Khóa luận tốt nghiệp ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến sinh trưởng năng suất cây kỳ tử tại gia lâm hà nội

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến sinh trưởng, năng suất cây kỳ tử tại Gia Lâm, Hà Nội.

Chuyên ngành

Canh tác học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

100
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích và yêu cầu của đề tài

2. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên Thế giới và Việt Nam

2.1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên Thế giới

2.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dược liệu ở Việt Nam

2.1.3. Thực trạng nhu cầu và hoạt động sản xuất kinh doanh cây dược liệu ở Việt Nam

2.1.4. Giới thiệu chung về cây kỳ tử

2.1.5. Phân loại và nguồn gốc cây kỳ tử

2.1.6. Những đặc điểm hình thái về cây kỳ tử

2.1.7. Giá trị sử dụng của rau kỳ tử

2.1.8. Tình hình nghiên cứu về cây kỳ tử trên thế giới

2.1.9. Tình hình về cây kỳ tử ở Việt Nam

2.1.10. Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng liều lượng phân bón cho cây họ cà (Solanaceae)

3. PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp bố trí thí nghiệm. Quy trình kỹ thuật

3.5. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.6. Phương pháp tính toán và xử lí số liệu

4. PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây kỳ tử

4.2. Ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây kỳ tử

4.3. Ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến động thái tăng trưởng số lá trên cây kỳ tử

4.4. Ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến động thái tăng trưởng số cành trên cây kỳ tử

4.5. Ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến chỉ tiêu sinh lý của cây kỳ tử

4.6. Ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến chỉ số diệp lục (SPAD) của cây kỳ tử

4.7. Ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến chỉ số diện tích lá (LAI) của cây kỳ tử

4.8. Ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến khả năng tích lũy chất khô của cây kỳ tử

4.9. Ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại của cây kỳ tử

4.10. Ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến năng suất chất xanh cây kỳ tử qua các lần thu hoạch

4.11. Ảnh hưởng riêng rẽ của mức phân bón và vật liệu che phủ đến năng suất chất xanh cây kỳ tử qua các lần thu hoạch

4.12. Ảnh hưởng tương tác của mức phân bón và vật liệu che phủ đến các lần thu năng suất chất xanh cây kỳ tử qua các lần thu hoạch

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất cây kỳ tử

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phân bón có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng cây kỳ tửnăng suất cây kỳ tử. Các mức phân bón khác nhau (P1: 150kg N, 120kg P2O5, 120kg K2O; P2: 120kg N, 90kg P2O5, 90kg K2O; P3: 90kg N, 60kg P2O5, 60kg K2O) được áp dụng trong thí nghiệm. Kết quả cho thấy, mức phân bón P1 kết hợp với vật liệu che phủ nilon đen mang lại năng suất thực thu cao nhất (1,44 tấn/ha). Ngược lại, mức phân bón P3 kết hợp với rơm rạ cho năng suất thấp nhất (0,78 tấn/ha). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%. Phân bón không chỉ ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp mà còn tác động đến các chỉ tiêu sinh lý như chỉ số diệp lục (SPAD)chỉ số diện tích lá (LAI).

1.1. Ảnh hưởng đến động thái tăng trưởng

Phân bón ảnh hưởng rõ rệt đến động thái tăng trưởng của cây kỳ tử, bao gồm chiều cao, số lá và số cành. Mức phân bón P1 giúp cây đạt chiều cao tối đa, số lá và số cành nhiều nhất so với các mức phân bón khác. Điều này chứng tỏ phân bón đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sinh trưởng cây kỳ tử.

1.2. Ảnh hưởng đến chỉ tiêu sinh lý

Các chỉ tiêu sinh lý như chỉ số diệp lục (SPAD)chỉ số diện tích lá (LAI) cũng được cải thiện đáng kể khi sử dụng mức phân bón P1. Điều này cho thấy phân bón không chỉ tác động đến năng suất cây kỳ tử mà còn cải thiện hiệu quả quang hợp và tích lũy chất khô.

II. Ảnh hưởng của vật liệu che phủ đến sinh trưởng và năng suất cây kỳ tử

Vật liệu che phủ cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng cây kỳ tửnăng suất cây kỳ tử. Nghiên cứu so sánh giữa nilon đen và rơm rạ cho thấy, nilon đen mang lại hiệu quả cao hơn trong việc duy trì độ ẩm đất và kiểm soát cỏ dại. Điều này giúp cây kỳ tử phát triển tốt hơn, đặc biệt là trong điều kiện khí hậu khô hạn. Vật liệu che phủ cũng ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp, với nilon đen cho năng suất cao hơn so với rơm rạ.

2.1. Ảnh hưởng đến độ ẩm đất và nhiệt độ

Vật liệu che phủ nilon đen giúp duy trì độ ẩm đất ổn định và giảm nhiệt độ bề mặt đất, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng cây kỳ tử. Trong khi đó, rơm rạ có hiệu quả thấp hơn trong việc kiểm soát độ ẩm và nhiệt độ.

2.2. Ảnh hưởng đến sâu bệnh hại

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vật liệu che phủ nilon đen giúp giảm thiểu sự xuất hiện của sâu bệnh hại so với rơm rạ. Điều này góp phần nâng cao năng suất cây kỳ tử và giảm chi phí phòng trừ sâu bệnh.

III. Tương tác giữa phân bón và vật liệu che phủ

Sự tương tác giữa phân bónvật liệu che phủ có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng cây kỳ tửnăng suất cây kỳ tử. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức phân bón P1 kết hợp với nilon đen mang lại hiệu quả cao nhất, trong khi mức phân bón P3 kết hợp với rơm rạ cho kết quả thấp nhất. Sự tương tác này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp mà còn tác động đến các chỉ tiêu sinh lý và khả năng tích lũy chất khô của cây.

3.1. Ảnh hưởng đến năng suất thực thu

Sự kết hợp giữa phân bón P1 và nilon đen cho năng suất thực thu cao nhất (1,44 tấn/ha), trong khi P3 kết hợp với rơm rạ chỉ đạt 0,78 tấn/ha. Điều này chứng tỏ sự tương tác giữa hai yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất cây kỳ tử.

3.2. Ảnh hưởng đến tích lũy chất khô

Sự tương tác giữa phân bónvật liệu che phủ cũng ảnh hưởng đến khả năng tích lũy chất khô của cây. Mức phân bón P1 kết hợp với nilon đen giúp cây tích lũy chất khô hiệu quả hơn, góp phần nâng cao năng suất nông nghiệp.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Với hệ sinh thái phong phú, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về việc nuôi dưỡng và phát triển cây dược liệu. Theo số liệu thống kê mới nhất của Viện Dược liệu (2017), Việt Nam có tới 5.117 loài cây làm thuốc. Trong số đó hiện đã có khoảng 40/54 loài cây dược liệu được ưu tiên đưa vào trồng trọt với diện tích lớn (QÐ 205/QĐ-BYT, 2015). Tuy nhiên, hiện nay, cây dược liệu gây trồng ở Việt Nam nhìn chung còn hạn chế, phát triển một cách tự phát mất cân đối, chưa có sự nghiên cứu, đầu tư phát triển đúng mức, chưa xứng với tiềm năng của dược liệu Việt.

Trong khi đó, nhu cầu trong nước cũng như quốc tế về dược liệu có nguồn gốc từ thảo dược để điều trị bệnh, làm thuốc bổ tăng cường sức khoẻ là rất cao và liên tục tăng. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có tới 80% dân số ở các nước đang phát triển vẫn dựa vào thuốc thảo dược để chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Việt Nam có rất nhiều loài cây cho công dụng làm thuốc, nhưng lâu nay do khai thác quá mức và không được quản lý tốt nên nhiều cây thuốc quý đã trở nên rất khan hiếm. Để khắc phục các hạn chế này, nhằm bảo tồn và gắn với phát triển kinh tế, nhiều vùng dược liệu cũng đã được quy hoạch như Đà Lạt, Mường Lống, Kỳ Sơn - Nghệ An, Pù Luông - Thanh Hóa, khu vực miền núi phía Bắc (huyện Ba Vì, Sa Pa, Lào Cai, Quản Bạ - Hà Giang,.) Về các loại dược liệu hữu ích thì trong đó cây kỳ tử, tên khoa học là Lycium barbarum L.

Đây là vị thuốc quý được coi là một trong những thần dược vô cùng quý giá mà con người cần biết quý trọng và khai thác. Tại Việt Nam, kỳ tử thường trồng lấy quả để sử dụng và điều chế thuốc, bên cạnh đó đọt non của loại cây này cũng được người dân chú trọng và yêu thích dùng làm rau nấu canh ăn rất tốt cho bà mẹ sau khi sinh con, lành tính và rất có lợi cho sức khỏe. Cây kỳ tử được trồng nhiều nhất ở vùng núi miền Bắc và có thể coi là một đặc sản ở Sa Pa, Lào Cai. 1 Cây kỳ tử không những mang giá trị dinh dưỡng y học to lớn mà nó còn là cây mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho con người.

Tuy nhiên, hiện nay biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc cây kỳ tử lấy ngọn và làm rau ăn vẫn chưa phổ biến. Hơn nữa nghiên cứu về mức phân bón và vật liệu che phủ thích hợp cho loài cây này còn hạn chế. Xuất phát từ những vấn đề thực tế trên, tôi tiến hành: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến sinh trưởng, năng suất cây kỳ tử tại Gia Lâm, Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.

Mục đích Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến sinh trưởng và năng suất sinh vật học của cây kỳ tử, để xác định mức phân bón và vật liệu che phủ thích hợp cho cây kỳ tử trồng tại Gia Lâm, Hà Nội. Yêu cầu - Đánh giá ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây kỳ tử trồng tại Gia Lâm, Hà Nội. - Đánh giá ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến một số chỉ tiêu sinh lý của cây kỳ tử trồng tại Gia Lâm, Hà Nội. - Đánh giá ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại của cây kỳ tử trồng tại Gia Lâm, Hà Nội.

- Đánh giá ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến năng suất sinh vật học của cây kỳ tử trồng tại Gia Lâm, Hà Nội. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên Thế giới và Việt Nam. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên Thế giới Việc sử dụng thực vật làm thuốc đã có một bề dày lịch sử và đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Trước Công nguyên, loài người đã biết sử dụng nhiều loại thực vật và động vật để làm thuốc.

Trải qua hàng nghìn năm sử dụng và tìm hiểu, con người đã có sự hiểu biết sâu sắc hơn về dược liệu, đồng thời sử dụng ngày càng nhiều vào mục đích phòng, trị bệnh.000 bài thực vật được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Dược liệu ngày càng có giá trị to lớn trong Y học nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng. Ước tính có đến 25 % trong số các loại thuốc ở các nước phát triển có nguồn gốc từ thảo mộc. Mức độ sử dụng dược liệu vào điều trị ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật và một số nước Châu Á rất lớn (Trương Xuân Nam, 1987).

Có thể nói Trung Quốc là nước có truyền thống lâu đời về việc nghiên cứu sử dụng cây thuốc. Kể từ thời Sheng- Nong (gần 3000 năm trước Công Nguyên), đã có 365 loài thực, động vật và khoáng vật được ghi nhận là có tác dụng chữa bệnh (Pie, 1987). Người ta đã ước tính rằng, số loài cây thuốc được dùng trong hệ thống Y dược Trung Quốc là 8.000, trong đó thuốc của Tây Tạng 3.294 loài, thuốc của Mông Cổ la 1.430, của dân tộc Yi là 3.294, của dân tộc Max là 800, dân tộc Wa là 1.430, dân tộc Dai là 800 và cuối cùng là các loại thuốc thông thường được dùng là 201 loài. Tại Trung Quốc, hàng năm tiêu thụ khoảng 700.000 tấn dược liệu, trong đó có trên 5.000 loài thực vật, giá trị kinh tế năm 2003 ước đạt 6 tỷ USD và năm 2008 ước đại 26 tỷ USD.

Giá trị kinh tế từ các nguồn dược liệu tại Mỹ năm 2004 ước đạt 17 tỷ USD và tại Nhật Bản năm 2006 ước đạt 1,1 tỷ USD. Đến nay, việc nghiên cứu và sử dụng được liệu ở các nước này ngày càng phát triển. Đặc biệt, để bảo đảm chất lượng dược liệu trong phòng và điều trị bệnh, nhiều nước đã 3 xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hóa cao cho các dược liệu như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia. Ở Ấn Độ, trong bộ sử thi Vedas (năm 1500 TCN), chứa đựng những kiến thức phong phú về dược thảo thời kỳ đó.

Những công dụng của cây thuốc này cũng được ghi lại trong cuốn sách dược thảo “Charaka Samhita”, viết năm 400 TCN. Sau này, vào khoảng 100 năm SCN, một học giả người Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loài dược thảo cũng như những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng chất và động vật. Hiện nay tại Ấn Độ, đã ghi nhận có khoảng 8.000 loài cây thuốc được ứng dụng trong Y học của hơn 4.000 cộng đồng dân tộc thiểu số và hàng năm doanh thu của Ấn Độ từ các hoạt động buôn bán cây dược liệu trong nước và xuất khẩu là 1 tỷ Đô la Mỹ. Từ thời xa xưa, thực vật làm thuốc đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống của con người và ngày nay chúng vẫn giữ được vai trò ấy đối với các nước đang phát triển ở Châu Á.

Mặc dù vậy, người dân đang phát triển ở các nước Châu Á chỉ mới khai thác cây thuốc từ thiên nhiên hoặc được trồng với mục đích phục vụ trong gia đình, trừ các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Nepal là trồng chúng với mục đích thương mại. Tuy nhiên, các quốc gia này cũng chỉ gây trồng ở quy mô nhỏ và chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước (Trần Công Khánh, 2017). Ở các nước khác như Anh, Đức, Mỹ, nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh. Tại Đức, một ủy ban gồm nhiều bác sĩ, dược sĩ, chuyên gia về chất độc đã hoàn thành một tài liệu với trên 400 chuyên đề tả công dụng, tác dụng phụ, phân lượng của nhiều dược thảo.

Tại Mỹ, dược thảo rất thông dụng với thổ dân bản xứ. Năm 1716, nhà thám hiểm Pháp Lafitau đã tìm ra Sâm Mỹ ở vùng New World. Hiện nay Sâm là tài nguyên xuất khẩu quan trọng của Hoa Kỳ. Hội đồng thực vật Mỹ (Austin-Texas), dựa vào hai công trình của Đức và Anh đã soạn thảo một tài liệu nói về 26 dược thảo thông dụng (Trần Công Khánh, 2017).

4 Gần đây, theo số liệu của Tổ chức Y học Thế giới (WHO), đến năm 1995 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài được biết đến) được sử dụng làm thuốc hay cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc. Trong đó, Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc có khoảng 5. Cũng theo WHO thì mức độ sử dụng thực vật làm thuốc ngày càng cao như: hàng năm Trung Quốc tiêu thụ 700.000 tấn dược liệu, sản phẩm thuốc Y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỷ USD vào năm 1986. Tại Nhật Bản, năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dược liệu, tương đương 50 triệu USD.

Điều này chứng tỏ ở các nước phát triển thì cây thuốc phục vụ cho Y học cổ truyền cũng phát triển mạnh. Cây thuốc là loại cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người (Tuyên ngôn Chiang Mai – Thái Lan, 1988). Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới. Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dược tính mạnh được điều chế từ một loài Hoa hồng (Cantharanthus roseus).

Đặc biệt ở Madagasca, người ta dùng cây này để chữa bệnh máu trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến 90% (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005). Tuy nhiên, ngày nay do các hoạt động mưu cầu của cuộc sống con người đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới. Nhiều loài cây thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã bị tuyệt chủng. Trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của chúng bị đe dọa vào thế kỷ tới.

Trong số những loài thực vật đã mất đi hoặc đang bị đe dọa gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ảnh hưởng của phân bón và vật liệu che phủ đến sinh trưởng và năng suất cây kỳ tử tại Gia Lâm, Hà Nội là một nghiên cứu chuyên sâu về tác động của các yếu tố nông nghiệp đến cây kỳ tử, một loại cây dược liệu có giá trị kinh tế cao. Tài liệu này phân tích chi tiết cách sử dụng phân bón và vật liệu che phủ để tối ưu hóa sinh trưởng và năng suất của cây, đồng thời cung cấp các giải pháp kỹ thuật cụ thể cho nông dân tại khu vực Gia Lâm, Hà Nội. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến canh tác bền vững và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối, hoặc tìm hiểu thêm về canh tác bền vững qua Luận án ts quyết định lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu cũng là một tài liệu đáng đọc để hiểu rõ hơn về các phương pháp canh tác hiệu quả.