Đặt vấn đề Với hệ sinh thái phong phú, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về việc nuôi dưỡng và phát triển cây dược liệu. Theo số liệu thống kê mới nhất của Viện Dược liệu (2017), Việt Nam có tới 5.117 loài cây làm thuốc. Trong số đó hiện đã có khoảng 40/54 loài cây dược liệu được ưu tiên đưa vào trồng trọt với diện tích lớn (QÐ 205/QĐ-BYT, 2015). Tuy nhiên, hiện nay, cây dược liệu gây trồng ở Việt Nam nhìn chung còn hạn chế, phát triển một cách tự phát mất cân đối, chưa có sự nghiên cứu, đầu tư phát triển đúng mức, chưa xứng với tiềm năng của dược liệu Việt.
Trong khi đó, nhu cầu trong nước cũng như quốc tế về dược liệu có nguồn gốc từ thảo dược để điều trị bệnh, làm thuốc bổ tăng cường sức khoẻ là rất cao và liên tục tăng. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có tới 80% dân số ở các nước đang phát triển vẫn dựa vào thuốc thảo dược để chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Việt Nam có rất nhiều loài cây cho công dụng làm thuốc, nhưng lâu nay do khai thác quá mức và không được quản lý tốt nên nhiều cây thuốc quý đã trở nên rất khan hiếm. Để khắc phục các hạn chế này, nhằm bảo tồn và gắn với phát triển kinh tế, nhiều vùng dược liệu cũng đã được quy hoạch như Đà Lạt, Mường Lống, Kỳ Sơn - Nghệ An, Pù Luông - Thanh Hóa, khu vực miền núi phía Bắc (huyện Ba Vì, Sa Pa, Lào Cai, Quản Bạ - Hà Giang,.) Về các loại dược liệu hữu ích thì trong đó cây kỳ tử, tên khoa học là Lycium barbarum L.
Đây là vị thuốc quý được coi là một trong những thần dược vô cùng quý giá mà con người cần biết quý trọng và khai thác. Tại Việt Nam, kỳ tử thường trồng lấy quả để sử dụng và điều chế thuốc, bên cạnh đó đọt non của loại cây này cũng được người dân chú trọng và yêu thích dùng làm rau nấu canh ăn rất tốt cho bà mẹ sau khi sinh con, lành tính và rất có lợi cho sức khỏe. Cây kỳ tử được trồng nhiều nhất ở vùng núi miền Bắc và có thể coi là một đặc sản ở Sa Pa, Lào Cai. 1 Cây kỳ tử không những mang giá trị dinh dưỡng y học to lớn mà nó còn là cây mang lại hiệu quả kinh tế rất cao cho con người.
Tuy nhiên, hiện nay biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc cây kỳ tử lấy ngọn và làm rau ăn vẫn chưa phổ biến. Hơn nữa nghiên cứu về mức phân bón và vật liệu che phủ thích hợp cho loài cây này còn hạn chế. Xuất phát từ những vấn đề thực tế trên, tôi tiến hành: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến sinh trưởng, năng suất cây kỳ tử tại Gia Lâm, Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến sinh trưởng và năng suất sinh vật học của cây kỳ tử, để xác định mức phân bón và vật liệu che phủ thích hợp cho cây kỳ tử trồng tại Gia Lâm, Hà Nội. Yêu cầu - Đánh giá ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây kỳ tử trồng tại Gia Lâm, Hà Nội. - Đánh giá ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến một số chỉ tiêu sinh lý của cây kỳ tử trồng tại Gia Lâm, Hà Nội. - Đánh giá ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại của cây kỳ tử trồng tại Gia Lâm, Hà Nội.
- Đánh giá ảnh hưởng của mức phân bón và vật liệu che phủ đến năng suất sinh vật học của cây kỳ tử trồng tại Gia Lâm, Hà Nội. 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên Thế giới và Việt Nam. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây dược liệu trên Thế giới Việc sử dụng thực vật làm thuốc đã có một bề dày lịch sử và đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Trước Công nguyên, loài người đã biết sử dụng nhiều loại thực vật và động vật để làm thuốc.
Trải qua hàng nghìn năm sử dụng và tìm hiểu, con người đã có sự hiểu biết sâu sắc hơn về dược liệu, đồng thời sử dụng ngày càng nhiều vào mục đích phòng, trị bệnh.000 bài thực vật được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Dược liệu ngày càng có giá trị to lớn trong Y học nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng. Ước tính có đến 25 % trong số các loại thuốc ở các nước phát triển có nguồn gốc từ thảo mộc. Mức độ sử dụng dược liệu vào điều trị ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật và một số nước Châu Á rất lớn (Trương Xuân Nam, 1987).
Có thể nói Trung Quốc là nước có truyền thống lâu đời về việc nghiên cứu sử dụng cây thuốc. Kể từ thời Sheng- Nong (gần 3000 năm trước Công Nguyên), đã có 365 loài thực, động vật và khoáng vật được ghi nhận là có tác dụng chữa bệnh (Pie, 1987). Người ta đã ước tính rằng, số loài cây thuốc được dùng trong hệ thống Y dược Trung Quốc là 8.000, trong đó thuốc của Tây Tạng 3.294 loài, thuốc của Mông Cổ la 1.430, của dân tộc Yi là 3.294, của dân tộc Max là 800, dân tộc Wa là 1.430, dân tộc Dai là 800 và cuối cùng là các loại thuốc thông thường được dùng là 201 loài. Tại Trung Quốc, hàng năm tiêu thụ khoảng 700.000 tấn dược liệu, trong đó có trên 5.000 loài thực vật, giá trị kinh tế năm 2003 ước đạt 6 tỷ USD và năm 2008 ước đại 26 tỷ USD.
Giá trị kinh tế từ các nguồn dược liệu tại Mỹ năm 2004 ước đạt 17 tỷ USD và tại Nhật Bản năm 2006 ước đạt 1,1 tỷ USD. Đến nay, việc nghiên cứu và sử dụng được liệu ở các nước này ngày càng phát triển. Đặc biệt, để bảo đảm chất lượng dược liệu trong phòng và điều trị bệnh, nhiều nước đã 3 xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hóa cao cho các dược liệu như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia. Ở Ấn Độ, trong bộ sử thi Vedas (năm 1500 TCN), chứa đựng những kiến thức phong phú về dược thảo thời kỳ đó.
Những công dụng của cây thuốc này cũng được ghi lại trong cuốn sách dược thảo “Charaka Samhita”, viết năm 400 TCN. Sau này, vào khoảng 100 năm SCN, một học giả người Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loài dược thảo cũng như những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng chất và động vật. Hiện nay tại Ấn Độ, đã ghi nhận có khoảng 8.000 loài cây thuốc được ứng dụng trong Y học của hơn 4.000 cộng đồng dân tộc thiểu số và hàng năm doanh thu của Ấn Độ từ các hoạt động buôn bán cây dược liệu trong nước và xuất khẩu là 1 tỷ Đô la Mỹ. Từ thời xa xưa, thực vật làm thuốc đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống của con người và ngày nay chúng vẫn giữ được vai trò ấy đối với các nước đang phát triển ở Châu Á.
Mặc dù vậy, người dân đang phát triển ở các nước Châu Á chỉ mới khai thác cây thuốc từ thiên nhiên hoặc được trồng với mục đích phục vụ trong gia đình, trừ các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Nepal là trồng chúng với mục đích thương mại. Tuy nhiên, các quốc gia này cũng chỉ gây trồng ở quy mô nhỏ và chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước (Trần Công Khánh, 2017). Ở các nước khác như Anh, Đức, Mỹ, nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh. Tại Đức, một ủy ban gồm nhiều bác sĩ, dược sĩ, chuyên gia về chất độc đã hoàn thành một tài liệu với trên 400 chuyên đề tả công dụng, tác dụng phụ, phân lượng của nhiều dược thảo.
Tại Mỹ, dược thảo rất thông dụng với thổ dân bản xứ. Năm 1716, nhà thám hiểm Pháp Lafitau đã tìm ra Sâm Mỹ ở vùng New World. Hiện nay Sâm là tài nguyên xuất khẩu quan trọng của Hoa Kỳ. Hội đồng thực vật Mỹ (Austin-Texas), dựa vào hai công trình của Đức và Anh đã soạn thảo một tài liệu nói về 26 dược thảo thông dụng (Trần Công Khánh, 2017).
4 Gần đây, theo số liệu của Tổ chức Y học Thế giới (WHO), đến năm 1995 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài được biết đến) được sử dụng làm thuốc hay cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc. Trong đó, Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc có khoảng 5. Cũng theo WHO thì mức độ sử dụng thực vật làm thuốc ngày càng cao như: hàng năm Trung Quốc tiêu thụ 700.000 tấn dược liệu, sản phẩm thuốc Y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỷ USD vào năm 1986. Tại Nhật Bản, năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dược liệu, tương đương 50 triệu USD.
Điều này chứng tỏ ở các nước phát triển thì cây thuốc phục vụ cho Y học cổ truyền cũng phát triển mạnh. Cây thuốc là loại cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người (Tuyên ngôn Chiang Mai – Thái Lan, 1988). Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới. Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dược tính mạnh được điều chế từ một loài Hoa hồng (Cantharanthus roseus).
Đặc biệt ở Madagasca, người ta dùng cây này để chữa bệnh máu trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến 90% (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005). Tuy nhiên, ngày nay do các hoạt động mưu cầu của cuộc sống con người đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới. Nhiều loài cây thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã bị tuyệt chủng. Trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của chúng bị đe dọa vào thế kỷ tới.
Trong số những loài thực vật đã mất đi hoặc đang bị đe dọa gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc.