Đặt vấn đề Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới. Theo thống kê của tổ chức lượng thực thế giới (FAO), lúa gạo là nguồn lương thực chính của 40% dân số thế giới và ảnh hưởng tới đời sống của ít nhất 65% dân số thế giới. Mức tiêu thụ lúa gạo bình quân hàng năm là 180 - 200 kg gạo/người tại các nước châu Á và khoảng 10 kg/người tại các nước châu Mỹ. Ở Việt Nam, lúa nước được trồng từ lâu đời và là cây lương thực có vai trò quan trọng nhất trong ngành nông nghiệp.
Lúa gạo cung cấp nguồn lương thực cơ bản, tạo việc làm cho hàng triệu người, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước. Việt Nam là một nước nông nghiệp với khoảng 75% dân số sống bằng nghề nông và có nền văn minh lúa nước từ lâu đời. Trong đó, trên 80% dân số sống nhờ vào cây lúa. Vì vậy, lúa là một trong những cây lương thực vô cùng quan trọng đối với đời sống người dân Việt Nam và an ninh lương thực quốc gia.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, diện tích gieo trồng lúa thu đông năm 2020 ước tính đạt 724 12 nghìn ha, giảm 0,2 nghìn ha so với vụ thu đông năm trước. Diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1. Tính đến hết tháng 12/2020, năng suất lúa ước tính đạt 58,7 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha; sản lượng lúa ước tính đạt 42,69 triệu tấn. Tính đến hết tháng 7/2020, Việt Nam xuất khẩu khoảng 3,9 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,9 tỉ USD, tăng 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Đặc biệt là giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng cao, vượt Thái Lan, Ấn Độ và Pakistan. Đây là lần thứ 2 Việt Nam có thể trở lại vị trí xuất khẩu gạo số 1 thế giới (Tổng cục Thống kê, 2020). Để đạt được những thành tựu như trên, nhiều tiến bộ kĩ thuật đã được áp dụng trong sản xuất lúa ở nước ta, trong đó nổi bật là công tác tạo chọn tạo giống. Đã có nhiều giống lúa mới ra đời cho năng suất, chất lượng cao, thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái.
TBR-125 là giống lúa thuần mới được chọn tạo, mang đặc tính cảm ôn, ngắn ngày, thích ứng rộng, năng suất khá. Để phát huy hết tiềm năng năng suất của giống, việc nghiên cứu, thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật thâm canh là rất cần thiết. Ngoài các biện pháp kỹ thuật như bố trí thời vụ, kỹ thuật làm đất, chế độ nước, phòng trừ sâu bệnh. thì việc xác định lượng phân bón là vấn đề rất quan trọng trong thâm canh cây trồng.
Phân bón có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng. Trong các loại phân bón thì đạm (N) là yếu tố vô cùng quan trọng đối cây trồng vì nó là thành phần của protein, nucleotit, ADN, ARN … Đạm tham gia quá trình đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hấp thu các thành phần dinh dưỡng khác. Cây lúa cần đạm trong suốt quá trình sống, nhất là ở giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, nên việc bón phân đạm cho lúa là cần thiết nhưng phải bón đủ, cân đối, hợp lý và đúng cách. Nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm thông qua xác định liều lượng và dạng phân 13 đạm bón phù hợp có thể tăng năng suất lúa và làm giảm phát thải khí CH₄ và N₂O (Dương Thanh Ngọc, 2016).
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa tẻ TBR125 tại Đông Hưng, Thái Bình. Mục đích, yêu cầu 1.1 Mục đích Nghiên cứu và đánh giá ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống lúa tẻ TBR125 trong vụ xuân 2021 tại Đông Hưng, Thái Bình, từ đó tìm ra lượng đạm bón thích hợp cho dòng lúa tẻ TBR125 sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao. Yêu cầu - Đánh giá ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các chỉ tiêu sinh trưởng của giống lúa tẻ TBR125 - Đánh giá ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các chỉ tiêu sinh lý của giống lúa tẻ TBR125. - Đánh giá ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khả năng chống chịu sâu bệnh của giống lúa tẻ TBR125.
- Đánh giá ảnh hưởng của lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa tẻ TBR125. 14 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ trên thế giới. Lúa là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng khí hậu. Trên thế giới, lúa là một trong những loại cây lương thực quan trọng của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước châu Á.
Sản xuất lúa gạo trong những thập kỷ gần đây đã có mức tăng trưởng đáng kể, nhưng do dân số tăng nhanh, nhất là các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La Tinh nên lương thực vẫn là vấn đề phải quan tâm trong những năm tới và lâu dài. Trong năm 2020, dịch COVID-19 đã tác động tiêu cực đến thương mại hàng hóa toàn cầu khi các chuỗi cung ứng bị gián đoạn, các biện pháp cách ly gây thiếu hụt lao động. Tình trạng giao hàng chậm đã từng bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng tại hai nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới là Ấn Độ và Thái Lan. Lần đầu tiên sau ba thập kỷ, Trung Quốc - nước tiêu thụ gạo lớn nhất thế giới, đã phải nhập khẩu gạo từ Ấn Độ trong tháng 12.
Bangladesh, nhà sản xuất gạo lớn thứ ba thế giới, cũng phải nhập khẩu gạo do giá nội địa tăng lên mức kỷ lục bởi nguồn cung khan hiếm. Số liệu từ các tổ chức thế giới đều cho thấy sản lượng sản xuất và tiêu thụ gạo thế giới năm 2020 đều ghi nhận tăng trưởng. Theo FAO, sản lượng gạo thế giới năm 2020 đạt 508,4 triệu tấn, sản lượng tiêu thụ gạo năm 2020 đạt 510,3 triệu tấn, đều tăng 1,52 % so với năm trước (FAOSTAT, 2020). Còn theo IGC ước tính sản lượng tiêu thụ gạo ở mức 500,7 triệu tấn, tăng 0,83 %.1 Giá gạo thế giới trung bình hàng tuần trong 4 năm 2016-2020 (Nguồn: FAOSTAT, 2020) Hình 2.2 Sản lượng gạo thế giới trong các năm từ 2013-2020 16 Thương mại gạo thế giới sẽ cao kỷ lục và Ấn Độ tiếp tục giữ vị trí nước xuất khẩu gạo nhiều nhất.
Tồn trữ gạo toàn cầu sẽ vẫn tăng, trong đó Trung Quốc chiếm 68 % tổng tồn trữ toàn cầu. Tuy nhiên, mức tăng tồn trữ của cả thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng đều chậm nhất trong vòng một thập kỷ qua.3 Diện tích thu hoạch và sản lượng gạo toàn cầu Sản lượng, diện tích và năng suất lúa gạo trên toàn cầu năm 2019/20 dự báo đều giảm so với mức kỷ lục của năm trước, nhưng vẫn cao hơn so với năm 2017/18, trong đó giảm mạnh nhất sẽ tập trung vào Trung Quốc và Ấn Độ, nơi cả diện tích trồng và năng suất dự báo sẽ đều giảm. Diện tích và năng suất của Mỹ dự báo cũng sẽ đi xuống. Trái lại, những nước có sản lượng tăng mạnh nhất sẽ là Thái Lan và Lào, cùng xu hướng tăng sẽ có Bangladesh, Indonesia, Myanmar và Việt Nam.4 Sản lượng tiêu thụ và các nước tiêu thụ hàng đầu thế giới Tiêu thụ gạo thế giới dự báo sẽ tăng 1 %, trong đó thêm nhiều nhất ở Ấn Độ và Trung Quốc.
Sử dụng gạo làm lương thực chiếm phần lớn tổng tiêu thụ. Tại một số khu vực, nơi tiêu thụ gạo trung bình người nhìn chung đã ở mức cao, nhất là tại Châu Á, người dân giảm dùng gạo trong các bữa ăn (ví dụ như tại Hàn Quốc, Nhật Bản). Trái lại, ở nhiều nước Châu Phi, tiêu thụ gạo vẫn tiếp tục tăng, nhất là ở các khu vực đô thị.5 Thương mại gạo trên thế giới 18 Thương mại gạo thế giới trong năm 2020 dự báo sẽ tăng 3 % lên 48 triệu tấn, tương đương năm 2017. Nhu cầu nhập khẩu cao nhất đến từ Châu Phi cận Sahara và Trung Đông, trong khi nhập khẩu của khu vực Đông Nam Á dự báo sẽ giảm.
Ấn Độ tiếp tục là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, tiếp đến là Thái Lan, Việt Nam và Pakistan. Trong khi đó, Trung Quốc dự báo sẽ duy trì xu hướng tăng xuất khẩu mặc dù vẫn là nước nhập khẩu hàng đầu thế giới. Ở bán cầu Tây, xuất khẩu của Mỹ dự báo sẽ tăng, trong khi của Guyana và Uruguay sẽ ổn định như năm trước, còn của Argentina và Brazil sẽ giảm.6 Dự báo những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới năm 2020 Trung Quốc được dự báo sẽ nhập khẩu 4 triệu tấn. Cả diện tích và sản lượng lúa của nước này sẽ đều giảm do giá hỗ trợ tối thiểu không thay đổi.
Tuy nhiên, tổng cung vẫn tăng so với năm trước do lượng tồn trữ đầu vụ (trong kho dự trữ tạm thời của Chính phủ) tăng. Nước này sẽ tiếp tục nhập khẩu gạo chủ yếu từ các nước láng giềng. 19 Philipine được dự báo sẽ giảm 100.000 tấn nhập khẩu xuống 2,7 triệu tấn do lượng dự trữ còn nhiều trong khi sản lượng tăng lên. Nước này đã dỡ bỏ hạn chế khối lượng nhập khẩu gạo và thay vào đó bằng thuế, theo đó ưu đãi thuế khi nhập từ các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.
Tiêu thụ gạo của Philippines dự báo sẽ tăng do nguồn cung trong nước dồi dào và gạo nhập khẩu giá tương đối rẻ cũng sẵn có trên thị trường. Nigeria dự báo sẽ có nhu cầu nhập khẩu tăng 200.000 tấn lên 2,4 triệu tấn, do cần thêm gạo đồ, mặc dù sản lượng trong nước cũng tăng nhẹ. Với xu hướng đô thị hóa và dân số tăng nhanh, nhu cầu gạo đồ nhập khẩu vào nước này tiếp tục tăng. Mặc dù Chính phủ đã hạn chế sử dụng ngoại hối để nhập khẩu gạo, song xu hướng trung chuyển gạo nhập khẩu từ các nước láng giềng vẫn tiếp diễn.
Liên minh Châu Âu - EU dự báo sẽ vẫn nhập khẩu 2 triệu tấn gạo trong bối cảnh sản lượng tăng nhẹ nhưng tiêu thụ cũng tăng chậm. Nhập khẩu từ Campuchia và Myanmar mấy năm gần đây tăng do sáng kiến Mọi thứ trừ vũ khí. Tháng 1/2019, Liên minh Châu Âu áp thuế nhập khẩu đối với gạo nhập khẩu từ cả 2 nước này, dự kiến khối lượng gạo nhập khẩu chịu thế sẽ giảm nhẹ trong năm 2020.