CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BIẾN DẠNG BỀ MẶT TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐƯỜNG HẦM MÊTRÔ 1. Tổng quan về các công trình đường hầm mêtrô trên thế giới và tại Việt Nam 1. Các công trình đường hầm mêtrô tiêu biểu trên thế giới Tàu điện ngầm (underground), còn được gọi là mêtrôpolitan hay ngắn hơn là mêtrô, là hệ thống vận tải khối lượng lớn trong đô thị chạy trên đường ray và thường có một phần lớn chiều dài tuyến đi ngầm dưới lòng đất. Ngày nay thì hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới đều có hệ thống công trình tàu điện ngầm hiện đại.
Đây là phương tiện giao thông ngầm đô thị rất cần thiết và rất hiệu quả không thể thiếu trong các đô thị hiện đại. Tuyến tàu điện ngầm đầu tiên trên thế giới được khánh thành vào ngày 10 tháng 01 năm 1863 tại London được gọi là Mêtrôpolitan Railway. Lúc đó đầu tàu vẫn chạy bằng hơi nước. Đến nay trên thế giới đã có hàng trăm hệ thống đường tàu điện ngầm với mức độ tự động hoá quản lý của hệ thống tàu điện ngầm rất cao.
Các hệ thống tàu điện ngầm nổi tiếng được biết đến như: - London (Anh) có chiều dài 415 km và 378 nhà ga, đạt năng lực vận chuyển 2.3 triệu khách/km/năm, vận tốc trung bình đạt 33km/h; - New York (Mỹ) dài 471 km và 468 nhà ga, đạt năng lực vận chuyển 3 triệu khách/km/năm, vận tốc trung bình đạt 29 km/h; - Paris (Pháp) dài 211 km 375 nhà ga, đạt năng lực vận chuyển 6 triệu khách/km/năm, với vận tốc trung bình là 22km/h; - Moskva (Nga) dài 265 km và 164 nhà ga, đạt năng lực vận chuyển 12.1 triệu hành khách/km/năm, vận tốc trung bình đạt 41 km/h. Quy hoạch hệ thống tàu điện ngầm tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Quy hoạch mạng lưới Mêtrô tại Hà Nội Theo Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt tại Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011, mạng lưới đường sắt đô thị gồm 8 Tuyến với tổng chiều dài khoảng 318 km, cụ thể: - Tuyến số 1: Ngọc Hồi – Yên Viên – Như Quỳnh.
- Tuyến số 2: Nội Bài – Trung tâm thành phố – Thượng Đình. 5 - Tuyến số 3: Nhổn – Ga Hà Nội – Hoàng Mai. - Tuyến số 4: Đông Anh – Sài Đồng – Vĩnh Tuy/Hoàng Mai – Thanh Xuân – Từ Liêm – Thượng Cát – Mê Linh. - Tuyến số 5: Nam Hồ Tây – Ngọc Khánh – Láng – Hòa Lạc.
- Tuyến số 6: Nội Bài – Khu đô thị mới phía Tây Ngọc Hồi. - Tuyến số 7: Mê Linh – Đô thị mới phía Tây Nhổn – Vân Canh – Dương Nội. - Tuyến số 8: Cổ Nhuế – Vành Đai 3 – Lĩnh Nam – Bát Tràng – Dương Xá Quy hoạch mạng lưới Mêtrô Thành phố Hồ Chí Minh Ý tưởng xây dựng các tuyến mêtrô tại Thành phố Hồ Chí Minh có từ năm 1998 với việc thông qua Điều chỉnh Quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 Quy hoạch này ưu tiên đề xuất một hệ thống đường sắt liên đô thị, nhưng chỉ có các nghiên cứu về xây dựng tàu điện ngầm được lên chương trình. Nghiên cứu đầu tiên được thực hiện vào năm 1998, do Vương quốc Anh tài trợ, đã kết luận rằng để phát triển hệ thống giao thông công cộng Thành phố Hồ Chí Minh cần phải xây dựng 3 tuyến tàu điện ngầm (mêtrô), nhưng điều này chỉ làm được sau khi đã tái cấu trúc mạng lưới xe buýt.
Năm 2004, nghiên cứu thứ 2 được tiến hành do Nhật Bản tài trợ đã đưa ra kết luận cần xây dựng mạng lưới tàu điện ngầm (mêtrô), gồm 4 tuyến. Các định hướng mà nghiên cứu này đưa ra đã được đưa vào Quy hoạch giao thông, được duyệt năm 2007 (Quy hoạch này có tên là “Quy hoạch phát triển giao thông Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” do Bộ Giao thông vận tải và các công ty tư vấn của Nhà nước (TEDI, TDSI) xây dựng năm 2006, được duyệt ngày 22/01/2007 theo quyết định số 101/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ). Quy hoạch này định hướng xây dựng 6 tuyến tàu điện ngầm, 3 tuyến xe điện một ray (monorail) và xe điện mặt đất (tramway), với tổng chiều dài là 109 km. Năm 2013, theo điều chỉnh quy hoạch giao thông năm 2007, hệ thống đường sắt đô thị đã có những thay đổi đáng kể: Cụ thể: đến năm 2030 Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có 8 tuyến tàu điện ngầm, 1 tuyến tramway và 2 tuyến monorail với chiều dài tổng cộng 216 km (xem hình 1.1) - Tuyến đường sắt đô thị số 1 (Bến Thành – Suối Tiên) - Tuyến đường sắt đô thị số 2 (Đô Thị Tây Bắc – Thủ Thiêm.
6 - Tuyến đường sắt đô thị số 3a (Bến Thành – Tân Kiên) - Tuyến đường sắt đô thị số 3b (Ngã Sáu Cộng Hòa – Hiệp Bình Phước) - Tuyến đường sắt đô thị số 4 (Thạnh Xuân – Khu đô thị Hiệp Phước) - Tuyến đường sắt đô thị số 4b (Ga Công viên Gia Định – Ga Lăng Cha Cả) - Tuyến đường sắt đô thị số 5 (Bến xe Cần Giuộc mới – Cầu Sài Gòn) - Tuyến đường sắt đô thị số 6 (Bà Quẹo – Vòng xoay Phú Lâm) - Tuyến Tramway số 1 (Ba Son – Bến xe Miền Tây) - Tuyến Monorail số 2 (Quốc lộ 50 – Khu Đô thị Bình Quới) - Tuyến Monorail số 3 (Ngã tư Phan Văn Trị, Nguyễn Oanh – Ga Tân Chánh Hiệp) 7 Hình 1. Quy hoạch mạng lưới tàu điện ngầm thành phố Hồ Chí Minh 8 1. Các phương pháp thi công công trình đường hầm 1. Xây dựng công trình đường hầm bằng phương pháp đào mở.
Kỹ thuật đào mở là một thuật ngữ chỉ các công nghệ xây dựng công trình ngầm bằng cách đào từ mặt đất tự nhiên đến cao độ đáy công trình ngầm, sau khi thi công kết cấu công trình ngầm xong, rồi thực hiện lấp phủ công trình ngầm. Phương pháp này thường được dùng để thi công những loại công trình ngầm đặt nông (giới hạn trong phạm vi 5 - 15m, có khi đến 20m từ cốt mặt đất) [5]. Thông thường, các đường hầm ngắn, hệ thống côlectơ để đặt mạng lưới kỹ thuật đô thị, gara ô tô 1-2 tầng ngầm, đường và ga tàu điện đặt nông, các công trình văn hoá giải trí,. thường thi công trong các hố/hào lộ thiên đào mở.
Các công nghệ thi công theo phương pháp đào hở [10] Lựa chọn phương pháp thi công công trình ngầm theo phương pháp đào mở hay đào kín, chủ yếu dựa trên sự phân tích kỹ lưỡng, thận trọng các yếu tố sau: Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật, bảo đảm an toàn về môi trường và khả năng áp dụng công nghệ hiện đại. Phương pháp đào mở sẽ có nhiều ưu việt, khi công trình ngầm có diện tích lớn trên mặt bằng và không sâu lắm, kinh nghiệm thế giới đã tổng kết rằng ưu điểm nổi bật của phương pháp đào mở như sau: 9 - Kỹ thuật thi công đơn giản, có thể dễ dàng làm chủ bởi các nhà thầu trong nước. - Có thể sử dụng máy làm đất và máy thi công khác nhau với mức cơ giới hoá cao. - Có thể thi công hố đào sát tới tường ngoài của công trình ngầm hiện hữu.
- Thi công chống thấm cho công trình ngầm đơn giản và có chất lượng. Phương pháp đào mở cũng có những nhược điểm và hạn chế, nhất là khi thi công trong vùng đô thị có dân cư đông đúc như: - Kỹ thuật đào hở đòi hỏi khối luợng đào đắp rất lớn, phá vỡ cảnh quan khu vực xây dựng, đặc biệt là khi công trình đặt khá sâu so với mặt đất. - Chiếm dụng mặt bằng nhiều, ồn và dễ gây ách tắc giao thông. - Trong đất sét yếu và đất bùn thì việc bảo đảm ổn định nền đất rất phức tạp.
- Sự hạn chế trong khi vạch tuyến: khi xây dựng tuyến tàu điện ngầm thường phải bám theo các tuyến phố hiện hữu, đặc biệt bán kính cong nhỏ, nếu công trình thi công sát với móng công trình hiện có thì phải tiến hành gia cố chống đỡ những công trình này gây tốn kém. - Vấn đề giải phóng mặt bằng dành chỗ cho công trường xây dựng, tổ chức lại các tuyến giao thông, ồn, chấn động…là những vấn đề kinh tế-xã hội khó giải quyết nhanh gọn để công trình khởi công đúng thời hạn. Dưới đây là một số hệ kết cấu chống giữ thường được sử dụng trong công nghệ đào mở. Ðào không cần chống giữ thành.
Trong điều kiện đất trống trải, đủ rộng (ví dụ vùng ngoại thành) và có điều kiện địa chất tốt, mực nước ngầm không cao thì cho phép đào hố với độ dốc tự nhiên mà không cần chống giữ thành hoặc chỉ cần bảo vệ mặt dốc bằng lớp xi măng luới thép để phòng mất ổn định. Yêu cầu chính là độ nghiêng thành hố đảm bảo được ổn định. Tường chắn bằng cọc bản. Các dạng cọc bản thường dùng hiện nay, theo vật liệu có thể chia ra: Cọc bản bằng gỗ, cọc bản bằng chất dẻo PVC, cọc bản bằng bê tông cốt thép (không ứng suất trước và ứng suất trước), cọc bản bằng thép.
Loại tường bằng cọc bản bê tông 10 cốt thép có độ cứng lớn, đầu cọc dịch chuyển nhỏ, không bị ăn mòn nhanh, có thể được dùng như một kết cấu vĩnh cửu. Tường chắn bằng cọc cừ bản thép có 4 loại: Cừ thép bản phẳng (loại cừ này có mô men kháng uốn không lớn); Cừ máng thép, Cừ thép chữ Z, Cừ Larssen. Trong đó cừ Larssen là loại cừ đang được sử dụng phổ biến hiện nay do có liên kết móc rắn chắc, tạo ra mô men kháng uốn lớn. Ðể ổn định tường cọc cừ bản thép, tuỳ theo bề rộng hố đào, mặt bằng và điều kiện hiện trường mà dùng thanh chống ngang hoặc neo đất.
Công nghệ đào mở dùng tường chắn bằng cọc bản và các loại cừ bản thép a) Cừ phẳng; b) Cừ hình máng; c) Cừ chữ Z; d) Cừ larssen 1. Tường chắn bằng cọc khoan nhồi Như đã biết, cọc khoan nhồi bê tông cốt thép hoặc cọc nhồi bê tông cốt thép kết hợp với cọc xi măng đất có thể dùng để làm tường chắn thành hố đào. Như đã trình bày trên đây, trong một số trường hợp có thể kết hợp cọc xi măng đất để ngăn nước còn cọc nhồi khoan bê tông cốt thép để chịu lực. Tường liên tục trong đất.
Tường liên tục trong đất có thể thi công bằng phương pháp đổ bê tông tại chỗ hoặc lắp những tấm tường bê tông cốt thép đúc sẵn vào hào đào sẵn.