Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu; Chương 3: Thiết kế nghiên cứu; Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu; Chương 5: Kết luận và hàm ý một số giải pháp. Tài liệu tham khảo Phụ lục 123doc 6 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày các vấn đề về lý thuyết và những nghiên cứu liên quan trước đây làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và phát biểu các giả thuyết nghiên cứu. Chương này gồm ba phần chính: (1) Các khái niệm và các nguyên nhân cũng như kết quả của xung đột gia đình-công việc, (2) Khái niệm về dự định chuyển việc, (3) Mối quan hệ giữa xung đột gia đình-công việc thông qua tổng kết các nghiên cứu trước đây.1 Xung đột gia đình-công việc (Work-Family Conflict) 2.1 Khái niệm: Kahn và cộng sự (1964, trang 19) định nghĩa xung đột gia đình-công việc là “sự xung đột vai trò khi xảy ra cùng lúc hai hay nhiều áp lực mà để làm tốt vai trò này thì sẽ rất khó có thể làm tốt vai trò kia”.
Greenhaus và cộng sự (1985, trang 77) định nghĩa xung đột gia đình-công việc là “hình thức xung đột vai trò trong đó áp lực vai trò của công việc hay gia đình tương kỵ nhau ở một vài phương diện”. Tức là khi tham gia vào thực hiện vai trò công việc gây ra khó khăn cho việc tham gia vào thực hiện vai trò gia đình và ngược lại. Các tác giả đưa ra khái niệm xung đột gia đình-công việc dựa trên ba khía cạnh đó là: thời gian, sự căng thẳng và hành vi. + Xung đột dựa trên thời gian (Time-Based Conflict) có thể xuất hiện khi cá nhân không thể đáp ứng với nhiều hoạt động ở cùng một thời gian hay là sự xao lãng một vai trò khi đang thực hiện vai trò kia (Greenhaus và cộng sự, 1985).
Các yếu tố liên quan đến thời gian làm việc là nguyên nhân chính gây ra xung đột gia đình-công việc dựa trên khía cạnh thời gian như lịch làm việc không linh hoạt, giờ làm việc không theo truyền thống như làm việc ca chiều, ca đêm và luân chuyển ca (Blomme và cộng sự, 2010). + Xung đột do căng thẳng (Strain-Based Conflict) xuất hiện khi sự căng thẳng hay sự lo âu khi thực hiện vai trò này ảnh hưởng đến kết quả thực hiện vai trò kia (Greenhaus và cộng sự, 1985). Nguyên nhân gây ra căng thẳng trên tương tác công 123doc 7 việc-gia đình có thể do tình trạng quá tải vai trò hay tình trạng vai trò công việc không rõ ràng. Tình trạng quá tải vai trò xuất hiện khi cá nhân không đủ khả năng đối đầu với số lượng công việc mà họ có trách nhiệm trong một vai trò đặc biệt (Higgins và cộng sự, 1992).
Trong khi đó tình trạng vai trò công việc không rõ ràng xuất hiện khi cá nhân đó không chắc chắn về kết quả của hành vi trong vai trò của họ (Kahn và cộng sự, 1964) dẫn đến căng thẳng. Do vậy, sự quá sức đối với vai trò mà họ có thể đảm nhận hay vai trò công việc không rõ ràng là nguyên nhân dẫn đến xung đột gia đinh-công việc. + Xung đột vì hành vi (Behavior-Based Conflict) xuất hiện khi cá nhân có sự thay đổi từ một hành vi được chấp nhận ở một vai trò đến hành vi được mong đợi ở vai trò khác (Greenhaus và cộng sự, 1985). Nhiều nghiên cứu trước đây khi nghiên cứu về yếu tố xung đột gia đình-công việc, các tác giả chủ yếu tập trung vào hai hình thức của xung đột gia đình-công việc đó là xung đột gia đình công việc dựa trên thời gian và xung đột gia đình-công việc dựa trên sự căng thẳng mà ít đánh giá đến khía cạnh xung đột dựa trên hành vi, các tác giả lập luận rằng kết quả nghiên cứu dựa trên khía cạnh hành vi cho ít bằng chứng thực nghiệm (Rotondo và cộng sự, 2002; Carlson và cộng sự, 2000; Netemeyer và cộng sự, 1996).
Netemeyer và cộng sự (1996) tổng hợp các nghiên cứu trước đó về yếu tố xung đột gia đình-công việc cho rằng các nghiên cứu trước đã kết hợp giữa xung đột gia đình đến công việc và xung đột công việc đến gia đình thành một mà không phân biệt thành hai hướng. Như Aryee và cộng sự (1999) giải thích để hiểu rõ xung đột gia đình-công việc thì cả hai hướng của xung đột là xung đột gia đình đến công việc và xung đột công việc đến gia đình nên được xem xét. Hai hướng của xung đột gia đình-công việc được hiểu như sau: + Xung đột công việc đến gia đình (Work-Family conflict) hay còn xem là công việc cản trở gia đình là “một hình thức của xung đột vai trò trong đó nhu cầu công việc, thời gian dành cho công việc và sự căng thẳng tạo ra bởi công việc làm cản trở việc thực hiện các trách nhiệm dành cho gia đình” (Netemeyer và cộng sự, 1996, trang 401). 123doc 8 + Xung đột gia đình đến công việc (Family-Work Conflict) hay còn xem là gia đình cản trở công việc là “một hình thức của xung đột vai trò trong đó nhu cầu gia đình, thời gian dành cho gia đình và sự căng thẳng do trách nhiệm gia đình làm cản trở việc thực hiện trách nhiệm dành cho công việc” (Netemeyer và cộng sự, 1996, trang 401).
Carlson và cộng sự (2000) cho thấy mỗi khía cạnh trong ba khía cạnh của xung đột gia đình -công việc cũng có hai chiều và hình thành sáu cấp độ của xung đột gia đình-công việc đó là: (1) Công việc cản trở gia đình dựa trên thời gian, (2) gia đình cản trở công việc dựa trên thời gian, (3) công việc cản trở gia đình do căng thẳng, (4) gia đình cản trở công việc do căng thẳng, (5) công việc cản trở gia đình dựa trên hành vi và (6) gia đình cản trở công việc dựa trên hành vi.1 Hai hƣớng và ba hình thức của xung đột gia đình-công việc (Nguồn: Carlson và cộng sự, 2000) Dựa trên khái niệm của Greenhaus và cộng sự (1985) về xung đột gia đình-công việc có ba khía cạnh và khái niệm của Netemeyer và cộng sự (1996) về hai hướng 123doc 9 của xung đột gia đình-công việc, tác giả luận văn đưa ra khái niệm cho xung đột gia đình-công việc là xung đột vai trò xảy ra khi thực hiện đồng thời trách nhiệm công việc và gia đình, mà khi dành thời gian thực hiện vai trò này thì giảm thời gian thực hiện vai trò kia, cũng như sự căng thẳng khi thực hiện vai trò này làm cản trở thực hiện vai trò kia và ngược lại.2 Nguyên nhân và kết quả của xung đột gia đình-công việc: 2.1 Nguyên nhân gây ra xung đột gia đình-công việc: a) Bản chất công việc: Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy xung đột vai trò gia đình-công việc có mối tương quan cao với các công việc có nhiều xung đột, áp lực và căng thẳng. Giờ làm việc dài hay lịch làm việc không linh hoạt, làm việc cuối tuần và tăng ca là một trong những nguyên nhân gây ra xung đột công việc đến gia đình (Eby và cộng sự, 2005; Greenhaus và cộng sự, 1985). Định hướng nghề nghiệp cá nhân cũng ảnh hưởng xung đột công việc đến gia đình do nó ảnh hưởng đến thời gian cam kết với vai trò công việc (Greenhaus và cộng sự, 1985). Như đối với các công việc cần thời gian làm việc dài và thường xuyên công tác dài ngày thì các cá nhân theo đuổi công việc này chịu tác động của xung đột gia đình-công việc nhiều hơn các cá nhân theo đuổi công việc khác.
Ví dụ, Blomme và cộng sự (2010) chứng minh các nhân viên làm việc trong lĩnh vực y tế thì nếu có nơi làm việc linh hoạt sẽ có tác động giảm xung đột gia đình-công việc. Noor và Maad (2008) cho thấy với đặc trưng công việc của các nhân viên tiếp thị là thường điều chỉnh lịch làm việc của họ để có thể thỏa mãn nhu cầu khách hàng nên ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống cá nhân của họ và dễ gây ra xung đột gia đình-công việc. Do đó mức độ tham gia và đầu tư trong công việc càng cao thì dẫn đến xung đột gia đình-công việc càng cao (Eby và cộng sự, 2005; Frone và cộng sự, 1992). Vì vậy văn hóa hỗ trợ trong tổ chức, sự hỗ trợ từ cấp trên, sự hỗ trợ trong công việc có ảnh hưởng đến mức độ xung đột gia đình- công việc của nhân viên (Noor và Maad, 2008; Eby và cộng sự, 2005; Greenhaus và cộng sự, 1985).
123doc 10 Ngoài ra, các yếu tố như công việc căng thẳng, nhiều nhiệm vụ thử thách, quan trọng cũng là nguyên nhân gây xung đột công việc-gia đình (Greenhaus và cộng sự, 1985; Frone và cộng sự, 1992). Tổng kết ta thấy bản chất công việc ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ xung đột gia đình-công việc, đối với các công việc có thời gian làm việc dài, thường xuyên cần tăng ca, tính chất công việc căng thẳng, mức độ yêu cầu tham gia trong công việc nhiều là nguyên nhân góp phần tạo ra xung đột công việc đến gia đình. b) Hoàn cảnh gia đình: Với những người đã lập gia đình cần nhiều thời gian cho các hoạt động của gia đình nên trải qua xung đột gia đình đến công việc nhiều hơn so với người chưa lập gia đình (Greenhaus và cộng sự, 1985). Nhiều nghiên cứu cho thấy những người có nhiều con và con càng nhỏ tuổi thì càng dễ dẫn đến xung đột gia đình đến công việc so với những người có ít con và con đã lớn (Eby và cộng sự, 2005; Greenhaus và cộng sự, 1985).
Lý do là người có nhiều con cần điều chỉnh các nhu cầu, thời gian và cảm xúc của họ giữa công việc và gia đình so với người có ít con hoặc chưa có con, nên số lượng con sống cùng, cũng liên quan đến yếu tố xung đột gia đình - công việc (Netemeyer và cộng sự, 1996). Những người sống trong gia đình có nhiều thành viên thường có nhu cầu thời gian nhiều hơn so với người sống trong gia đình ít thành viên nên những người này cũng trải qua mức độ xung đột gia đình đến công việc cao (Greenhaus và cộng sự, 1985).