Khóa luận: Vôi và phân hữu cơ ảnh hưởng bắp NK7328 tại Bình Dương

Khóa luận nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng vôi và phân hữu cơ đến sinh trưởng, năng suất sinh khối giống bắp NK7328 tại Phú Giáo, Bình Dương năm 2021.

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

95
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cách vôi và phân hữu cơ ảnh hưởng đến giống bắp NK7328

Giống bắp NK7328 là một trong những giống ngô sinh khối được ưa chuộng nhờ khả năng chống chịu hạn, chống đổ ngã và năng suất cao. Tuy nhiên, để khai thác tối đa tiềm năng của giống này, cần cải thiện điều kiện đất, đặc biệt trên vùng đất chua như Phú Giáo, Bình Dương. Nghiên cứu từ Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM (2022) chỉ ra rằng vôi nông nghiệpphân hữu cơ vi sinh đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện độ pH đất, tăng độ phì nhiêu đất, và hỗ trợ hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả cho cây. Việc xử lý đất trước gieo trồng bằng vôi và phân hữu cơ không chỉ giúp cây sinh trưởng mạnh mà còn nâng cao chất lượng hạt bắpnăng suất bắp. Thí nghiệm đồng ruộng cho thấy tổ hợp 1.000 kg vôi/ha và 10 tấn phân hữu cơ/ha giúp pH đất tăng từ 4,80 lên 5,81 và hàm lượng mùn từ 1,62% lên 2,38%. Điều này chứng minh rằng sử dụng vôi và phân hữu cơ kết hợp là giải pháp bền vững cho canh tác ngô sinh khối trên đất thoái hóa.

1.1. Đặc tính nông học của NK7328 và nhu cầu dinh dưỡng

Đặc tính nông học của NK7328 bao gồm thời gian sinh trưởng ngắn (80–90 ngày), khả năng quang hợp C4 mạnh, và thích nghi tốt với điều kiện khô hạn. Giống này cần đất có pH 6,0–7,0 để phát huy tối đa tiềm năng. Tuy nhiên, trên đất chua (pH < 5,5), khả năng hấp thụ dinh dưỡng bị hạn chế do độc tính của nhôm và mangan. Do đó, việc cải tạo đất chua là bước thiết yếu trước khi gieo trồng.

1.2. Vai trò của vôi nông nghiệp trong cải thiện đất trồng bắp

Vôi nông nghiệp (CaO) giúp cải thiện độ pH đất, trung hòa axit, giảm độc tố Al³⁺ và Mn²⁺. Phản ứng đất với vôi làm tăng khả năng trao đổi cation, hỗ trợ cây hấp thụ Ca, Mg và P. Nghiên cứu cho thấy liều lượng vôi phù hợp (1.000 kg/ha) làm tăng pH từ 4,8 lên 5,8, tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng cây bắpnăng suất sinh khối.

II. Thách thức khi canh tác bắp NK7328 trên đất chua và bạc màu

Canh tác giống bắp NK7328 trên vùng đất như Phú Giáo, Bình Dương gặp nhiều thách thức do độ phì nhiêu đất thấp và độ chua đất cao (pH 4,8). Đất chua làm giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng, đặc biệt là lân và canxi, đồng thời tăng độc tính của nhôm – nguyên nhân chính gây còi cọc rễ. Ngoài ra, hàm lượng mùn trong đất chỉ 1,62% khiến đất kém giữ nước và dinh dưỡng, ảnh hưởng đến tăng trưởng cây bắp trong giai đoạn vươn cao và trổ cờ. Nếu không xử lý đất trước gieo trồng, cây dễ bị vàng lá, sinh trưởng kém và năng suất giảm. Thí nghiệm cho thấy nghiệm thức không bón vôi và phân hữu cơ có năng suất sinh khối tươi chỉ 50,56 tấn/ha, thấp hơn 26% so với nghiệm thức tối ưu. Do đó, cải tạo đất là yếu tố then chốt để đạt hiệu quả kinh tế canh tác bắp.

2.1. Ảnh hưởng của đất chua đến sinh trưởng và năng suất bắp

Đất có pH < 5,0 làm giảm hoạt động của vi sinh vật có lợi và hạn chế hấp thụ dinh dưỡng. Cây bắp NK7328 trên đất chua thường có rễ ngắn, lá vàng và dễ bị sâu bệnh. Tăng trưởng cây bắp bị ức chế rõ rệt trong giai đoạn 30–45 ngày sau gieo – thời kỳ quyết định năng suất.

2.2. Hạn chế của canh tác truyền thống không dùng vôi và phân hữu cơ

Canh tác chỉ dùng phân vô cơ mà không cải tạo đất chua dẫn đến suy thoái đất nhanh, độ phì nhiêu đất giảm theo thời gian. Nghiên cứu cho thấy nghiệm thức đối chứng (không bón vôi và phân hữu cơ) có tỷ lệ bệnh hại cao (16,84%) và năng suất bắp thấp nhất. Điều này làm giảm hiệu quả kinh tế canh tác bắp, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu.

III. Phương pháp tối ưu Kết hợp vôi và phân hữu cơ cho bắp NK7328

Phương pháp sử dụng vôi và phân hữu cơ kết hợp được chứng minh là giải pháp hiệu quả nhất để canh tác giống bắp NK7328 trên đất chua. Thí nghiệm đồng ruộng tại Phú Giáo (2021) sử dụng thiết kế lô phụ với 3 mức liều lượng vôi (250, 500, 1.000 kg/ha) và 3 mức liều lượng phân hữu cơ tối ưu (5, 10, 15 tấn/ha). Kết quả cho thấy nghiệm thức 1.000 kg vôi + 10 tấn phân hữu cơ/ha cho chiều cao cây 257,4 cm, số lá 21,0 lá/cây, và năng suất sinh khối tươi thực thu 63,67 tấn/ha – cao nhất trong tất cả nghiệm thức. Phân hữu cơ vi sinh (phân bò ủ hoai) cung cấp chất mùn, cải thiện cấu trúc đất, trong khi vôi nông nghiệp nâng pH và giải phóng dinh dưỡng. Quy trình xử lý đất trước gieo trồng bao gồm bón vôi trước 7 ngày, sau đó trộn đều phân hữu cơ và super lân. Phương pháp này không chỉ tăng năng suất bắp mà còn giảm tỷ lệ bệnh hại xuống 10,79%.

3.1. Liều lượng vôi phù hợp để cải thiện pH đất trồng bắp

Liều lượng vôi phù hợp cho đất chua (pH 4,8) là 1.000 kg/ha. Mức này giúp pH tăng lên 5,81 – gần ngưỡng tối ưu cho tăng trưởng cây bắp. Liều thấp hơn (250–500 kg/ha) không đủ để trung hòa axit, trong khi liều quá cao có thể gây mất cân bằng dinh dưỡng.

3.2. Lựa chọn và liều lượng phân hữu cơ tối ưu cho ngô sinh khối

Phân bón hữu cơ cho ngô nên dùng phân bò ủ hoai với liều lượng phân hữu cơ tối ưu là 10 tấn/ha. Mức này cung cấp đủ mùn (tăng OM lên 2,38%) mà không gây dư thừa, giúp đất tơi xốp và giữ ẩm tốt. Liều 15 tấn/ha không cải thiện đáng kể năng suất nhưng làm tăng chi phí, giảm hiệu quả kinh tế canh tác bắp.

IV. Kết quả thực nghiệm Tăng trưởng và năng suất bắp NK7328

Kết quả thí nghiệm đồng ruộng tại Phú Giáo cho thấy nghiệm thức kết hợp 1.000 kg vôi và 10 tấn phân hữu cơ/ha mang lại hiệu quả vượt trội. Chiều cao cây đạt 257,4 cm, số lá 21,0 lá/cây, và đường kính gốc thân 2,14 cm – các chỉ tiêu sinh trưởng tốt nhất. Khối lượng cây tươi đạt 0,54 kg/cây, trong đó khối lượng trái trên cây là 0,25 kg/cây, chiếm 50,63% tổng sinh khối. Năng suất sinh khối tươi lý thuyết đạt 63,64 tấn/ha và năng suất sinh khối tươi thực thu 63,67 tấn/ha. Tỷ lệ chất khô đạt 22,17% – phù hợp cho thức ăn chăn nuôi. Đặc biệt, tỷ lệ bệnh hại (sâu keo, bệnh khô vằn) chỉ 10,79%, thấp nhất trong các nghiệm thức. Đồng thời, độ chua đất được cải thiện rõ rệt: pH tăng 1,01 đơn vị và hàm lượng mùn tăng 0,76%. Điều này chứng minh rằng sử dụng vôi và phân hữu cơ kết hợp không chỉ tăng năng suất bắp mà còn phục hồi sức khỏe đất.

4.1. Ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng hạt bắp

Nghiệm thức tối ưu giúp chất lượng hạt bắp được cải thiện nhờ tỷ lệ chất khô cao (22,17%) và tỷ lệ khối lượng trái/cây đạt 50,63%. Điều này đảm bảo giá trị dinh dưỡng cao cho thức ăn chăn nuôi. Khả năng chống chịu sâu bệnh cũng tăng nhờ cây khỏe mạnh, giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật.

4.2. Cải thiện đặc tính lý hóa đất sau canh tác

Sau thí nghiệm, độ phì nhiêu đất tăng rõ rệt: pH từ 4,8 lên 5,81 và hàm lượng mùn từ 1,62% lên 2,38%. Điều này chứng minh tác động của vôi đến cây trồngphân hữu cơ vi sinh không chỉ hỗ trợ mùa vụ hiện tại mà còn bền vững cho các vụ tiếp theo.

V. Hiệu quả kinh tế và khuyến nghị canh tác bắp NK7328

Phân tích hiệu quả kinh tế canh tác bắp cho thấy nghiệm thức 1.000 kg vôi + 10 tấn phân hữu cơ/ha cho lợi nhuận cao nhất: 14,33 triệu đồng/ha, cao hơn 203% so với nghiệm thức thấp nhất (4,71 triệu đồng/ha). Chi phí đầu tư tăng không đáng kể (khoảng 3,5 triệu đồng/ha cho vôi và phân hữu cơ) nhưng năng suất bắp tăng 26%, mang lại giá trị kinh tế vượt trội. Ngoài ra, việc cải thiện độ pH đấtđộ phì nhiêu đất giúp giảm chi phí cải tạo trong các vụ sau. Khuyến nghị cho nông dân Phú Giáo là áp dụng liều lượng này kết hợp xử lý đất trước gieo trồng 7–10 ngày. Cần lưu ý liều lượng vôi phù hợp theo từng loại đất – trên đất cát pha, liều 1.000 kg/ha là tối ưu. Việc sử dụng vôi và phân hữu cơ kết hợp không chỉ tăng năng suất sinh khối mà còn góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.

5.1. So sánh lợi nhuận giữa các nghiệm thức bón vôi và phân hữu cơ

Nghiệm thức 1.000 kg vôi + 10 tấn phân hữu cơ cho lợi nhuận cao nhất (14,33 triệu đồng/ha). Trong khi đó, nghiệm thức 250 kg vôi + 15 tấn phân hữu cơ chỉ đạt 4,71 triệu đồng/ha do năng suất thấp và chi phí phân hữu cơ cao. Điều này cho thấy liều lượng phân hữu cơ tối ưu là 10 tấn/ha, không phải càng nhiều càng tốt.

5.2. Khuyến nghị kỹ thuật cho nông dân vùng đất chua

Nông dân nên xử lý đất trước gieo trồng bằng cách bón vôi nông nghiệp 1.000 kg/ha, sau 7 ngày bón phân hữu cơ vi sinh 10 tấn/ha và super lân. Cần theo dõi pH đất định kỳ để điều chỉnh liều lượng vôi phù hợp. Kết hợp với tưới nhỏ giọt và phòng trừ sâu bệnh kịp thời để tối ưu hiệu quả kinh tế canh tác bắp.

VI. Tương lai của canh tác bắp NK7328 với vôi và phân hữu cơ

Xu hướng canh tác giống bắp NK7328 trong tương lai sẽ tập trung vào nông nghiệp bền vững, trong đó sử dụng vôi và phân hữu cơ kết hợp đóng vai trò trung tâm. Nghiên cứu hiện tại mới chỉ đánh giá trong một vụ, do đó cần mở rộng thí nghiệm đồng ruộng đa vụ để xác định hiệu quả lâu dài. Ngoài ra, nên bổ sung phân tích sa cấu đất, dung trọng, và dinh dưỡng vi lượng để hiểu sâu hơn về tác động của vôi đến cây trồng. Việc tích hợp phân hữu cơ vi sinh với chế phẩm EM cũng là hướng nghiên cứu tiềm năng để tăng hiệu quả cải tạo đất chua. Cuối cùng, mô hình này có thể nhân rộng cho các vùng đất thoái hóa khác ở Đông Nam Bộ, góp phần đáp ứng nhu cầu thức ăn thô xanh cho ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh.

6.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo về liều lượng vôi và phân hữu cơ

Cần thực hiện thí nghiệm đồng ruộng trong nhiều vụ liên tiếp để đánh giá hiệu quả lâu dài của liều lượng vôi phù hợpliều lượng phân hữu cơ tối ưu. Đồng thời, nên thử nghiệm với các loại phân hữu cơ vi sinh khác như phân gà, phân trùn quế để tìm giải pháp đa dạng.

6.2. Tiềm năng mở rộng mô hình cho vùng đất thoái hóa

Mô hình sử dụng vôi và phân hữu cơ kết hợp có thể áp dụng cho các vùng đất chua, bạc màu ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Điều này không chỉ tăng năng suất bắp mà còn góp phần phục hồi độ phì nhiêu đất, hỗ trợ chiến lược phát triển chăn nuôi bền vững của quốc gia.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu về cây bắp 1.1 Đặc điểm chung bắp sinh khối Đặc điểm chung nỗi bật của giống bắp sinh khối làm thức ăn chăn nuôi là phải có sức chứa lớn, chất lượng tốt khi cây còn xanh, ít nhiễm sâu bệnh, có tính thích nghi rộng. Bắp là cây trồng quang hợp theo chu trình C4 nên có ưu thế tạo được sinh khối lớn hơn so với cây quang hợp theo chu trình C3. Cây quang hợp theo chu trình C4 không có hiện tượng hô hấp ánh sáng, có điểm bù CO; rất thấp và cường độ quang hợp cao. Vì vậy, trong suốt thời gian sinh trưởng cây bắp tích lũy được một khối lượng sinh khối lớn hơn so với các loài cây có hô hấp ánh sáng.

Bắp là loài cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới vùng khô hạn, nên khi gặp điều kiện thiếu nước, nắng nóng, những khí khổng của lá hầu như đóng kín hoàn toàn vào ban ngày dé hạn chế sự bốc thoát hơi nước, giữ nước cho các hoạt động sinh lý, sinh học trong cây. Vì thế, việc tiêu tốn nước dé tạo ra một đơn vị chất khô thấp. Trong điều kiện khô hạn, ánh sáng nhiều, bắp có thé sản xuất ra lượng chất khô gấp 1,5 — 2,0 lần so với cây quang hợp C3. Với khả năng tích lũy chất khô cao, nên bắp là cây trồng có thể đạt năng suất cao hơn các loài cây ngũ cốc khác (Lê Quý Kha và ctv, 2019).2 Giá trị của cây bắp phục vụ chăn nuôi Bắp sử dụng làm thức ăn chăn nuôi: Cả thế giới sử dụng gần 400 triệu tấn hạt bắp dé làm thức ăn cho gia súc.

Trong thức ăn hỗn hợp của hầu hết các nước trên thế giới có khoảng 70% chất tinh là từ cây bắp. Ngoài việc cung cấp chat tinh, cây bap còn làm thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng (Bap Hữu Tinh, 2009). Tinh bột của bắp hạt vàng cao hơn gạo trắng gấp 1,05 lần, chất đạm của bắp hạt vàng cao hơn gạo trắng gấp 1,2 lần, chất béo của bắp hạt vàng cao hơn gạo trắng gấp 2.1 Thành phần hóa học của cây bắp xanh (không bap), thân lá va cây bắp ủ chua x : Cây Cây /4/eri dỗ : x Than La ñ £ ; La bi bap Thanh phan (%) (%) a r xanh (%) Độ âm 3,6 8,9 773 : 63,5 Protein thé (N x 625) 1,3 3,2 1,3 1,6 1,8 Lipid thô 0,4 0,7 0,4 0,8 0,4 Các chiết xuất không 4,5 5,4 13,6 8,9 20,9 dam Xenlulo 9,1 8,6 6,0 5,4 11,9 Tro 11 3,2 1,4 1,8 1,5 (Nguồn: Bap Hữu Tinh, 2009) Kết quả ở Bang 1.1 cho thấy, trong cây bắp xanh (không bắp) hàm lượng protein thô trong lá cao nhất (3,2%), tiếp đến là lá bi bắp xanh và cuối cùng là thân; Hàm lượng lipit thô trong lá (0,7%) cũng cao hơn thân và lá bi bắp xanh; các chiết xuất không dam ở lá bi bắp xanh (20,9%) cao hơn lá và cuối cùng là thân; xenlulo ở lá bi bắp xanh (11,9%) cao hơn thân và cuối cùng là lá.2 Thành phần hóa học gần đúng của các thành phần chính trong hạt bắp (%) Thành phân hóa học Vỏ hạt Nội nhũ Mâm Protein 3,70 8,00 18,04 Chất béo 1,00 0,80 33,20 Chất xơ thô 86,70 2,07 8,80 Tro 0,80 0,30 10,50 Tinh bot 7,30 87,60 8,30 Duong 0,34 0,62 10,80 (Nguồn: Bap Hữu Tinh, 2009) Qua Bang 1.2 cho thay: Thành phan hóa hoc gồm protein, chất béo, tinh bột, đường của bộ phận mầm hạt bắp là cao nhất, tiếp đến trong nội nhũ hạt bắp và cuối cùng là vỏ hạt bắp. Thành phần hóa học như chất xơ, tro của bộ phận vỏ hạt bắp là cao nhất, tiếp đến là mầm bắp và cuối cùng là nội nhũ bắp.

Giá trị dinh dưỡng của cây bắp thu sinh khối phụ thuộc nhiều vào thời gian thu hoạch cây, việc thu hoạch bắp sinh khối làm thức ăn tươi cho gia súc vào giai đoạn chín sữa là lý tưởng nhất bởi các lý do sau: Giai đoạn này, cây bắp cho khôi lượng sinh khôi cực đại, cây bắp vẫn còn mêm, 4 giòn, có vị đậm, mùi thơm đặc trưng, đã tích lũy đầy đủ dinh dưỡng trong thân, lá và bắp của cây, hàm lượng protein thô và lipid đạt cao nhất. Chỉ số đơn vị tạo sữa (UFL) trong cây lúc này đạt cao nhất (Lê Quý Kha và ctv, 2019).3 Sinh trưởng và phát triển của cây bắp Dựa vào một số đặc điểm trong quá trình sinh trưởng của cây bắp, ở nước ta có thé chia sự sinh trưởng và phát triển của cây bắp gồm 5 thời kỳ. Thời kỳ nảy mam: Giai đoạn từ khi gieo đến 3 lá, đặc điểm thời kỳ này phụ thuộc vào lượng các chất dự trữ trong hạt, đòi hỏi phải đảm bảo điều kiện ngoại cảnh dé hạt nảy mầm. Thời kỳ cây con: Từ lúc cây được 3 lá đến lúc phân hóa hoa.

Thời kỳ vươn cao và phân hóa cơ quan sinh san: Từ phân hóa hoa đến trổ cờ, cây bắp sinh trưởng thân lá nhanh, bộ rễ phát triển mạnh, ăn sâu, tỏa rộng, xuất hiện rễ chân kiêng, đây là giai đoạn quyết định số hoa đực, hoa cái, khối lượng chất dinh dưỡng dự trữ trong thân lá, đây là thời kỳ cây bap cần nhiều nước, dam, lân, kali. Thời kỳ nở hoa: Bao gồm trổ cờ, tung phan, phun rau, thụ tinh, đây là giai đoạn quyết định năng suất cây bắp, các chất đinh dưỡng và các chất hữu cơ bắt đầu tập trung mạnh vào các bộ phận sinh sản. Thời kỳ chín: Từ thụ tinh đến chin, cây bat đầu sinh trưởng chậm dan, trọng lượng hat tăng nhanh, thời kỳ chín gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn chín sữa, chín sáp, chín hoàn toàn (Trần Thị Dạ Thảo, 2008).4 Yêu cầu ngoại cảnh của cây bắp 1.1 Nhiệt độ Phạm vi nhiệt độ dé cây bắp sinh trưởng được biến động từ 9 — 45°C, trong đó khoảng từ 24 — 30°C là khoảng nhiệt độ tối thích cho cây bắp phát triển. Trong từng giai đoạn sinh trưởng cây bắp cần nhiệt độ khác nhau.

Giai đoạn nảy mầm: Nhiệt độ thích hợp từ 28 — 30°C. Giai đoạn mọc — vươn cao: Yêu cầu nhiệt độ cao hơn từ 28 — 32°C. Giai đoạn phan hóa cơ quan sinh san: Cần nhiệt độ thấp hơn, từ 24 - 25°C. Gia đoạn trổ cờ - tung phan: Nhiệt độ tích hợp từ 22 — 24°C, nhiệt độ trên 30 °C sẽ ảnh hưởng xấu tới năng suất là do hạt phan bị mất sức sống, râu bắp bị khô, khó tiếp nhận hạt phấn gây khuyết hàng, khuyết hạt.

Giai đoạn chín: Giai đoạn này cây bắp cần ấm và nhiều nắng, từ tré cờ đến chín sữa, bắp cần nhiệt độ cao đến 24 — 26°C (Bap Hữu Tình, 2009).2 Nước và độ am Bắp là cây trồng cạn, nhưng nhu cầu đối với nước của bắp cũng rất lớn và quan trong không kém các yếu tố ngoại cảnh khác. Các thời kỳ sinh trưởng khác nhau yêu cầu độ ẩm đất cũng khác nhau: Giai đoạn nảy mam, cần âm độ đất 70 - 80%. Giai đoạn bắp có 5 - 6 lá có thể chịu hạn (âm độ đất 60%), nếu hạn ở giai đoạn này, bộ rễ sẽ ăn sâu, cây bắp sẽ đứng vững hơn. Giai đoạn 7 — 8 lá đến tré cờ: Giai đoạn nay cây cần nhiều nước nhất, vì cây bắp đang ở thời kỳ sinh trưởng mạnh.

Lượng nước cần chiếm 60% so với tổng lượng nước yêu cầu. Giai đoạn chín: Yêu cầu về nước của cây bắp dan dần giảm xuống. Lượng nước cần cho giai đoạn chin chỉ chiếm 15 — 25% so với tổng lượng nước yêu cau, âm độ dat trong giai đoạn nay cần từ 80 — 90% là thích hợp.3 Ánh sáng Ánh sáng mặt trời là nguồn năng lượng cơ bản cho quang hợp của cây bắp. Quá trình quang hợp tạo nên 90 — 95% chất khô trong cây.

Bắp là cây ưa sáng, nó chỉ sinh trưởng mạnh và cho năng suất cao trong điều kiện ánh sáng đầy đủ và cường độ ánh sáng mạnh. Cây bắp thích ánh sáng trang. Trong điều kiện ánh sáng đỏ, cây sẽ vươn lóng dài, yếu ớt, tỷ lệ cây không bắp cao, kéo dài thời gian sinh trưởng. Nếu trồng dày, thiếu ánh sáng, khả năng tích lũy chất khô kém.

trái nhỏ, cho năng suất thấp. Mặt khác, khả năng sử dụng quang năng ở bắp lại thấp chỉ bằng 2 — 5% ánh sáng tự nhiên cho quá trình quang hợp. Bap là cây ngày ngăn, cần trung bình 12 giờ (thích hợp nhất 10 giờ) chiếu sáng trong một ngày. Nhưng mức độ phản ánh với ánh sáng ngày ngắn không chặt, cho nên bắp có thể trồng bất cứ lúc nào trong năm.

Trong đời sống cây bắp, cường độ ánh sáng có vai trò quan trọng hơn độ dải ngày.4 Chế độ không khí Chế độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến cây bắp và ảnh hưởng gián tiếp thông qua quá trình biến đối chất hữu cơ, vi sinh vật trong dat. Trong đất, cây bắp hút khoảng 15 — 20% CO, dé sử dụng cho quá trình quang hợp. Trong quá trình hô hap cây hút O; và thải ra CO;. Vì vậy cây bắp cần nhiều O; cho các hoạt động sống.

1 gam chất khô rễ sử dụng 0,35 — 1,43 mg O,/ ngày.5 Đất đai và dinh dưỡng Dat đai Bắp là một cây trồng thích nghi với nhiều điều kiện đất đai. Được trồng trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất trên đất cát pha hay đất phù sa ẩm, mực nước ngầm sâu, thoáng khí và thoát nước tốt có tầng canh tác sâu chứa nhiều chất hữu cơ và nhiều chất dinh dưỡng. Bap có thé trồng được trên đất có độ chua trung bình nhưng pH thích hợp là pH = 6,5 — 7,0. Dinh dưỡng ĐỀ tạo thành chat hữu co, ngoài nhiệt độ, ánh sáng, nước và khí CO, cây cần nhiều chất khoáng.

Các chất đinh dưỡng chính như N, P, K, Ca, Mg, S cũng như các nguyên tổ vi lượng như Fe, Mn, Zn, Cu, Mo, B, Cl, các nguyên tố siêu vi lượng như: Si, Na, Al, chúng điều có lượng chứa và vai trò khác nhau trong cây bap.3 Hàm lượng chất dinh dưỡng cây bắp lấy từ dat (kg/ha) N P,0; K;ạO Mg S Chấtkhô Tỷ lệ (%) Hạt(l0tấn) 190 78 54 18 16 9770 52 Thân lá cù 79 33 215 38 18 8960 48 Tổng số 269 111 269 56 34 18730 100 (Viện Lân — Kali Atlanta, 1996) Qua Bang 1.3 cho thay, để tạo ra 10 tan bap hat/ha cả thân lá cùi cây bắp lấy đi 269 kg N - 111 kg P,O; — 269 kg KạO và một số nguyên tố vi lượng như 56 kg MgO, 34 kg S;O. Đề tạo ra 5 — 6 tấn hat/ha hay năng suất chất xanh 50 — 60 tan/ha, cây hút từ dat khoảng 150 — 180 kg N, 60 — 70 kg PzOs va 160 — 190 kg KạO.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ