa bàn trọng điểm Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Hệ thống quan điểm và giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và khả thi cao, góp phần tích cực vào việc hoàn thiện thể chế về nguồn của pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý xã hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.