Chương 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỀN VẺ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI NGAN HÀNG THƯƠNG MAI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong các năm gần đây, tại Việt Nam và quốc tế có nhiều công trình nghiên cứu về quản trị rủi ro trong ngân hàng nói chung cũng như quản trị rủi ro theo các tiêu chuẩn Basel 2 nói riêng. Điền hình là một số công trình sau: Các công trình nghiên cứu về quản trị rủi ro nói chung: Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Tú (2012), bài viết đã phát triển hệ thống lý luận về quản lý rủi ro tín dụng áp dụng cho ngân hàng với các nội dung là: Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng theo hướng tiếp cận những phương pháp quản lý rủi ro tín dụng hiện đại; Áp dụng các mô hình đánh giá rủi ro tín dụng; Nâng cao hiệu quả và tính minh bạch của quản lý rủi ro tín dụng, ngân hàng nên xây dựng các chính sách tín dụng mới từ khâu hậu kiểm, tư vấn đến ra quyết định và quản lý khoản vay dựa trên hệ thông phân tích và rà soát tin dung. Nghiên cứu của Lê Thị Vân Khanh (2017) căn cứ trên khung lý thuyết và các tiêu chí đánh giá về Hệ thống Quản lý rủi ro nói chung và QLRRHĐ nói riêng của các nghiên cứu trước và Hiệp định Basel II, bài viết đã phân tích chi tiết các nhân tổ trong hệ thống QLRRHD tại các NHTM, ngoải ra cũng làm rõ định nghĩa và tiêu chí đo lường mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới hiệu quả QLRRHD. Đối với các bài nghiên cứu thực hiện tại các quốc gia khác.
Có thé kê tới bài nghiên cứu của tác giả Tô Ánh Dương (2006) đã phân tích kinh nghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc trong việc tiếp cận và ứng dụng các chuẩn mực đánh giá hoạt động ngân hàng an toàn theo Basel, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam. Bài nghiên cứu của Jun Hua Sun (2009) đã phân tích những thay đổi của các ngân hàng Trung Quốc sau khi áp dụng Basel 2, và chỉ ra nỗ lực của các nhà lập pháp, quản lý ngân hàng ở Trung Quốc trong việc chuẩn bị cho quá trình triển khai Basel 2, tạo nên sự thay đôi lớn trong ngành công nghiệp tài chính tại đất nước này. Tuy vậy vẫn còn một khoảng cách lớn giữa những tiêu chí của hiệp ước Basel 2 và mức độ triển khai được tại Trung Quốc. Ngoài ra tác giả cũng đề xuất một số giải pháp dé nâng cao hiệu quả của việc áp dụng Basel 2 như xây dựng hệ thống cơ sở dit liệu hoàn thiện.
Bài nghiên cứu của Hiệp hội các ngân hàng phát triển châu Mỹ (Inter-American Development Bank) (2006) đã phân tích những tác động của việc áp dụng các tiêu chuẩn Basel 2 đối với hoạt động của các ngân hàng khu vực Mỹ latinh. Bài nghiên cứu của Young Bong Cho (2013) đã phân tích kinh nghiệm triển khai Basel tại các nước Hàn Quốc, Chile, Malaysia và Hong Kong từ đó chỉ ra những khó khăn khi triển khai tại các nước này. Bài viết của Cruz, J. (2008) phân tích và chỉ ra những khó khăn cụ thể khi triển khai và thực hiện quản tri rủi ro theo các tiêu chuẩn Basel 2 tại Chile, tác giả cũng so sánh với việc triển khai Basel 2 tại các nước Nam Mỹ nói chung từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục.
Các công trình nghiên cứu về áp dụng basel 2 tại Việt Nam Thực hiện Trụ cột I: Yêu cẩu về vốn Các nghiên cứu đã đưa ra số liệu thống kê liên quan đến hệ số CAR ở các NHTM Việt Nam. Theo nghiên cứu của Đặng Hữu Man (2010), các NHTM lớn như Vietcombank, BIDV và Vietinbank đều đảm bảo mức CAR trên 8%. Theo số liệu thống kê trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành và các cộng sự (2012), đến năm 2011 hệ số CAR trung bình của toàn ngành ngân hàng đạt 11,97% song vẫn còn 17 ngân hàng không đáp ứng được tiêu chuan này. Bốn NHTM nhà nước có hệ số vốn không cao, trong đó hệ số CAR của Vietcombank và Vietinbank xấp xỉ 10% còn ở VPBank và BIDV tỷ lệ này ở mức thấp là 6,8% và 7,1% Nghiên cứu về rủi ro tín dụng ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và rủi ro ở các NHTM, Phạm Hương (2010), Thúy Hằng (2009) đều nhận định mặc dù hệ số an toàn vốn ở các NHTM Việt Nam luôn được tăng cường, cơ cấu dư nợ có tài sản bảo đảm tăng song các ngân hàng này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu vốn tối thiểu của Basel.
Đồng quan điểm với những nghiên cứ này, Francois (2010) khăng định răng hệ số CAR ở các ngân hàng Việt Nam được tính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam nên có sự sai lệch khá lớn khi tính lại theo tiêu chuẩn quốc tế. Theo ông, báo cáo cua Fitch cho thấy hệ số CAR của Việt Nam chỉ khoảng 5%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực Thực hiện Trụ cột II: Thanh tra giám sát trong hệ thống ngân hàng Hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam đều điểm ra những yếu kém của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong hoạt động thanh tra giám sát và tính minh bạch. Những bất cập trong hoạt động hệ thống ngân hàng thời gian qua như tình trạng mất cân đối về kì hạn gây thiếu thanh khoản, nợ xấu gia tăng, không trích đủ dự phòng rủi ro. cũng có nguyên nhân từ công tác thanh kiểm tra và giám sát ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu.
Theo Tô Ánh Dương (2006) lực lượng thanh tra giám sát của NHNN còn mỏng, thiếu cơ chế và nguồn lực thực hiện. Hoạt động của cơ quan này mới chỉ dừng lại ở thanh tra và chưa thực hiện được công tác giám sát hoạt động ngân hàng như các nước trong khu vực và trên thế giới. Nghiên cứu của Tô Ánh Dương (2006) đã phân tích rất sâu năng lực, phương pháp và cách thức hoạt động của cơ quan giám sát. Tuy nhiên, hoạt động của các NHTM đã có nhiều thay đổi, đang ngày càng trởnên đa dạng và phức tạp đòi hỏi hoạt động giám sát tốt hơn nữa.
Do đó, nghiên cứu này không còn tính cập nhật đến thời điểm hiện tại. Thực hiện Trụ cột III: Công khai thông tin theo các nguyên tắc thị trường và việc thực hiện trụ cột II, nghiên cứu Francois (2010) cho rằng do hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trong giai đoạn chuyền đổi nên tính minh bach trong hệ thống còn hạn chế. Theo Nguyễn Đào Tan (2008), mặc du Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước ngày cảng phát triển mạnh mẽ, góp phan quan trong cho sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam vì mục tiêu an toản, hiệu quảnhưng những đòi hỏi về thông tin của các ngân hàng vẫn chưa được đáp ứng một cách đáng tin cậy, nhanh chóng và kịp thời. Việc tìm kiếm thông tin cực kỳ khó khăn và tình trạng thông tin bất cân xứng vẫn là một tồn tại chưa thể khắc phục được trên thị trường tài chính Việt Nam Nghiên cứu của Tô Ánh Dương (2006) đã phân tích hoạt động công bố thông tin trên nhiều khía cạnh: quy định về công bố thông tin của NHNN, năng lực của cán bộ thông tin và trình độ công nghệ thông tin ở các ngân hàng.
Những đánh giá của nghiên cứu mang tính giá trị cao tuy nhiên chưa bám sát vào các nội dung công bồ thông tin của Basel 2 và không còn tính cập nhật. Bài nghiên cứu “Thách thức đối với ngân hàng Việt Nam khi triển khai Basel 2” của tác giả ThS. Nguyễn Văn Thọ và ThS. Nguyễn Ngoc Linh, tạp chí Ngân hàng số 8, 2015.
Bài nghiên cứu đưa ra những tác động khi áp dụng Basel 2 đối với các ngân hàng Việt Nam, những thách thức sẽ gặp phải khi áp dụng tiêu chuẩn này và giải pháp giúp các ngân hàng vượt qua thách thức đó. Đánh giá chung về các nghiên cứu đi trước Về mặt nội dung: do yêu cầu và mục đích nghiên cứu khác nhau nên những nghiên cứu trước còn một số hạn chế Trong phần cơ sơ lý luận và thực tế về Hiệp ước Basel II, mặc dù các nghiên cứu đã phân tích nội dung của Basel I, II, giới thiệu các mô hình đo lường rủi ro song chưa làm rõ được sự cân thiệt phải áp dụng Hiệp ước vôn Basel 2trong héthéng ngân hang. Rat ít các nghiên cứu đưa ra các điều kiện để áp dụng Basel 2hoặc có nhưng các điều kiện này chưa đầy đủ. Các công trình nghiên cứu về áp dụng Basel 2trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hau hết chưa đi sâu nghiên cứu về việc thực hiện các trụ cột II và II.
Đặc biệt ở Việt Nam, số lượng các nghiên cứu đánh giá năng lực ứng dụng tất cả các trụ cột trong Basel 2 ở các ngân hàng còn ít và những nghiên cứu này được thực hiện đã khá lâu (hơn 10 năm về trước). Các nghiên cứu không có điều kiện phân tích hệ thống những khó khăn về mặt tài chính, kỹ thuật, năng luc.dé ap dung cac chuẩn mực của Basel 26 Việt Nam. Các giải pháp đưa ra trong các nghiên cứu khá rời rạc, không có tính liên thông, chưa gắn kết với các bài học kinh nghiệm của các nước. Về phương pháp nghiên cứu: Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính.
Với nghiên cứu hoạt động áp dụng Basel trong hệ thống ngân hàng thì phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp với các phương pháp thống kê, so sánh là rất phù hợp.2 Cơ sở lý luận chung về quản trị rủi ro trong hoạt động NHTM 1. Khái niệm chung về ngân hàng thương mai và các loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại a. Khái niệm ngân hàng thương mại Theo điều 20 Luật các tô chức tin dụng sửa đôi 2017 “tổ chức tin dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán”. Trong các loại hình tổ chức tín dụng thì “ngân hang là loại hình tô chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.