Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cướp giật tài sản. Khái niệm áp dụng pháp luật hình sự Pháp luật hình sự nước ta quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự được nhà nước đứng ra giải quyết, can thiệp và thông qua áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết, là công cụ nghiêm khắc nhất trong hệ thống pháp luật của nhà nước. Pháp luật hình sự sau khi được ban hành và có hiệu lực phải được các chủ thể thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
Áp dụng pháp luật hình sự là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt mang tính tổ chức và quyền lực nhà nước, được hiểu là một hoạt động thực tiễn pháp lý nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật hình sự trong từng trường hợp cụ thể đối với hành vi của người thực hiện bị nhà nước xem là tội phạm và được thực hiện theo một trình tự do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm nói chung và đối với tội cướp giật tài sản nói riêng là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể quan hệ pháp luật hình sự thực hiện những quy định của pháp luật hình sự, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật hình sự. Từ những luận điểm trên có thể hiểu áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cướp giật tài sản là hoạt động do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật hình sự đối với tội cướp giật tài sản thành quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể, đối với các cá 9 nhân, tổ chức trong trường hợp phạm tội cướp giật tài sản. Chẳng hạn, bằng việc xét xử người đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản, nhà nước thông qua Tòa án buộc người đó phải chịu hình phạt đối với hành vi phạm tội của mình (tức là thực hiện nghĩa vụ của họ).
Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự do các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định thực hiện nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi hành, không phụ thuộc vào tính tự giác của các chủ thể khác trong xã hội. Thông qua đó, các quy phạm pháp luật tìm thấy sự liên kết chặt chẽ với đời sống xã hội đồng thời chuyển hóa những yêu cầu chung vào các quan hệ xã hội cụ thể. Chính vì vậy, hoạt động áp dụng pháp luật đối với tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản nói riêng có những ảnh hưởng và tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội. Đối với xã hội, hình ảnh thực tế của pháp luật được nhìn thấy thông qua các hoạt động áp dụng pháp luật cụ thể.
Trong số các hoạt động áp dụng pháp luật, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các Cơ quan điều tra, Viện Kiểm Sát và Tòa án có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không giống như trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự thoạt nhìn dường như không có những tác động xã hội rộng lớn bởi nó chỉ liên quan từng cá nhân cụ thể. Tuy nhiên, Pháp luật hình sự bảo vệ những giá trị được nhà nước coi là quan trọng nhất đối với sự phát triển chung của xã hội. Chính vì vậy, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự chính là hoạt động nhằm chuyển hóa các quy định của pháp luật hình sự đến thực tế đời sống xã hội và thực sự có những tác động sâu sắc đến sự phát triển của xã hội.
Như vậy, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cướp giật tài sản là việc các cơ quan được nhà nước trao cho thẩm quyền thực thi các quy định pháp luật hình sự đối với tội phạm cướp giật tài sản. Đặc điểm áp dụng pháp luật hình sự Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm nói chung và đối với tội cướp giật tài sản nói riêng có các đặc điểm: – Áp dụng pháp luật hình sự là hoạt động thể hiện tính tổ chức, quyền lực nhà nước bởi lẽ Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự là sự tiếp tục thể hiện ý chí của nhà nước, thông qua hoạt động áp dụng pháp luật, ý chí nhà nước thể hiện trong các quy phạm pháp luật trở thành hiện thực trong thực tế, đuợc thể hiện một cách cụ thể trong các trường hợp cụ thể. Khi áp dụng pháp luật hình sự, trên cơ sở các quy định của pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể ban hành những mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với đối tượng áp dụng cũng như thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng. Các mệnh lệnh, quyết định áp dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức nhà nước sẽ được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có cả biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Theo quy định pháp luật, mỗi chủ thể chỉ có thể áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định. Áp dụng pháp luật hình sự là hoạt động có tính tổ chức rất cao vì nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức chủ thể có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật, do vậy, hoạt động này phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy định. – Áp dụng pháp luật hình sự là hoạt động nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hình sự hiện hành vào từng trường hợp cụ thể, từng tổ chức, cá nhân cụ thể. Áp dụng pháp luật hình sự là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể trên cơ sở các quy phạm pháp luật.
Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung, nó được đặt ra không phải dành cho một cá nhân, tổ chức cụ 11 thể, cá biệt mà là dành cho một nhóm (loại) đối tượng nhất định. Mặt khác, cách xử sự được nêu ra trong quy phạm pháp luật trong nhiều trường họp cũng không cố định. Khi áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào quy phạm pháp luật, đưa ra cách xử sự cụ thể đối với chủ thể được (bị) áp dụng pháp luật, xác định cho họ được làm gì, không được làm gì, phải làm gì, làm như thế nào. một cách rất cụ thể.
– Áp dụng pháp luật hình sự là hoạt động thể hiện tính sáng tạo Các vụ việc cụ thể xảy ra trong cuộc sống hết sức đa dạng và phức tạp, trong khi đó pháp luật thường mang tính chất khái quát, không mô tả tỉ mỉ từng tình tiết của sự việc, ngược lại nó thường chỉ dự liệu những điều kiện, hoàn cảnh có tính chất phổ biến, điển hình. Do vậy, khi áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải nghiên cứu kĩ vụ việc, so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật, lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp để áp dụng sao cho đúng người, đúng sự việc, đúng mức độ, đúng quan điểm, tư tưởng mà quy phạm pháp luật đã nêu. Bên cạnh đó, trong thực tế, nhiều trường họp xảy ra những vụ việc đòi hỏi cơ quan, nhà chức trách có thẩm quyền phải giải quyết nhung không có quy định của pháp luật để áp dụng. Tất cả những trường hợp đó đều đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền phải có ý thức pháp luật cao, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú, đồng thời phải linh hoạt, sáng tạo để giải quyết các vụ việc đã xảy ra trong thực tế cuộc sống một cách đúng đắn.
Ý nghĩa áp dụng pháp luật hình sự Áp dụng pháp luật hình sự nói chung và đối với tội cướp giật giật tài sản nói riêng một cách đúng đắn có ý nghĩa vô cùng quan trọng để pháp luật đi vào cuộc sống, một mặt bảo đảm tính nghiêm minh, trừng phạt đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm cho tính toàn vẹn những giá trị được pháp luật bảo vệ. Đồng thời, còn mang ý nghĩa góp phần giáo dục cũng như răn đe đến toàn xã hội. Tuy nhiên ngược lại nếu việc áp dụng pháp luật hình sự 12 không đúng đắn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến những quyền cơ bản nhất của công dân, của con người mà còn làm xói mòn niềm tin của mỗi người dân vào tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật. Cũng chính vì lẽ đó trong số các hoạt động áp dụng pháp luật thì hoạt động áp dụng pháp luật hình sự luôn được đặt trong những giới hạn khắt khe nhất về nội dung và thủ tục.
Giá trị của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cướp giật tài sản thể hiện ở chỗ vụ việc được giải quyết hoàn toàn phù hợp với những đặc điểm, điều kiện cụ thể của nó trong giới hạn chung mà pháp luật hình sự quy định đối với loại tội phạm này. Các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng pháp luật đóng vai trò người tổ chức cho các cá nhân, tổ chức đó thực hiện pháp luật hình sự. Khách thể, chủ thể, nội dung của áp dụng pháp luật hình sự đối với tôi cướp giật tài sản 1. Khách thể của áp dụng pháp luật hình sự đối với tội cướp giật tài sản: 1.
Khái niệm tội cướp giật tài sản. Tội cướp giật tài sản đã được quy định rất sớm trong pháp luật hình sự nước ta và ngày càng được bổ sung, hoàn thiện qua các đạo luật hình sự ở từng thời kỳ. Có thể thấy cướp giật tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác cũng như xâm phạm đến trật tự công cộng. Trước đây khi chưa có Bộ luật hình sự, loại tội phạm này đã được quy định trong các Pháp lệnh quy định về việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản.
Đến khi có Bộ luật hình sự năm 1985 thì vẫn có hai tội cướp giật tài sản khác nhau - tội cướp giật tài sản xã hội chủ nghĩa và tội cướp giật tài sản của công dân.