CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị 1. Khái niệm về đô thị Các nước châu Á và trên thế giới nói chung đã hình thành đô thị từ rất sớm, cách đây khoảng mấy ngàn năm. Tuy nhiên, đến nay khái niệm về đô thị chỉ có tính tương đối do tính khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống dân cư.
Mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Song phần nhiều vẫn thống nhất lấy hai tiêu chuẩn cơ bản sau: - Quy mô và mật độ dân số: Thông thường mật độ dân số tối thiểu cần thiết để được gọi là một đô thị phải là 400 người/km2 hay 1000 người trên một dặm vuông Anh. Các quốc gia châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét. Dùng không ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị [16].
- Cơ cấu lao động: Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số nhất định nào đó,một điều kiện nữa là phần đông dân số, thường là 75% trở lên, không có hành nghề nông nghiệp hay đánh cá. Có thể đưa ra một số ví dụ cụ thể như sau: + Tại Úc, các đô thị thường được ám chỉ là các "trung tâm thành thị" và được định nghĩa như là những khu dân cư chen chúc có từ 1000 người trở lên và mật độ dân cư phải tối thiểu là 200 người trên một cây số vuông. + Tại Canada, một đô thị là một vùng có trên 400 người/km2 và tổng số dân phải trên 1. Nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn trong phạm vi 2 km của nhau, các đô thị này được nhập thành một đô thị duy nhất.
Các ranh giới của một đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các khu tự quản (thành phố) hoặc thậm chí là ranh giới tỉnh bang + Tại Trung Quốc, một đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn có mật độ dân số hơn 1.500 người trên một cây số vuông. Đối với các khu thành thị có mật độ dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ dân số sống trong 4 các đường phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là dân số thành thị. + Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây cất (gọi là một "đơn vị thành thị" (unité urbaine). - gần giống như cách định nghĩa của đô thị Bắc Mỹ và các vùng vành đai ngoại ô (couronne périurbaine).
Mặc dù cách dịch chính thức thuật từ aire urbaine của INSEE là "urban area" trong tiếng Anh, đa số người Bắc Mỹ sẽ nhận thấy rằng nó tương tự với định nghĩa về vùng đô thị của mình. [1] Ở Việt Nam, theo nghị định 72/2001/NĐ – CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ, quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí sau: Thứ nhất: Là trung tâm Chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh. Thứ hai: Đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ 4000 người trở lên. Thứ ba: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ 65% trở lên trong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất và dịch vụ thương mại phát triển.
Thứ tư: Có cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị. Thứ năm: Có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/km2 trở lên. Phân loại và phân cấp đô thị Theo điều 4 Nghị định số 72/2001/NĐ – CP - Đô thị được phân làm 6 loại gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V. + Đô thị loại đặc biệt: là thủ đô hoặc đô thị rất lớn với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế 5 xã hội của cả nước.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 90% trở lên, có cơ sở hạ tầng xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh, quy mô dân số từ 1,5 triệu người trở lên, mật độ dân số bình quân từ 15000 người /km2 trở lên. + Đô thị loại I: Là đô thị rất lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – kĩ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong cả nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước. Dân số đô tị có trên 50 vạn người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 85% tổng số lao động của thành phố. Mật độ dân cư bình quân từ 12000 người /km2 trở lên.
Loại đô thị này có tỷ suất hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng kĩ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh [15]. + Đô thị loại II: Là đô thị lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật, du lịch dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu vùng trong tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước. Dân số đô thị có từ 25 vạn đến dưới 1 triệu người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 80% tổng số lao động, mật độ dân cư bình quân từ 10000 người / km2 trở lên, sản xuất hàng hóa phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh [15]. + Đô thị loại III: Là đô thị trung bình lớn, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – kĩ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung, dịch vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh.
Dân số có từ 10 – 25 vạn người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 75% trong tổng số lao động, mật độ dân cư trung bình từ 8000 người / km2trở lên. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới công trình công cộng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh [15]. + Đô thị loại IV: Là đô thị trung bình nhỏ, là trung tâm tổng hợp chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một tỉnh hay một vùng 6 trong tỉnh. Dân cư có từ 5 vạn người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 70% trong tổng số lao động.
Mật độ dân cư từ 6000 người/ km2trở lên. Các đô thị này đã và đang đầu tư xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh từng mặt hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng [15]. + Đô thị loại V: Là những đô thị loại nhỏ, là trung tâm tổng hợp về chính trị, kinh tế, văn hóa và dịch vụ hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp….có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một huyện hoặc một cụm xã. Dân số có từ 4000 người trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp >= 65% trong tổng số lao động.
Mật độ dân số bình quân 2000 người /km2trở lên, đang bắt đầu xây dựng một số công trình công cộng và cơ sở hạ tầng kĩ thuật. Việc xác định quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị chỉ tiến hành trong phạm vi địa giới nội thị. Riêng miền núi, quy mô dân số đô thị loại III có thể quy định tối thiểu từ 8 vạn người, đô thị loại IV từ 2 vạn người và đô thị loại V là 2000 người [15]. - Cấp quản lý đô thị gồm: + Thành phố trực thuộc trung ương.
+ Thành phố thuộc tỉnh; thị xã thuộc tỉnh hoặc thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương. + Thị trấn thuộc huyện. Chức năng của đô thị Đô thị có thể có các chức năng khác nhau tùy theo mỗi giai đoạn phát triển. Bao gồm các chức năng chủ yếu sau: * Chức năng quản lý: tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến nhu cầu chính đáng của cá nhân.
Do đó, Nhà nước phải có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị. * Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị. Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán. Chính 7 yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và CSHT tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hóa.
Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị. * Chức năng xã hội: chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị. Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại,. là những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường.
Chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại,. * Chức năng văn hóa: ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giải trí và giáo dục cao.