Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây mè hay cây vừng (Sesamum indicum L.) là loại cây công nghiệp ngắn ngày lấy dầu có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Hạt vừng chứa hàm lượng dầu từ 45% đến 55%, giàu các acid béo không no như acid oleic và acid linoleic, cùng các hoạt chất chống oxy hóa tự nhiên như sesamin, sesamolin và vitamin E. Tại Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ dầu thực vật ngày càng tăng; theo ước tính của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công nghiệp (IPSI), mức tiêu thụ dầu thực vật bình quân năm 2011 đạt khoảng 7,3 – 8,3 kg/người/năm và dự báo đạt 14,5 kg/người/năm vào năm 2015, vẫn còn khoảng cách so với khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (13,5 kg/người/năm). Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu sản xuất dầu thực vật trong nước đang thiếu hụt nghiêm trọng, hằng năm phải nhập khẩu từ 1 đến 1,3 triệu tấn đậu tương.

Mặc dù cây vừng thích nghi rộng, thời gian sinh trưởng ngắn và phù hợp với các công thức luân canh, tăng vụ trên nhiều chân đất, nhưng ngành sản xuất vừng tại Việt Nam vẫn chủ yếu mang tính quảng canh. Năm 2010, diện tích gieo trồng vừng cả nước đạt 47,1 ngàn ha, tập trung tại Duyên hải Nam Trung Bộ (17,4 ngàn ha), Bắc Trung Bộ (10,6 ngàn ha) và Đồng bằng sông Cửu Long (9,4 ngàn ha). Năng suất bình quân cả nước chỉ đạt 6,60 tạ/ha, trong đó cao nhất là Đồng bằng sông Cửu Long (10,9 tạ/ha). Tại khu vực Trung du miền núi phía Bắc nói chung và Thái Nguyên nói riêng, việc phát triển cây vừng còn gặp nhiều hạn chế do tập quán gieo vãi không lên luống, mưa lớn gây ngập úng cuối vụ và bệnh héo xanh phát triển mạnh. Do đó, việc xác định thời vụ gieo trồng thích hợp cho các giống vừng mới có tiềm năng năng suất như giống vừng đen VĐ10 là yêu cầu cấp thiết để khai thác điều kiện sinh thái địa phương.

Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống vừng đen VĐ10 tại địa bàn Thái Nguyên.
    2. Xác định thời vụ gieo trồng tối ưu nhằm đạt năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái vùng nghiên cứu.
  • Yêu cầu nghiên cứu:
    1. Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của giống vừng đen VĐ10 qua các thời vụ thí nghiệm.
    2. Theo dõi và phân tích các yếu tố cấu thành năng suất của giống.
    3. Đánh giá khả năng cho năng suất và chất lượng của giống vừng đen VĐ10 trong vụ Hè Thu 2013 tại Thái Nguyên.
    4. Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại và các yếu tố thời tiết ngoại cảnh bất thuận.
    5. Xác định thời vụ gieo trồng hợp lý nhất cho sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống vừng đen VĐ10 nhập nội, do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam cung cấp.
  • Phạm vi không gian: Trung tâm Thực hành Thực nghiệm, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (bố trí trên chân đất dốc 5%, loại đất cát pha nghèo dinh dưỡng).
  • Phạm vi thời gian: Vụ Hè Thu năm 2013 (từ ngày 30/07/2013 đến thời điểm thu hoạch cuối vụ năm 2013).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở khoa học và khung lý thuyết

Đề tài dựa trên cơ sở sinh lý thực vật và nông học về mối tương tác giữa kiểu gen và điều kiện môi trường thời vụ. Cây vừng có nguồn gốc nhiệt đới, nhiệt độ nảy mầm thích hợp từ 20 – 30°C, nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng phát triển từ 25 – 30°C, lượng mưa yêu cầu 300 – 600 mm/năm và ẩm độ không khí từ 70 – 87%. Thời vụ gieo trồng quyết định trực tiếp đến các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, số giờ nắng và lượng mưa trong từng giai đoạn xung yếu của cây (nảy mầm, ra hoa rộ, tích lũy chất khô vào hạt), từ đó chi phối chỉ số diện tích lá (CSDTL), khả năng tích lũy vật chất khô (KNTLVCK), mức độ nhiễm sâu bệnh hại và năng suất cá thể cũng như năng suất quần thể.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) gồm 4 công thức thời vụ, lặp lại 3 lần:
    • Thời vụ 1 (CT1): Gieo ngày 30/07/2013.
    • Thời vụ 2 (CT2): Gieo ngày 09/08/2013.
    • Thời vụ 3 (CT3): Gieo ngày 19/08/2013.
    • Thời vụ 4 (CT4): Gieo ngày 29/08/2013.
    • Quy cách ô thí nghiệm: Kích thước ô 2 m × 7 m = 14 m²/ô. Tổng diện tích các ô thí nghiệm là 168 m² (chưa bao gồm dải bảo vệ, rãnh và lối đi).
  • Quy trình kỹ thuật và phân bón: Mật độ gieo trồng 40 cây/m² (khoảng cách hàng cách hàng 40 cm, cây cách cây 7,2 cm). Lượng phân bón tính cho 1 ha gồm: 7 tấn phân chuồng hữu cơ + 40 kg N + 70 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 60 kg $\text{K}_2\text{O}$ + 300 kg vôi bột.
    • Bón lót: 100% phân chuồng + 100% vôi bột + 100% lân ($\text{P}_2\text{O}_5$).
    • Bón thúc lần 1 (giai đoạn 3 – 5 lá thật): 2/3 lượng N + 1/3 lượng $\text{K}_2\text{O}$.
    • Bón thúc lần 2 (giai đoạn hoa rộ): 1/3 lượng N + 2/3 lượng $\text{K}_2\text{O}$ kết hợp làm cỏ, xới xáo và vun cao gốc.
  • Phương pháp lấy mẫu và theo dõi chỉ tiêu:
    • Chỉ tiêu hình thái: Lấy mẫu 3 điểm theo đường chéo, theo dõi ngẫu nhiên 10 cây/ô để đo chiều cao cây, đường kính gốc và đếm số cành cấp 1.
    • Chỉ số diện tích lá (CSDTL - $\text{m}^2 \text{lá}/\text{m}^2 \text{đất}$): Xác định tại 2 giai đoạn (hoa rộ và hạt trưởng thành) bằng phương pháp cân nhanh khối lượng lá ($P_b$) và diện tích $1\text{ dm}^2$ lá mẫu ($P_a$) theo công thức: $$\text{CSDTL} = \frac{P_b \times \text{Mật độ (cây/m}^2\text{)}}{P_a \times 100 \times 10}$$
    • Khả năng tích lũy vật chất khô (KNTLVCK - g/cây): Lấy 3 cây liên tiếp/ô tại giai đoạn hoa rộ và hạt trưởng thành, rửa sạch, sấy khô ở 70°C đến khối lượng không đổi ($P_k$) và tính bình quân 1 cây.
    • Theo dõi sâu bệnh hại: Đánh giá tỷ lệ hại (%) và phân cấp mức độ hại (không gây hại $<10%$, nhẹ $<20%$, trung bình $20-40%$, nặng $>40%$).
    • Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: Đếm số quả chắc/cây, số hạt/quả, cân trọng lượng 1.000 hạt ($P_{1000}$), tính năng suất lý thuyết (NSLT) và thu hoạch toàn ô để xác định năng suất thực thu (NSTT).
  • Tiêu chuẩn và xử lý số liệu: Thực hiện theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của cây họ đậu (theo Quyết định số 1698/QĐ-BNN-KHCN ngày 12/06/2006). Số liệu năng suất và các yếu tố cấu thành được phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh sai biệt có ý nghĩa nhỏ nhất ($\text{LSD}_{0,05}$) qua phần mềm IRRISTAT; các chỉ tiêu khí tượng và hình thái xử lý theo phương pháp trung bình số học.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thực nghiệm đồng ruộng năm 2013 và dữ liệu thời tiết trích xuất từ Trạm Khí tượng Thái Nguyên năm 2013.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1. Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của việc phát triển cây có dầu tại Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp, chỉ ra sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (đậu tương 1 – 1,3 triệu tấn/năm). Tác giả phân tích tiềm năng của cây vừng đen, thực trạng canh tác quảng canh cho năng suất thấp (bình quân cả nước 6,60 tạ/ha năm 2010), từ đó xác lập mục tiêu, yêu cầu, phạm vi và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của đề tài nghiên cứu thời vụ giống vừng đen VĐ10 tại Thái Nguyên.

Phần 2. Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước:

  • Cơ sở khoa học và nguồn gốc: Lịch sử thuần hóa cây vừng (từ Babylon, Lưỡng Hà, Ai Cập cổ đại), phân loại thực vật học (Plantae, Spermatopsida, Malpighiales, Euphorbiaceae, Sesamum indicum L., bộ nhiễm sắc thể $2n=26$), đặc tính sinh học của rễ cọc, thân 4 cạnh, hoa chuông và quả nang.
  • Giá trị dinh dưỡng và sử dụng: Phân tích hàm lượng lipid (45 – 55%), protein (19 – 20%), các acid amin thiết yếu (Lysin 2,8%, Methionin 3,2%, Leucin 7,5% theo Morris, 2002); ứng dụng trong dược phẩm (sesamin, sesamolin, tocopherol chống oxy hóa; cephalin cầm máu; lecithin giảm mỡ gan); tiềm năng biodiesel (đạt 807 thùng dầu/năm/dặm vuông theo Bell, 2008).
  • Tình hình sản xuất: Dữ liệu FAOSTAT (2010 - 2013) về sản lượng vừng thế giới đạt 3,84 triệu tấn (năm 2010), các nước sản xuất lớn nhất gồm Myanmar (0,72 triệu tấn), Ấn Độ (0,62 triệu tấn), Trung Quốc (0,59 triệu tấn); diện tích và sản lượng cây có dầu tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2012.
  • Sâu bệnh hại chính: Tập tính gây hại và biện pháp phòng trừ sâu cuốn lá, sâu khoang (Spodoptera litura), sâu sừng; các bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani), bệnh héo vàng, bệnh phấn trắng, bệnh thán thư và đốm lá vi khuẩn.

Phần 3. Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết vật liệu nghiên cứu (giống vừng đen VĐ10 nhập nội từ Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam); địa điểm thực hiện (Trung tâm Thực hành Thực nghiệm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên); bố trí thí nghiệm 4 công thức thời vụ (30/7, 9/8, 19/8, 29/8/2013) theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (3 lần nhắc lại, diện tích 14 m²/ô); quy trình bón phân (7 tấn phân chuồng + $40\text{ N} + 70\text{ P}_2\text{O}_5 + 60\text{ K}_2\text{O} + 300\text{ kg}$ vôi bột/ha); các công thức tính CSDTL, KNTLVCK, NSLT, NSTT và phương pháp xử lý số liệu bằng IRRISTAT theo Quyết định 1698/QĐ-BNN-KHCN.

Phần 4. Kết quả và thảo luận

Chương này tập hợp các phát hiện thực nghiệm qua 5 nội dung chính:

  1. Điều kiện khí tượng vụ Hè Thu 2013: Nhiệt độ bình quân các tháng gieo trồng đạt 27 – 29°C, ẩm độ 85 – 86%, lượng mưa tập trung rất lớn vào tháng 7 (974,1 mm) và tháng 8 (405,7 mm), số giờ nắng cao nhất vào tháng 8 (167 giờ).
  2. Thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn: Thời gian từ gieo đến mọc mầm của cả 4 công thức đều là 3 ngày. Thời gian từ gieo đến hoa rộ rút ngắn dần khi gieo muộn: CT1 (38 ngày) > CT2 (35 ngày) > CT3 (31 ngày) > CT4 (29 ngày). Tổng thời gian sinh trưởng từ gieo đến quả chín giảm tương ứng: CT1 (79 ngày), CT2 (75 ngày), CT3 (70 ngày), CT4 (68 ngày).
  3. Đặc điểm hình thái: CT1 đạt các chỉ số cao nhất về chiều cao cây (104,80 cm), số cành/cây (0,87 cành) và đường kính thân (1,88 cm). Các chỉ số này giảm dần ở các thời vụ sau; CT4 có chiều cao cây thấp nhất (87,03 cm) và đường kính thân nhỏ nhất (1,15 cm) ở mức sai khác có ý nghĩa thống kê ($\text{LSD}{0,05} = 7,33$ đối với chiều cao; $\text{LSD}{0,05} = 0,17$ đối với đường kính thân).
  4. CSDTL và KNTLVCK: Giai đoạn hoa rộ, CSDTL đạt cao nhất ở CT1 (3,48 $\text{m}^2/\text{m}^2$) và thấp nhất ở CT4 (3,14 $\text{m}^2/\text{m}^2$). Giai đoạn hạt trưởng thành, KNTLVCK cao nhất ở CT1 (47,43 g/cây), giảm dần xuống CT2 (44,31 g/cây), CT3 (42,74 g/cây) và thấp nhất ở CT4 (39,63 g/cây), sai khác có ý nghĩa với $\text{LSD}_{0,05} = 4,78\text{ g}$.
  5. Tình hình sâu bệnh và năng suất: Tỷ lệ sâu hại tăng từ 6,87% – 7,92% (CT1, CT2 - mức không gây hại) lên 13,14% (CT4 - mức hại nhẹ). Tỷ lệ bệnh hại tăng từ 15,20% (CT1 - hại nhẹ) lên 27,70% (CT4 - hại trung bình). Năng suất thực thu đạt cao nhất ở CT1 (13,51 tạ/ha), tiếp theo là CT2 (10,35 tạ/ha), CT3 (7,58 tạ/ha) và thấp nhất ở CT4 (5,56 tạ/ha) với $\text{LSD}_{0,05} = 0,85\text{ tạ/ha}$.

Phần 5. Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận khẳng định thời vụ 1 (gieo ngày 30/07/2013) là thời vụ tối ưu nhất cho giống vừng đen VĐ10 tại Thái Nguyên và đề nghị áp dụng thời vụ này vào sản xuất thực tiễn, đồng thời tiếp tục nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật bổ trợ.


Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chính

Số liệu thực nghiệm cho thấy thời vụ gieo trồng tác động rõ rệt đến toàn bộ các chỉ tiêu nông sinh học, khả năng chống chịu sâu bệnh và năng suất của giống vừng đen VĐ10.

Chỉ tiêu theo dõi Thời vụ 1 (30/07/2013) Thời vụ 2 (09/08/2013) Thời vụ 3 (19/08/2013) Thời vụ 4 (29/08/2013) $\text{LSD}_{0,05}$ $\text{CV}$ (%)
Thời gian sinh trưởng (ngày) 79 75 70 68 - -
Chiều cao cây (cm) 104,80 95,56 89,50 87,03 7,33 3,90
Số cành/cây (cành) 0,87 0,78 0,65 0,72 0,11 7,60
Đường kính thân (cm) 1,88 1,74 1,35 1,15 0,17 5,60
CSDTL hoa rộ ($\text{m}^2/\text{m}^2$) 3,48 3,33 3,22 3,14 0,14 2,10
KNTLVCK hạt chín (g/cây) 47,43 44,31 42,74 39,63 4,78 5,50
Tỷ lệ sâu hại (%) 7,92 6,87 10,00 13,14 - -
Tỷ lệ bệnh hại (%) 15,20 16,83 26,06 27,70 - -
Số quả chắc/cây (quả) 44,90 37,85 36,53 27,60 7,22 11,40
Số hạt/quả (hạt) 64,87 60,13 54,60 48,33 4,21 4,30
Trọng lượng 1.000 hạt ($P_{1000}$ - g) 1,75 1,74 1,26 1,32 0,37 12,30
Năng suất lý thuyết (tạ/ha) 20,51 15,81 10,08 7,16 5,77 21,60
Năng suất thực thu (tạ/ha) 13,51 10,35 7,58 5,56 0,85 5,30

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Xác định khung thời vụ: Khuyến cáo đưa giống vừng đen VĐ10 vào gieo trồng trong vụ Hè Thu tại vùng sinh thái Thái Nguyên ở thời vụ sớm, tốt nhất vào khoảng ngày 30/07. Việc gieo muộn sang giữa và cuối tháng 8 làm giảm mạnh số quả chắc, trọng lượng hạt và làm năng suất thực thu giảm từ 23,4% (xuống 10,35 tạ/ha) đến 58,8% (xuống 5,56 tạ/ha).
  • Biện pháp canh tác: Cần làm đất kỹ, lên luống cao để thoát nước chống úng trong các tháng mưa lớn (tháng 7 và 8), áp dụng mật độ 40 cây/m² và bón lót phân chuồng kết hợp vôi bột (300 kg/ha) nhằm hạn chế bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani) và bệnh héo rũ.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn hóa đầu tiên về phản ứng sinh trưởng, động thái tích lũy chất khô và các yếu tố cấu thành năng suất của giống vừng đen VĐ10 theo 4 mốc thời vụ gieo trồng tại vùng đất dốc đồi núi Thái Nguyên.
  • Chứng minh tính thích ứng và tiềm năng cho năng suất của giống vừng đen VĐ10 tại địa phương (đạt 13,51 tạ/ha ở thời vụ tối ưu, cao hơn năng suất bình quân cả nước 6,60 tạ/ha).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Các kết luận thực nghiệm mới chỉ được thu thập và đánh giá trong phạm vi 01 vụ Hè Thu (năm 2013) tại một tiểu vùng sinh thái duy nhất (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) trên loại đất dốc 5% cát pha nghèo dinh dưỡng, chưa phản ánh đầy đủ biến động thời tiết liên năm hoặc trên các loại chân đất khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả kiến nghị tiếp tục lặp lại thí nghiệm trong các vụ tiếp theo (kể cả vụ Xuân và vụ Hè Thu các năm sau) để kiểm chứng độ ổn định của giống; đồng thời nghiên cứu mở rộng ảnh hưởng của mật độ gieo trồng kết hợp liều lượng phân bón khác nhau cho giống vừng đen VĐ10 tại các vùng đất đồi khác thuộc trung du miền núi Bắc Bộ.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu: Thuộc các chuyên ngành Trồng trọt, Nông học, Khoa học Cây trồng và Bảo vệ Thực vật tham khảo về quy trình bố trí thí nghiệm thời vụ theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) trên cây có dầu ngắn ngày.
    • Cán bộ khuyến nông và cơ sở sản xuất: Sử dụng làm tài liệu kỹ thuật hướng dẫn nông dân về khung lịch thời vụ, mật độ gieo trồng (40 cây/m²) và công thức bón phân cho giống vừng đen VĐ10.
  • Các nội dung có giá trị trích dẫn cao:
    • Phương pháp tính chỉ số diện tích lá (CSDTL) bằng kỹ thuật cân nhanh khối lượng diện tích mẫu ($P_a, P_b$) và phương pháp sấy khô xác định KNTLVCK ở nhiệt độ 70°C.
    • Bảng số liệu chi tiết về tương quan giữa thời vụ gieo trồng với tỷ lệ bệnh hại và các yếu tố cấu thành năng suất ($P_{1000}$, số quả chắc/cây, số hạt/quả).

Câu hỏi thường gặp

1. Giống vừng đen VĐ10 gieo ở thời vụ nào đạt năng suất thực thu cao nhất và là bao nhiêu?
Thời vụ 1 (gieo ngày 30/07/2013) cho năng suất thực thu cao nhất, đạt 13,51 tạ/ha. Năng suất này cao hơn có ý nghĩa thống kê so với Thời vụ 2 (10,35 tạ/ha), Thời vụ 3 (7,58 tạ/ha) và Thời vụ 4 (5,56 tạ/ha) với mức sai khác có ý nghĩa $\text{LSD}_{0,05} = 0,85\text{ tạ/ha}$.

2. Lượng phân bón và quy trình bón phân cho 1 ha vừng được tác giả sử dụng như thế nào?
Tổng lượng phân bón cho 1 ha gồm: 7 tấn phân chuồng hữu cơ + 40 kg N + 70 kg $\text{P}_2\text{O}_5$ + 60 kg $\text{K}_2\text{O}$ + 300 kg vôi bột. Phân chia bón:

  • Bón lót: 100% phân chuồng + 100% vôi bột + 100% $\text{P}_2\text{O}_5$.
  • Bón thúc lần 1 (cây 3 – 5 lá thật): 2/3 N + 1/3 $\text{K}_2\text{O}$.
  • Bón thúc lần 2 (hoa rộ): 1/3 N + 2/3 $\text{K}_2\text{O}$ còn lại.

3. Tỷ lệ nhiễm sâu bệnh hại thay đổi như thế nào giữa các thời vụ gieo trồng?
Khi lùi thời vụ gieo từ cuối tháng 7 sang cuối tháng 8, mức độ sâu bệnh tăng lên rõ rệt:

  • Sâu hại (chủ yếu sâu cuốn lá, rệp): Tỷ lệ hại ở CT1 là 7,92% và CT2 là 6,87% (mức không gây hại), tăng lên 10,00% ở CT3 và 13,14% ở CT4 (mức hại nhẹ).
  • Bệnh hại (lở cổ rễ, héo rũ, mốc trắng): Tỷ lệ hại ở CT1 là 15,20% và CT2 là 16,83% (mức nhẹ), tăng mạnh lên 26,06% ở CT3 và 27,70% ở CT4 (mức hại trung bình).

4. Khi gieo muộn hơn, thời gian sinh trưởng của giống vừng đen VĐ10 biến động ra sao?
Thời gian từ gieo đến khi hạt mọc đều ở cả 4 thời vụ đều ổn định là 3 ngày. Tuy nhiên, thời gian từ gieo đến ra hoa rộ bị rút ngắn từ 38 ngày (CT1) xuống còn 35 ngày (CT2), 31 ngày (CT3) và 29 ngày (CT4). Tương ứng, tổng thời gian sinh trưởng từ gieo đến khi quả chín giảm từ 79 ngày (CT1) xuống 75 ngày (CT2), 70 ngày (CT3) và ngắn nhất là 68 ngày (CT4).

5. Kích thước và cách bố trí các ô thí nghiệm được thực hiện như thế nào?
Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) gồm 4 công thức, 3 lần nhắc lại (tổng cộng 12 ô thí nghiệm). Kích thước mỗi ô là $2\text{ m} \times 7\text{ m} = 14\text{ m}^2$, tổng diện tích các ô thí nghiệm là $168\text{ m}^2$ (chưa tính diện tích dải bảo vệ, rãnh và lối đi), mật độ gieo trồng 40 cây/$\text{m}^2$ (hàng cách hàng 40 cm, cây cách cây 7,2 cm).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Văn Chiến đã hoàn thành việc đánh giá thực nghiệm ảnh hưởng của 4 thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng, phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh và năng suất giống vừng đen VĐ10 trong vụ Hè Thu 2013 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả khẳng định thời vụ gieo ngày 30/07/2013 là thời điểm tối ưu, giúp cây sinh trưởng tốt nhất với chiều cao 104,80 cm, diện tích lá lớn nhất, tỷ lệ nhiễm bệnh thấp (15,20%) và đạt năng suất thực thu cao nhất (13,51 tạ/ha). Việc lùi thời vụ gieo sang tháng 8 làm rút ngắn thời gian sinh trưởng, gia tăng mức độ nhiễm bệnh và làm giảm mạnh năng suất thực thu xuống chỉ còn 5,56 – 10,35 tạ/ha. Công trình cung cấp cơ sở khoa học xác thực và dẫn liệu nông học tin cậy phục vụ việc chỉ đạo thời vụ gieo trồng giống vừng đen VĐ10 trên chân đất dốc tại Thái Nguyên.