Phần mở đầu, tác giả đã nhấn mạnh các vấn đề nghiên cứuđược thể hiện thông qua mục tiêu, các câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Trong chương này, tác giảtrình bày bốn hướng nghiên cứumà trước đây đã khám phá liên quan đến luận án. Cụ thể là các nghiên cứutrên thế giới và tại VNvề ảnh hưởng các đặc điểm của CEO đến chất lượng BCTC và HQĐT; ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT và ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐTvới vai trò điều tiết bởi các đặc điểm của CEO. Trên cơ sở đó, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứucho luận án.2 Tổng quan các nghiên cứuảnh hưởng các đặc điểm của CEO đến chất lượng BCTC Năng lực và hành vi của người lãnh đạo phụ thuộc vào khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp của xã hội nảy sinh trong tổ chức (Yammarino và cộng sự, 2008).
Do đó, cần phải xác định những tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực cần thiết của CEO, bởi họ là người có tầm nhìn, tạo động lực và truyền cảm hứng cho tập thể nhằm đạt mục tiêu của tổ chức.Một số tác giả cho rằng nhà lãnh đạo hàng đầu là CEO hình thành mục đích nhằm đoàn kết tập thể gồm những người tham gia trong một tổ chức và quyết định tiến trình hành động của tổ chức trước những thay đổi nhanh chóng về công nghệ và môi trường (Mackey, 2008), giúp tạo ra văn hóa của tổ chức (Schein, 2010). Tuy nhiên, cũng có thể vì môi trường làm việc, văn hóa tổ chức, tính hợp pháp và cấu trúc ngành của công ty có thể tác động khiến cho CEO bị hạn chế khả năng điều hành(Wasserman và cộng sự, 2010). Vì vậy, việc đánh giá năng lực lãnh đạo có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan đối với nhà quản trị cấp cao. Thông thường, hiệu quả công việc của CEO có thểđo lường bằng nhiều yếu tố, như lợi nhuận hay tăng trưởng doanh thu, thu nhập trên vốn cổ phần, hoặc tăng giá cổ phiếu.
Do đó, các công ty công bố trả quyền chọn cổ phiếu như một cách để gắn lợi ích tài chính của CEO với lợi ích của cổ đông. Bên cạnh đó, CEO cũng rất 24 quan tâm đến BCTC vì các ưu đãi bồi thường của họ gắn chặt với thu nhập được báo cáo. Với nghiên cứu tiên phong của Healy (1985) trong lĩnh vực này đã cung cấp bằng chứng mạnh mẽ việc thao túng thu nhập của CEO có lương, thưởng gắn liền với thu nhập và quyền chọn cổ phiếu (Dechow và cộng sự, 2010). Mặc dù CEO không trực tiếp tham gia vào việc lập BCTC nhưng họ gây áp lực lên CFO để tham gia vào thao túng thông tin kế toán nhằm đáp ứng hoặc đánh bại kỳ vọng của thị trường (Feng và cộng sự, 2011).
Vì vậy, các yếu tố đặc điểm cá nhân của CEO có ảnh hưởng đến quá trình hành động trong tổ chức (Katz, 2009). Kiến thức và kinh nghiệm của CEO có thể giúp họ đáng kể trong việc thực hiện nhiệm vụ điều hành. Tuy nhiên, họ bị giới hạn về khả năng cá nhân và các yếu tố khách quan khác mà có thểchi phối các quyết định của họ(Schoar và Zuo, 2017). Bamber và cộng sự (2010)chứng minh rằng các đặc điểm của CEO được thiết lập tốt thìcó ảnh hưởng đến kết quả tổ chức, trong đó bao gồm cả việc thiết lập thông tin trên BCTC.
Thậm chí việc công khai các thông tin trên BCTC phụ thuộc vào phong cách lãnh đạo của CEO. Họ là người có quyền lực nhất trong việc quyết định thông tin nào và khi nào nên được công bố các thông tin đó(Cheng và Lo, 2006). Việc lựa chọn chính sách kế toán và phương pháp xử lý kế toán cũng bị ảnh hưởng phần lớn bởi đặc điểm của CEO và CFO (Chava và Purnanandam, 2010). Sự sụp đổ của các công ty nổi tiếng đầu những năm 2000 đã chứng minh thêm rằng CEO thực hiện một lượng kiểm soát đáng kể các thông tin trên BCTC.
Bằng chứng cho thấy sự ảnh hưởng đặc điểm của CEO đến chất lượng BCTC là không đồng nhất và thay đổi theo đặc điểm cá nhân của CEO. Phù hợp với điều này, các học giả trong lĩnh vực kế toán gần đây cũng khẳng định thêm rằng các đặc điểm của CEO có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, điều này cũng đóng vai tròquan trọng trong việc hình thành hành vi của CEO (Francis và cộng sự, 2008). Do đó, phần tiếp theo tác giả sẽ trình bày tổng quan nghiên cứutrong nước và trên thế giới về các đặc điểm của CEO gồm tuổi, giới tính, chuyên môn tài chính, nhiệm kỳ và sự kiêm nhiệm của CEO ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Thông qua việc phân tích và tổng hợp, giúp tác giả có cơ sở cho việc đề xuất thiết kế đo lường trong nghiên cứu.
Từ đó tiến hành 25 kiểm định tại thị trường VN nhằm đưa ra các bằng chứng phù hợp với bối cảnh nghiên cứu, với kỳ vọng góp phần cung cấp thông tin hữu ích cho các bên liên quan.1 Nghiên cứuảnh hưởng tuổi của CEO đến chất lượng BCTC Các nghiên cứu trước đâyđãchỉ ra rằng có mối liên hệ tích cực giữa tuổi tác và hành vi đạo đức. Mudrack (1989) lập luận rằng các cá nhân kinh nghiệm có nhiều thời gian hơn đểtiếp xúc với nền văn hóa và phong tục truyền thống và do đó có đạo đức hơn. Hess và cộng sự (2005) kiểm tra sự khác biệt về tuổi tác trong hoạt động nhận thức xã hội đã chứng minh những người lớn tuổi có nhiều khả năng nhận thức hành vi đạo đức hơn người trẻ tuổi. Mở rộng trong lĩnh vực quản trị, TC-KT cũng chứng minh mối liên hệ giữa chất lượng BCTC và tuổi CEO và tồn tại một kết quả đa chiều.CEO lớn tuổi sẽ bảo thủ hơn và trở thành người đạo đức hơn (Chang và cộng sự, 2006).
Đồng thời, họ cũng ít theo đuổi các chiến lược rủi ro vì khả năng tạo ra ý tưởng mới còn hạn chế, họ thường quan tâm đến an ninh tài chính trong tương lai nhiều hơn(Hambrick và Mason, 1984). Trong lĩnh vực đánh giá đạo đức kinh doanh, Loe và cộng sự (2000) cũng kết luận hành vi đạo đức kinh doanh có mối tương quan tích cực với tuổi tác của CEO, cụ thểCEO lớn tuổi thì có đạo đức hơn so CEO trẻ tuổi. Kết quả của dòng quan điểm này cũng được khẳng định bởi lập luận củaHuang và cộng sự (2012). Bằng cách thực hiện phân tích hồi quy trên mẫu 3.413 công ty giai đoạn 2005 - 2008 vànhóm tác giả khẳng định CEO lớn tuổi có đạo đức và thận trọng hơn CEO trẻ tuổi.
Do đó họ sẽ tham gia vào việc quản lý lợi nhuận một cách tích cực dẫn đến chất lượng BCTC tốt hơn,nhằm giảm chi phí vốn và tăng giá trị DN. Ngoài ra, CEO lớn tuổi thì thận trọng và tham gia nhiều vào quản lý lợi nhuậnkhi họ sắp đến tuổi về hưu, vì bị chi phối bởi tiền thưởng dựa trên tỷ lệ lợi nhuận do kết quả hoạt động quản lý của họ mang lại (Davidson và cộng sự, 2007). Tương tự, Schoepfer (2007) chứng minh rằng CEO càng lớn tuổi thì khả năng hành vi sai trái của họ càng ít. Các sai sót trong số liệu tài chính có khả năng vượt qua hệ thống kiểm soát nội bộ dễ bị gây tổn thất và tăng trách nhiệm pháp lý tiềm ẩn.
Vì vậy CEO lớn tuổi được 26 mong đợi nỗ lực hơn nữa để giảm thiểu rủi ro trong kiểm soát nội bộ của công ty. Tuy nhiên, Gibbons và Murphy (1992) chứng minh mối quan tâm nghề nghiệp của CEO sẽ giảm dần khi họ gần nghỉ hưu, do đó các hợp đồng khuyến khích có tác động mạnh nhất đối với họ để duy trì việc quản lý hiệu quả hơn. Đồng thời, phát hiện của tác giả này cũng cho rằng CEO sắp nghỉ hưu sẽ nhận được một tỷ lệ tiền lương hậu thuẫn liên quan đến hiệu quả công việc của họ và cơ cấu trả lương này tăng lên trong những năm cuối gần tuổi về hưu. Điều này có thể càng tăng động lực để họ tham gia vào việc quản lý lợi nhuận.
Trái lại với hai dòng quan điểm trên, những phát hiện sự ảnh hưởng của CEO đối với các chiến lược công bố tự nguyện (Bamber và cộng sự, 2010), chiến lược tránh thuế (Dyreng và cộng sự, 2010) cũng như chiến lược lựa chọn chính sách CBTT BCTC (Ge và cộng sự, 2011) đều cho rằng không nhất thiết bị chi phối bởi các đặc điểm cá nhân của họ. Có nghĩa rằng, họ chưa tìm thấy có bằng chứng chứng minh mối quan hệ này và cho rằng có thể có những yếu tố khác như mạng xã hội hoặc yếu tố tôn giáo tác động đến phong cách lãnh đạo của CEO thay vì yếu tố cá nhân. Tại VN, nghiên cứu của Võ Văn Nhị (2016) phân tích ảnh hưởng của CEO đến chất lượng BCTC cho thấy CEO tuổi càng lớn thì có hành vi đạo đức chín chắn và trưởng thành hơn để lập BCTC với chất lượng cao, họcó trách nhiệm thể hiện vai trò của mình CBTTcho các bên liên quan. Nghiên cứu này phù hợp với xu thế chung là tương quan tích cực giữa tuổi của CEO và chất lượng BCTC.
Tuy nhiên, theo kết quả lược khảo các lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm cho thấy hầu hết các nghiên cứu tại VN chủ yếu là kiểm chứng sự ảnh hưởng tuổi của CEO đến hiệu quả hoạt động hayhiệu quả tài chính, còn hạn chế nghiên cứutác động của tuổi CEO và chất lượng BCTC, do đó cần có nhiều nghiên cứu thực nghiệm mở rộng hơn trong lĩnh vực này.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của nữ CEO đến chất lượng BCTC Trong thập kỷ qua, số lượng nữ giới đã tăng đáng kể tham gia vào nhóm điều hành trong tổ chức. Trước sự gia tăng này, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu xem xét 27 ảnh hưởng của nữ CEO đến các quyết định khác nhau như tài trợ, đầu tư, sáp nhập và mua lại (Huang và Kisgen, 2013). Điển hình dòng nghiên cứu sự khác biệt này đã được kiểm tra rộng rãi trong đạo đức kinh doanh. Họ cho thấy phụ nữ và nam giới thể hiện sự khác nhau về giá trị lợi ích và xu hướng tham gia vào các hành vi kinh doanh phi đạo đức (Gilligan, 1993).
Đàn ông quan tâm đến lợi ích kinh tế và thành công sự nghiệp nhiều hơn. Họ cũng có nhiều khả năng phá vỡ các quy tắc để đạt được thành công đó, trong khi đó phụ nữ nghiêng về các mối quan hệ hài hòa, giúp đỡ người khác và ít có khả năng phi đạo đức (Mason và Mudrack, 1996).