Đặt vấn đề Cây mè (tên khoa học là Sesamum indicum L.) còn gọi là vừng, là loại cây có dầu, cây thực phẩm hiện đang được rất nhiều quốc gia quan tâm và có định hướng phát triển do có hàm lượng dầu cao, chất lượng tốt. Cây mè có thời gian sinh trưởng ngắn, thuận lợi trong tiêu dùng ở phạm vi nông hộ, đồng thời cũng là cây trồng “dễ tính”, ít đòi hỏi thâm canh, có khả năng tận dụng đất đai, mùa vụ, dễ tiêu thụ trên thị trường, thích hợp luân, xen canh và gối vụ. Trong đời sống hiện nay, dầu thực vật đã trở thành một nguyên liệu rất quan trọng cần thiết, là một trong những nguồn dinh dưỡng cải thiện sức khỏe con người và có nhu cầu ngày càng tăng. Theo Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công nghiệp (IPSI) ước tính tiêu thụ dầu thực vật trên đầu người năm 2011 vào khoảng từ 7,3 – 8,3kg/người, tuy nhiên, con số này vẫn còn khá xa so với khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (13,5kg/người/năm).
Các nhà sản xuất trong nước dự báo tiêu thụ dầu thực vật trên đầu người nước ta năm 2015 sẽ tăng ở mức 14,5kg/người/năm (Vietrade, 2012 [24]), qua đó cho thấy, để bảo đảm được sức khỏe của con người, dầu thực vật là nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống hiện nay. Khai thác dầu thực vật ngoài cây mè còn có nhiều cây trồng khác trong đó có đậu tương và lạc, hiện cả 2 loại cây trồng này Việt Nam đang bị thiếu nguyên liệu trầm trọng. Do sự thiếu hụt này, Việt Nam phải nhập khẩu hàng năm từ 1–1,3 triệu tấn đậu tương (gấp 7 lần sản lượng đậu tương sản xuất được trong nước) để chế biến dầu thực vật và thức ăn gia súc (Vietrade, 2012 [24]). Trên đà gia tăng dân số và phát triển đàn gia súc, nhu cầu dầu thực vật và nguyên liệu thức ăn gia súc ngày càng tăng, trong khi diện tích các cây trồng này ngày càng bị giảm sút, điều này cho thấy n 2 ngành dầu Thực vật Việt Nam đang đứng trước nguy cơ cảnh báo sẽ thiếu nguyên liệu để khai thác [14].
Sản xuất nông nghiệp đã đạt được những thành tựu to lớn và đã giải quyết được những vấn đề cơ bản về đời sống của người dân Việt Nam ,từ đó người dân có điều kiện chủ động để sản xuất những cây trồng có giá trị kinh tế cao, trong đó cây có dầu là cây mũi nhọn chiến lược kinh tế. Hàng năm nước ta phải nhập khẩu một số lượng dầu thục vật lớn từ nước ngoài , trong khi nước ta lại có tiềm năng sản xuất cây lấy dầu như: Cây Vừng (cây mè), Cây Dừa, Cây Lạc, Cây ĐậuTương, Cây Điều ……Trong các loại cây lấy dầu thì cây vừng cũng là cây lấy dầu quan trọng nhưng ít được quan tâm. Ở Việt Nam cây vừng được trồng ở khắp các vùng sinh thái trong cả nước, tuy nhiên vùng tập trung của nó là ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.Vừng là một cây trồng truyền thống có mặt ở khắp các vùng sinh thái của nước ta. Diện tích cây vừng ở Việt Nam có khoảng 45.000 ha với sản lượng là 22.
Diện tích vừng cả nước là 47,1 ngàn ha, khu vực phía Nam là 33,6 ngàn ha (71,3 %), có ba vùng trồng vừng lớn trong cả nước, bao gồm Bắc Trung Bộ (10,6 ngàn ha), Duyên Hải Nam Trung bộ (17,4 ngàn ha) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (9,4 ngàn ha). Năng suất vừng trung bình cả nước là 6,60 tạ/ ha, năng suất vừng ở ĐBSCL cao nhất (10,9 tạ/ha) (Số liệu thống kê, 2010). Điều này đã cho thấy năng suất và sản lượng vừng ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và điều kiện tự nhiên, khí hậu ở nước ta. Đặc biệt trong những năm gần đây, sự biến đổi của khí hậu toàn cầu nói chung, biến đổi khí hậu ở nước ta đã làm ảnh hưởng nghiêm trong đến hệ thống các cây trồng nói chung và cây Vừng nói riêng.
Thời tiết mưa nhiều gây ngập úng ở cuối vụ, ngoài ra tập quán gieo n 3 vãi không lên luống, không có quy trình canh tác tiên tiến đã khiến cho cây vừng sinh trưởng kém ở đầu thời vụ, bệnh héo xanh phát triển mạnh ở giai đoạn cuối vụ là những yếu tố hạn chế căn bản làm giảm năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế của sản xuất vừng. Việc gieo trồng ở những vùng đất có độ phì nhiêu thấp, nơi mà người nông dân có thu nhập thấp, đầu tư không cao mà cho hiệu quả kinh tế đó là chủ trương đúng đắn chuyển đổi cơ cấu Nông Nghiệp nằm khai thác tốt nhất điều kiên tự nhiên, góp phần xóa đói giảm nghèo. Vừng là cây dễ tính trồng trồng được ở trên nhiều loại đất khác nhau, ở những vùng bán khô hạn không chủ động tưới tiêu vẫn cho thu hoạch, sản phẩm sau thu hoạch cung cấp trở lại góp phần cải tạo đất. Xuất phát từ giá trị kinh tế và dinh dưỡng, cũng như yêu cầu của thị trường về sản phẩm, phát triển cây vừng là một chiến lược quan trọng nhằm tận dụng đất đai mùa vụ, hình thành các vùng sản xuất vừng tập trung đồng thời đầu tư đồng bộ cho khâu chế biến đảm bảo tăng nhanh khối lượng, chất lượng và giá trị sản phẩm, đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống của nhân dân và xuất khẩu.
Từ những cơ sở thực tiễn trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống vừng đen VĐ10 vụ hè thu năm 2013 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng và phát triển của giống vừng đen VĐ10 tại địa bàn Thái Nguyên Xác định thời vụ và khả năng cho năng xuất, khả năng chống chịu tốt phù hợp với điều kiện sinh thái tại Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của giống vừng VĐ10 trong thí nghiệm. Theo dõi các yếu tố cấu thành năng xuất.
Đánh giá khả năng cho năng xuất và chất lượng của giống vừng đen VĐ10 thí nghiệm trong vụ hè thu 2013 tại Thái Nguyên. Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh ở vụ hè thu năm 2013 tại Thái Nguyên. Xác định thời vụ trồng hợp lý cho sinh trưởng phát triển và cho năng suất cao nhất phù hợp với vùng sinh thái Thái Nguyên. ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa học tập, nghiên cứu Giúp cho sinh viên củng cố thêm kiến thức rèn luyện kĩ năng, có điều kiện tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học và vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn sản xuất. Thu thập được những kinh nghiệm và kiến thức thực tế, củng cố lý thuyết đã học, nâng cao trình độ để phục vụ cho công việc sau này. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở cho việc áp dụng thời vụ cho giống Vừng đen VĐ10 tại Thái Nguyên. Là tài liệu để các nhà nghiên cứu, sinh viên nghành trồng trọt tham khảo.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Sự thành công của đề tài này sẽ có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn sản xuất, góp phần đưa giống vừng đen VĐ10 ra sản xuất với thời vụ thích hợp để đảm bảo năng suất, hiệu quả kinh tế cao. Tăng thu nhập cho người dân. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Cơ sở của việc nghiên cứu thời vụ Cây vừng có khả năng thích ứng rộng, có thể trồng được trên nhiều loại đất ngay cả trên loại đất xấu không thể trồng được cây trồng khác. Vừng tương đối dễ trồng, đầu tư sản xuất vừng không cao nên bất cứ người dân nào cũng có thể vừng đươc. Cây vừng có thời gian sinh trưởng ngắn, nhanh cho thu hoạch nên rất thuận lợi cho việc thâm canh, tăng vụ nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích đất. Do đó cây vừng có vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu cay trồng, hơn nữa nhu cầu dầu vừng trên trên thế giới ngày càng tăng là cơ hội rất tốt để mở rộng phát triển vừngtrong thời gian tới (Phạm Văn Thiều) [9].
Vừng là loại thực phẩm chứa nhiều dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Hàm lượng dầu trong hạt vừng rất cao (45-55 %), chỉ số iot trong dầu vừng đạt 111, hàm lượng vitamin E và can xi cao. Thành phần axit hữu cơ của dầu vừng chứa nhiều xít béo chứa nooleic (C18H32O2) và linoleic (C18H32O2), trong dầu vừng còn chứa các chất sesamolin, antioxidants và sesamin là chất ngăn cản quá trình oxy-hóa, vì thế ngoài giá trị làm thực phẩm, dầu vừng còn để chữa bệnh, sản xuất mỹ phẩm [16]. Đối với nghành nông nghiệp nói chung và nghành sản xuất cây lấy dầu đặc biệt là cây vừng nói riêng thời vụ vô cùng quan trọng trong sản xuất.
Thời vụ quyết định đến năng xuất và chất lượng của cây trồng. Do vậy để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất của cây trồng nông nghiệp, thì ta cần phải xác định thời vụ của giống cây trồng đó đảm bảo cho năng xuất và chất lượng sản phẩm tốt nhất. Bởi trong từng thời vụ có điều kiện ngọi cảnh khác nhau, ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây. n 6 Nghiên cứu thời vụ trồng vừng ở nước ta chưa nhiều, việc nghiên cứu thời vụ không những giúp xác định được thời gian trồng hợp lý mà còn xác định được thời vụ có hiệu quả kinh tế cao.
Nguồn gốc –phân loại đặc điểm thực vật 2. nguồn gốc Hạt vừng được coi là loại hạt cho dầu lâu đời nhất của nhân loại. Cây vừng có nhiều loài, và những loài hoang dã được khai thác lâu đời nhất ở Châu Phi và Ấn Độ. Hồ sơ từ Babylon và Assyria có niên đại khoảng 4000 năm trước đây đã đề cập đến vừng.
Tàng tích hạt vừng rang thu hồi từ các cuộc khai quật khảo cổ học có niên đại khoảng 3500-3050 năm trước Công nguyên. Nhiều ý kiến cho rằng Etiopi là nguyên sản của giống vừng trồng hiện nay. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng vùng Afghan – Pesian mới là nguyên sản của các giống vừng trồng là loại cây có dầu được trồng lâu đời (khoảng 200 năm trước công nguyên ). Sau đó được đưa vào vùng Tiểu Á (Babylon) và được di chuyển về phía tây – vào Châu Âu và phía nam vào Châu Á , Đến Ấn Dộ và một số nước Nam Á (Trung Quốc, Ấn Độ) được xem là trung tâm phân bố cây vừng(Ths.