Đặt vấn đề Đậu tương có tên khoa học Glycine max (Merill.), là loại cây họ đậu (Fabaceae) thuộc loài bản địa của Đông Á. là cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế cao trong nền nông nghiệp nước ta. Hạt đậu tương giàu hàm lượng chất đạm và lipit nên được trồng để làm thức ăn cho người và gia súc. Trong hạt đậu tương có các thành phần hoá học sau Protein (40%), lipit (12-25%), glucid (10-15%); có các muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S; các vitamin A, B1, B2, D, E, F; các enzyme, sáp, nhựa, xenlulo.
Trong đậu tương có đủ các axit amin cơ bản isoleucin, leucin, lysin, metionin, phenylalanin, tryptophan, valin. Ngoài ra, đậu tương được coi là một nguồn cung cấp protein hoàn chỉnh vì chứa một lượng đáng kể các axit amin không thay thế cần thiết cho cơ thể. Các thực phẩm làm từ đậu tương được xem là một loại "thịt không xương" vì chứa tỷ lệ đạm thực vật dồi dào, có thể thay thế cho nguồn đạm từ thịt động vật. Thậm chí, lượng đạm (protein) trong 100 gr đậu tương có thể tương đương với lượng đạm trong 800 gr thịt bò.
Tại các quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, 60% lượng đạm tiêu thụ hằng ngày là do đậu tương cung cấp. Hàm lượng chất đạm chứa trong đậu tương cao hơn nhiều so với lượng chất đạm chứa trong các loại đậu khác. Đậu tương còn là vị thuốc chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt đen có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày, làm thức ăn cho người bị đái tháo đường, thấp khớp…Vì hàm lượng protein, kali, vitamin cao nên có giá trị giải nhiệt rất tốt, lợi tiểu hơn và nhiều chất chống oxy hóa hơn đã biến hạt đậu tương cũng trở nên đặc biệt hơn. Đậu tương ở Việt Nam được trồng rất nhiều vụ trong năm với nhiều công thức luân canh khác nhau nhờ tập đoàn giống đậu tương phong phú cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
Việt Nam có điều kiện nhiệt độ và ẩm độ thích 1 hợp để cây đậu tương sinh trưởng và phát triển tốt, nhờ đó Việt Nam có tiềm năng mở rộng diện tích và nâng cao năng suất, cũng như chất lượng đậu tương. Tuy nhiên, hiện nay năng suất và chất lượng đậu tương ở Việt Nam còn thấp. Một trong những nguyên nhân là chưa có bộ giống tốt thích hợp với điều kiện của vùng. Trong những năm gần đây quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh dẫn đến sự biến đổi khí hậu gây ra hậu quả thiên tai vô cùng to lớn như lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn … gây ảnh hưởng đến quá trình canh tác.
Nước ta cũng chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đặc biệt là nước biển ngày càng dâng cao gây ra tình trạng đất canh tác bị nhiễm mặn và có xu hướng tăng lên qua các năm gây thiệt hại đến quá trình sản xuất nông nghiệp. Giải pháp hàng đầu hiện nay là sử dụng giống có khả năng thích ứng với môi trường bất thuận. Ngoài ra việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật khác như bón vôi hay bón biochar cũng giúp giảm thiểu những tác động bất lợi của stress gây ra. Thay thế vôi bột thông thường bằng vôi bột vỏ trứng nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng và năng suất trong điều kiện bất thuận cũng là những hướng đi mới của các nhà khoa học.
Bởi vì bên cạnh thành phần chính là CaCO3, vôi vỏ trứng còn chứa các chất dinh dưỡng khác khác như axit amin trong lớp vỏ trong và các chất khoáng khác.Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “ Ảnh hưởng của liều lượng bón vôi bột vỏ trứng đến sinh trưởng, sinh lý và năng suất của giống đậu tương DT84 và D140 trong điều kiện mặn”, nhằm xác định khả năng sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương DT84 và DT140 ở các mức bón khác nhau thông qua một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và năng suất.2 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng bón vôi bột vỏ trứng đến sinh trưởng, phát triển của giống đậu tương DT84 và D140 trong điều kiện mặn và được 2 trồng trong điều kiện nhà có mái che, từ đó phục vụ cho sản xuất thực tiễn và chương trình chọn tạo giống đậu tương có năng suất cao và khả năng chịu mặn.2 Yêu cầu - Đánh giá sự sinh trưởng, phát triển của giống đậu tương D140 và DT84 trong điều kiện mặn ở các mức bón vôi vỏ trứng khác nhau. - Đánh giá các chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương D140 và DT84 trong điều kiện mặn ở các mức bón vôi vỏ trứng khác nhau. - Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống đậu tương D140 và DT84 trong điều kiện mặn ở các mức bón vôi vỏ trứng khác nhau. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là cây trồng ngắn ngày cho hiệu quả kinh tế và có giá trị dinh dưỡng cao, được trồng phổ biến ở rất nhiều nước hiện nay, đứng thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và ngô.
Do nhu cầu về sản xuất thức ăn gia xúc cũng như trong chế biến thực phẩm tăng mạnh nên nhiều quốc gia đã luôn chú trọng đầu tư xản xuất cây đậu tương, diện tích đậu tương chủ yếu tập trung vào các nước châu Mỹ. Trong những năm gần đây diện tích đậu tương luôn cho thấy sự tăng lên về cả diện tích và sản lượng. Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương trên thế giới Diện tích Sản lượng Năm Năng suất (tấn/ha) (triệu ha) (triệu tấn) 2010 102,8 2,6 264,9 2011 103,8 2,5 261,4 2012 105,3 2,3 241,2 2013 111,0 2,5 277,5 2014 117,6 2,7 306,2 2015 120,7 2,7 323,2 2016 121,9 2,8 335,5 2017 125,8 2,85 359,5 2018 124 2,77 344,6 2019 120,5 2,76 333,6 (Theo FAOSTAT, 2021) Số liệu thống kê trên bảng 2.1 cho thấy: Diện tích đậu tương trên toàn thế giới năm năm 2019 là 120,5 tăng 17,7 triệu ha so với năm 2010 là 102,8 ha. 4 Năm 2017 diện tích đậu tương trên thế giới lớn nhất 124,8 triệu ha, các năm sau đó cho diện tích giảm xuống so với năm 2017.
Năng suất đậu tương cũng tăng lên nhanh chóng, năng suất đậu tương bình quân của toàn thế giới năm 2019 là 2,76 tấn/ha tăng so với năm 2010 là 2,6 tấn/ha. Năng suất đậu tương ngày càng tăng lên khi mà diện tích đậu tương trên thế giới lại có xu hướng giảm, điều này cho thấy hiện nay các nước đang chú trọng vào sản xuất đậu tương cho năng suất cao bằng việc áp dụng khoa học kỹ thuật và các các biện pháp canh tác, giống mới vào trong sản xuất. Sản lượng đậu tương cũng thay đổi theo diện tích sản xuất. Năm 2010 sản lượng đậu tương của thế giới đạt 264,9 triệu tấn nhưng đến năm 2019 là 333,6 triệu tấn, tăng 68,7 triệu , năm 2017 sản lượng đậu tương đạt giá trị lớn nhất trong 10 năm trở lại đây là 359,5 triệu tấn Hiện nay trên thế giới có 4 cường quốc về sản xuất đậu tương là Mỹ, Brazil, Argentina và Trung Quốc.
Các nước này đã chú trọng vào việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, chọn tạo các giống có năng xuất cao và kháng bệnh. Ở Mỹ diện tích trồng đậu tương đứng thứ 3 sau lúa mỳ, ngô và được coi là mặt hàng có giá trị chiến lược trong xuất khẩu. Với diện tích trồng tương đối lớn, Mỹ là nước xuất khẩu đậu tương nhiều nhất trên thế giới. Sản lượng đậu tương của Mỹ luôn đứng đầu qua các năm nhưng đến năm 2019 thì giảm và thấp hơn sản lượng của Brazil.
Tình hình sản xuất đậu tương của một số nước trên thế giới trong những năm gần đây Quốc Trung Thế giới Mỹ Brazil Argentina gia Quốc Diện 2017 125,8 36,2 33,9 17,3 8,2 tích 2018 124,02 35,4 34,7 16,3 10,3 (triệu 2019 120,5 30,3 35,8 16,5 8,4 ha) Năng 2017 28,5 33,1 33.8 31,7 18,5 suất 2018 27,7 33,9 33,9 23,1 18,9 (tạ/ha) 2019 27,6 31,8 31,8 33,3 18,6 Sản 2017 359,5 120 114,7 54,9 15,2 lượng 2018 344,6 120,5 117,9 37,7 15,9 (triệu 2019 333,6 96,7 114,2 55,2 15,7 tấn) (Theo FAOSTAT, 2021) Brazil là cường quốc đứng thứ 2 về sản xuất đậu tương tính đến năm 2018. Đến năm 2019 Brazil đã vượt qua Mỹ trở thành nước đứng đầu thế giới về sản xuất đậu tương, về diện tích chiếm 29,7% so với thế giới, còn về sản lượng chiếm khoảng 32.49% so với sản lượng đậu tương của thế giới, năm 2019 sản lượng đậu tương đạt 114. Argentina là nước sản xuất đậu tương lớn thứ 3 trên thế giới. năm 2019 diện tích trồng đậu tương của nước này là 15,5 triệu ha, sản lượng đạt 52,2 triệu tấn.
Trung Quốc đứng thứ 4 trên thế giới về sản xuất đậu tương và cũng dẫn đầu tại châu Á, với dân số nhiều nhất thế giới nhu cầu về sản xuất đậu tương ở nước này luôn rất lớn và luôn phải nhập khẩu đậu tương để phục vụ trong sản 6 xuất chăn nuôi và thực phẩm cho con người. Năm 2019 năng suất đậu tương ở Trung Quốc đạt 18,6 tạ/ha và sản lượng đạt 15,7 triệu tấn. Ngoài bốn nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới là Brazil, Mỹ, Argentina, Trung Quốc thì Nhật Bản cũng là một nước sản xuất đậu tương lớn ở Châu Á và có từ lâu đời. Cây đậu tương được đưa vào Nhật Bản khoảng 200 năm trước công nguyên, nhưng phải đến năm 1960 mới được chú ý phát triển (Nogato, 2000).
Năm 1960 diện tích đậu tương của nước này chỉ có 340,000 ha nhưng đến năm 1997 đã đạt tới 832,000 ha (Nguyễn Văn Luật, 2005). Nhật Bản luôn chú trọng đến việc nâng cao năng suất cây đậu tương thông qua việc cơ giới hóa trong sản xuất và luôn chú trọng chọn tạo giống đậu tương năng suất cao. Trên thế giới hiện nay có khoảng 101 nước trồng đậu tương nhưng không phải tất cả đều cung cấp đủ nhu cầu đậu tương của nước đó, phần lớn các nước đều phải nhập khẩu đậu tương từ bên ngoài. Châu Á là châu lục có diện tích trồng đậu tương lớn nhưng do nhiều nước còn gặp khó khăn trong áp dụng khoa học kỹ thuật và hay xảy ra thiên tai nên hầu hết chỉ sản xuất tiêu thụ trong nước và phải nhập khẩu đậu tương thừ các nước khác.
Nhìn chung, sản xuất đậu tương của thế giới trong những năm gần đây phát triển rất mạnh do giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế của nó mang lại.