Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (mã số 9340301) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Loan, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Kim Cúc và PGS. Nguyễn Anh Hiền, mang tiêu đề: "Ảnh hưởng các đặc điểm của Giám đốc điều hành đến chất lượng báo cáo tài chính, tác động đến hiệu quả đầu tư của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam".

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng đầu tư là quyết định sử dụng nguồn lực hiện tại nhằm mua tài sản thực hoặc tài sản tài chính để gia tăng thu nhập trong tương lai. Doanh nghiệp cần phân bổ nguồn lực vào các dự án có giá trị hiện tại ròng (NPV) dương và loại bỏ các dự án có NPV âm. Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường không hoàn hảo, tình trạng đầu tư không tối ưu thường xuyên diễn ra dưới hai hình thức: đầu tư quá mức (ĐTQM) và đầu tư dưới mức (ĐTDM). Các doanh nghiệp có nguồn lực tài chính dồi dào dễ dẫn tới nguy cơ ĐTQM (Jensen, 1986; Jiang, 2016), trong khi sự hạn chế tài chính và các ma sát thị trường ngăn cản việc thực hiện các dự án sinh lời, dẫn đến ĐTDM (Myers, 1977; Fazzari và cộng sự, 1987). Bên cạnh đó, hành vi tư lợi của Giám đốc điều hành (CEO) có thể thúc đẩy việc lựa chọn dự án có NPV âm (Hope và Thomas, 2008).

Chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) là nhân tố quan trọng giúp giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin, hạn chế lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức, hỗ trợ nhận diện cơ hội đầu tư (Biddle và cộng sự, 2009), tăng cường vai trò giám sát của Hội đồng quản trị (HĐQT) (Chen và cộng sự, 2011) và giảm chi phí vốn (Bushman và Smith, 2003). Đồng thời, các đặc điểm cá nhân của CEO chi phối trực tiếp đến việc lựa chọn chính sách kế toán, mức độ thao túng lợi nhuận (Dechow và cộng sự, 2010; Habib và Hossain, 2013) và các quyết định phân bổ vốn (Bhuiyan và Hooks, 2019). Tại Việt Nam, báo cáo tháng 12/2017 của Ngân hàng Thế giới (World Bank) phối hợp cùng Bộ Tài chính chỉ ra rằng chất lượng BCTC lập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) chưa cao, thiếu các chuẩn mực tương đương IFRS, mức độ công bố thông tin tự nguyện còn thấp (Trịnh Thị Hợp, 2016) và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư còn lỏng lẻo (Nguyễn Phương Thảo, 2017). Phần lớn nghiên cứu trước đây thực hiện riêng rẽ tại các thị trường phát triển, trong khi sự tác động đồng thời của các đặc điểm CEO đến chất lượng BCTC, hiệu quả đầu tư (HQĐT), đặc biệt là vai trò điều tiết của các đặc điểm CEO trong mối quan hệ giữa chất lượng BCTC và HQĐT tại một thị trường mới nổi như Việt Nam chưa được kiểm chứng toàn diện.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là: kiểm định ảnh hưởng các đặc điểm của CEO đến chất lượng BCTC và HQĐT; kiểm định ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT; đồng thời khám phá và kiểm định ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT với vai trò điều tiết bởi các đặc điểm cá nhân của CEO tại các công ty niêm yết (CTNY) trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam.

Bốn mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Kiểm định và đo lường sự ảnh hưởng các đặc điểm của CEO đến chất lượng BCTC của các CTNY tại Việt Nam.
  2. Kiểm định và đo lường sự ảnh hưởng các đặc điểm của CEO đến HQĐT của các CTNY tại Việt Nam.
  3. Kiểm định và đo lường sự ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT của các CTNY tại Việt Nam.
  4. Kiểm định và đo lường sự ảnh hưởng chất lượng BCTC đến HQĐT với vai trò điều tiết bởi các đặc điểm của CEO.

Tương ứng với các mục tiêu trên, tác giả xác định bốn câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Các đặc điểm của CEO có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các CTNY hay không và mức độ ảnh hưởng của từng đặc điểm của CEO đến từng mô hình đo lường chất lượng BCTC như thế nào?
  • Câu hỏi 2: Các đặc điểm của CEO có ảnh hưởng đến HQĐT của các CTNY hay không và mức độ ảnh hưởng các đặc điểm của CEO đến HQĐT như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Chất lượng BCTC có ảnh hưởng đến HQĐT của các CTNY hay không và mức độ ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT như thế nào?
  • Câu hỏi 4: Chất lượng BCTC có ảnh hưởng đến HQĐT hay không với vai trò điều tiết bởi các đặc điểm của CEO và mức độ ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT với vai trò điều tiết bởi các đặc điểm của CEO được thể hiện như thế nào?

Bốn nhóm giả thuyết nghiên cứu chính được kiểm định trong luận án gồm:

  • Giả thuyết 1: Các đặc điểm của CEO (tuổi, giới tính nữ, nhiệm kỳ, trình độ chuyên môn tài chính – kế toán, sự kiêm nhiệm) có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC.
  • Giả thuyết 2: Các đặc điểm của CEO có ảnh hưởng đến HQĐT (ĐTDM và ĐTQM).
  • Giả thuyết 3: Chất lượng BCTC có ảnh hưởng đến HQĐT (ĐTDM và ĐTQM).
  • Giả thuyết 4: Các đặc điểm của CEO có vai trò điều tiết mối quan hệ giữa chất lượng BCTC và HQĐT.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa các đặc điểm của CEO với chất lượng BCTC và HQĐT; mối quan hệ giữa chất lượng BCTC và HQĐT với vai trò điều tiết bởi các đặc điểm của CEO tại các CTNY trên TTCK Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Luận án loại trừ các công ty thuộc khối ngân hàng, bảo hiểm và dịch vụ tài chính do nhóm này tuân thủ các quy định pháp lý, biểu mẫu trình bày và chính sách kế toán đặc thù.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu giai đoạn 5 năm từ năm 2015 đến năm 2020. Do mô hình có sử dụng các biến trễ nên dữ liệu thực tế được thu thập xuyên suốt từ năm 2014 đến năm 2020. Thời kỳ này đánh dấu bước chuyển biến trong cải cách kế toán Việt Nam theo Thông tư 200/2014/TT-BTC nhằm tiệm cận với các nguyên tắc của IFRS.
  • Phạm vi nội dung: Đo lường năm đặc điểm cá nhân của CEO (tuổi, giới tính nữ, nhiệm kỳ, trình độ chuyên môn tài chính - kế toán, sự kiêm nhiệm); bốn mô hình đo lường gián tiếp chất lượng BCTC qua quản lý lợi nhuận (mô hình chất lượng dồn tích của Dechow và Dichev 2002; mô hình kế toán thận trọng theo Jones 1991 sửa đổi; mô hình sự ổn định của thu nhập và giá trị thích hợp của thu nhập theo Francis và cộng sự 2005); đo lường HQĐT theo mô hình phần dư đầu tư của Biddle và cộng sự (2009) phân loại thành ĐTQM và ĐTDM.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo bốn nhóm nội dung chính:

Thứ nhất, các nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm CEO đến chất lượng BCTC:

  • Về tuổi của CEO: Dòng quan điểm tâm lý học và quản trị cho rằng tuổi tác tỷ lệ thuận với tính đạo đức và sự thận trọng (Mudrack, 1989; Hess và cộng sự, 2005; Chang và cộng sự, 2006). Huang và cộng sự (2012) phân tích mẫu 3.413 công ty giai đoạn 2005-2008 và xác nhận CEO lớn tuổi thận trọng hơn, giảm thiểu sai sót kiểm soát nội bộ (Schoepfer, 2007) và hạn chế rủi ro (Hambrick và Mason, 1984). Tuy nhiên, Gibbons và Murphy (1992) cùng Davidson và cộng sự (2007) lập luận CEO sắp nghỉ hưu có thể chịu áp lực từ các hợp đồng khuyến khích và tiền thưởng dựa trên lợi nhuận nên có động cơ thao túng BCTC. Ngược lại, Bamber và cộng sự (2010), Dyreng và cộng sự (2010), Ge và cộng sự (2011) không tìm thấy mối liên hệ tất yếu. Tại Việt Nam, Võ Văn Nhị (2016) chỉ ra CEO lớn tuổi có xu hướng lập BCTC với chất lượng cao hơn.
  • Về giới tính nữ của CEO: Nhiều tác giả nhận định phụ nữ có xu hướng tuân thủ chuẩn mực đạo đức kinh doanh cao hơn (Gilligan, 1993; Mason và Mudrack, 1996), siêng năng và độc lập hơn (Adams và cộng sự, 2010; Carter và cộng sự, 2003), giúp nâng cao tính minh bạch và chất lượng lợi nhuận (Adams và Ferreira, 2009; Srinidhi và cộng sự, 2011; Gull và cộng sự, 2018). Nữ CEO và CFO ít tham gia vào việc điều chỉnh lợi nhuận (Barua và cộng sự, 2010; Liu và cộng sự, 2016), phát tín hiệu tích cực ra thị trường (Terjesen và cộng sự, 2009). Tại Việt Nam, Võ Văn Nhị (2016) với mẫu 136 CTNY trên HOSE khẳng định CEO nữ tác động tích cực đến chất lượng BCTC; Hoàng Thị Phương Thảo và cộng sự (2020) chỉ ra CEO nữ chấp nhận ít rủi ro hơn. Mặc dù vậy, Sun và cộng sự (2011), Schrand và Zechman (2012), Hili và Affess (2012), Davis và cộng sự (2015) chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về tác động của giới tính CEO đến chất lượng BCTC.
  • Về nhiệm kỳ của CEO: Theo Francis và cộng sự (2008), Ali và Zhang (2015), Baatwah và cộng sự (2015), Zhang và Wiersema (2009), CEO có nhiệm kỳ dài tích lũy được nhiều kinh nghiệm, bảo vệ danh tiếng nghề nghiệp nên hiểu rõ quy trình BCTC, giảm độ trễ kiểm toán (Vafeas, 2009). Tại Việt Nam, Khuong và cộng sự (2017) khảo sát 100 công ty giai đoạn 2011-2014 nhận thấy nhiệm kỳ CEO tương quan thuận với chất lượng lợi nhuận. Dẫu vậy, Salehi và cộng sự (2018), Kamalluarifin (2016), Hazarika và cộng sự (2012) lại chỉ ra nhiệm kỳ dài có thể dẫn đến sự cố thủ và làm tăng độ trễ kiểm toán.
  • Về trình độ chuyên môn tài chính - kế toán (TC-KT): Aier và cộng sự (2005), Matsunaga và Yeung (2008), Cullinan và Roush (2011) cho thấy nhà điều hành có chuyên môn kế toán hoặc tài chính thường cung cấp BCTC thận trọng và ít quản lý lợi nhuận. Tuy nhiên, Geiger và North (2006) hay Jiang và cộng sự (2013) tại thị trường Trung Quốc lại nhận định CEO ít am hiểu nghiệp vụ TC-KT đôi khi dẫn đến BCTC ít bị can thiệp bằng các thủ thuật kế toán dồn tích tùy ý hơn; Mey và de Klerk (2015) không ghi nhận mối quan hệ đáng kể.
  • Về sự kiêm nhiệm của CEO: Sự kiêm nhiệm giữa vị trí CEO và Chủ tịch HĐQT tạo ra quyền lực tập trung lớn, làm suy yếu chức năng giám sát của HĐQT (Laing và Weir, 1999; Krause và cộng sự, 2014), dù góc nhìn lý thuyết quản lý cho rằng kiêm nhiệm giúp ban điều hành thích ứng nhanh chóng với biến động thị trường (Weir và cộng sự, 2002).

Thứ hai, các nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm CEO đến HQĐT:

  • Tuổi tác: Holmström (1999) và Zwiebel (1995) lập luận CEO trẻ lo ngại rủi ro nghề nghiệp nên tránh dự án phức tạp, gây ĐTDM; trong khi Xie (2015) và Gormley và Matsa (2016) cho rằng CEO trẻ hành động thận trọng để khẳng định năng lực. Mặt khác, Serfling (2014), Bliss và Rosen (2001), Zhang và cộng sự (2016) nhận thấy CEO trẻ theo đuổi rủi ro cao, gia tăng R&D và mua lại sáp nhập (M&A). Ở chiều ngược lại, Zhang (2010), Wan và cộng sự (2015) chỉ ra CEO sắp nghỉ hưu làm suy giảm HQĐT; Bertrand và Schoar (2003), Orens và Reheul (2013) ghi nhận CEO lớn tuổi nắm giữ nhiều tiền mặt phòng ngừa. Tại Việt Nam, Lê Hồng Minh và cộng sự (2020) nghiên cứu 78 CTNY giai đoạn 2010-2017 khẳng định CEO lớn tuổi thận trọng và bảo thủ hơn, trong khi giai đoạn mới bổ nhiệm dễ xảy ra ĐTDM.
  • Giới tính: Phụ nữ thường ác cảm với rủi ro hơn nam giới (Charness và Gneezy, 2012; Faccio và cộng sự, 2016), dẫn đến đòn bẩy tài chính thấp và nắm giữ tiền mặt phòng ngừa nhiều hơn (Zeng và Wang, 2015; Tosun và cộng sự, 2022). Huang và Kisgen (2013) chỉ ra CEO nam tự tin thái quá dẫn đến M&A và phát hành nợ quá mức. Tại Việt Nam, Vũ Trọng Hiền (2018) và Hoang và cộng sự (2019) chứng minh công ty do nữ CEO quản lý có chỉ số rủi ro thấp hơn. Tuy nhiên, Croson và Gneezy (2009), Atkinson và cộng sự (2003) không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới trong việc chấp nhận rủi ro đầu tư.
  • Nhiệm kỳ: Hambrick và Fukutomi (1991), Lin và Lin (2014), Simsek (2007) nhận định nhiệm kỳ dài giúp tích lũy chuyên môn, giảm sai lầm đầu tư; trong khi Grimm và Smith (1991), Miller (1991), Yawei và cộng sự (2015) chứng minh mối quan hệ hình chuông, theo đó nhiệm kỳ quá dài dẫn đến sự trì trệ trong hoạt động đầu tư và cắt giảm R&D.
  • Chuyên môn TC-KT: Barker III và Mueller (2002), Custódio và Metzger (2014), Trueman (1986), Jian và Lee (2011) khẳng định CEO có kiến thức TC-KT nhận diện cơ hội đầu tư chuẩn xác hơn và giảm thiểu sai lệch vốn; trái lại, Güner và cộng sự (2008) chỉ ra việc thiếu chuyên môn kỹ thuật ngành nghề cụ thể có thể làm giảm hiệu quả dự án.
  • Sự kiêm nhiệm: Shleifer và Vishny (1989), Shin và Stulz (1998), Duchin và Sosyura (2013), Aktas và cộng sự (2019) chứng minh CEO kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT dễ sa vào các dự án cá nhân nhằm phục vụ lợi ích riêng ("pet projects"), gây phân bổ sai lệch vốn và dẫn tới ĐTQM.

Thứ ba, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng BCTC và HQĐT: Các công trình thực nghiệm quốc tế của McNichols và Stubben (2008), Biddle và cộng sự (2009), Chen và cộng sự (2011), Gomariz và cộng sự (2014), Elaoud và Jarboui (2017), Houcine (2017), Cho và Kang (2019) đều khẳng định thông tin BCTC chất lượng cao giúp nhà quản lý ra quyết định phân bổ vốn tối ưu và hỗ trợ cổ đông giám sát các quyết định này. Tại Việt Nam, Trần Thị Thùy Linh và cộng sự (2015) cùng Nguyễn Ngọc Quỳnh (2017) ghi nhận chất lượng BCTC nâng cao HQĐT.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các mối quan hệ đơn lẻ đã được khảo sát ở nhiều mức độ, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào các thị trường phát triển. Tại thị trường chứng khoán Việt Nam - một nền kinh tế chuyển đổi có mức độ bảo vệ nhà đầu tư còn thấp, văn hóa quản trị mang tính đặc thù và cơ chế bổ nhiệm CEO có nhiều điểm biệt lập - việc kiểm chứng đồng thời ảnh hưởng của các đặc điểm cá nhân CEO đến cả chất lượng BCTC và HQĐT là một khoảng trống lớn. Đặc biệt, luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống then chốt: khám phá và kiểm định vai trò điều tiết của các đặc điểm cá nhân của CEO (tuổi, nữ CEO, nhiệm kỳ, chuyên môn TC-KT, sự kiêm nhiệm) lên mối quan hệ tác động giữa chất lượng BCTC và HQĐT dưới cả hai trạng thái ĐTQM và ĐTDM.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên bốn lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết đại diện (Agency Theory - Jensen và Meckling, 1976): Giải thích mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu (cổ đông) và người quản lý (CEO). CEO có thể theo đuổi lợi ích cá nhân, thực hiện hành vi thao túng BCTC hoặc phân bổ vốn vào các dự án không hiệu quả nhằm bành trướng quy mô doanh nghiệp. Lý thuyết này ủng hộ sự tách bạch giữa vai trò CEO và Chủ tịch HĐQT để nâng cao tính độc lập và hiệu quả giám sát.
  2. Lý thuyết quản lý (Stewardship Theory - Donaldson và Davis, 1991, 1994): Nhìn nhận nhà quản lý là những người quản trị tài sản trung thành, có động lực nội tại gắn liền với sự phát triển của tổ chức. Lý thuyết này cho rằng khi CEO được trao quyền tự quyết cao (bao gồm sự kiêm nhiệm và nhiệm kỳ dài), họ có xu hướng hành động vì mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.
  3. Lý thuyết quản lý cấp cao (Upper Echelon Theory - Hambrick và Mason, 1984; Hambrick và Finkelstein, 1987): Cho rằng các quyết định chiến lược và kết quả hoạt động của tổ chức phản ánh giá trị, nhận thức và nền tảng tâm lý - xã hội của các nhà lãnh đạo hàng đầu. Các đặc điểm nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính, nhiệm kỳ và nền tảng học vấn TC-KT quyết định cách thức CEO tiếp nhận thông tin, đánh giá rủi ro và lựa chọn chính sách kế toán cũng như dự án đầu tư.
  4. Lý thuyết tín hiệu (Signalling Theory): Giả định rằng trong điều kiện bất cân xứng thông tin, việc phát hành BCTC chất lượng cao đóng vai trò là tín hiệu phát ra thị trường để chứng minh năng lực quản lý và triển vọng phát triển của doanh nghiệp, giúp thu hút vốn đầu tư với chi phí thấp hơn (Terjesen và cộng sự, 2009; Zhang và Wiersema, 2009).

Phương pháp nghiên cứu thực tế: Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng:

  • Phương pháp định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu các chuyên gia (theo danh sách tại Phụ lục 7 và nội dung phỏng vấn tại Phụ lục 8). Dữ liệu phỏng vấn được tổng hợp và phân tích nhằm khẳng định sự phù hợp thực tiễn của các mối quan hệ giữa các biến, lựa chọn năm đặc điểm cá nhân của CEO phù hợp với bối cảnh Việt Nam và hoàn thiện các thang đo, mô hình nghiên cứu đề xuất.
  • Phương pháp định lượng:
    • Dữ liệu: Thu thập từ dữ liệu thứ cấp của 653 công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE và HNX xuyên suốt giai đoạn 2014-2020.
    • Công cụ phân tích: Phần mềm Stata.
    • Quy trình phân tích:
      • Bước 1: Ứng dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) để ước lượng bốn mô hình đo lường chất lượng BCTC và mô hình đo lường HQĐT. Giá trị phần dư thu được từ mô hình HQĐT của Biddle và cộng sự (2009) được phân vị thành ba nhóm: nhóm đầu tư dưới mức (ĐTDM - phần dư âm nằm ở tứ phân vị thấp nhất), nhóm đầu tư quá mức (ĐTQM - phần dư dương nằm ở tứ phân vị cao nhất) và nhóm điểm chuẩn (đầu tư hiệu quả).
      • Bước 2: Sử dụng mô hình hồi quy đa thức biến giả (Multinomial Logistic Regression) để kiểm định các giả thuyết về tác động của đặc điểm CEO, chất lượng BCTC và vai trò điều tiết của đặc điểm CEO đối với trạng thái ĐTDM và ĐTQM so với nhóm điểm chuẩn.
      • Thực hiện các kiểm định chẩn đoán mô hình bao gồm: kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bằng nhân tử phóng đại phương sai (VIF), kiểm định phương sai sai số thay đổi và kiểm định tự tương quan.

Bảng tổng hợp các biến và mô hình đo lường chính của luận án:

Tên biến / Nhóm biến Ký hiệu / Mô hình kế thừa Diễn giải cách thức đo lường trong luận án
Đặc điểm của CEO
Tuổi CEO AGE Số tuổi thực tế tính đến năm nghiên cứu
Giới tính CEO FEMALE Biến giả nhận giá trị 1 nếu là nữ, 0 nếu là nam
Nhiệm kỳ CEO TENURE Số năm liên tục đảm nhiệm vị trí CEO tại công ty
Chuyên môn TC-KT EXPERTISE Biến giả nhận giá trị 1 nếu có bằng cấp/chuyên môn TC-KT, 0 nếu không
Sự kiêm nhiệm DUALITY Biến giả nhận giá trị 1 nếu CEO kiêm Chủ tịch HĐQT, 0 nếu tách biệt
Chất lượng BCTC Đo lường gián tiếp qua 4 mô hình kế toán và thị trường
Chất lượng dồn tích Dechow & Dichev (2002) Phần dư từ hồi quy biến động vốn lưu động theo dòng tiền kinh doanh trễ, hiện tại và tương lai
Kế toán thận trọng Jones (1991) sửa đổi Phần dư từ hồi quy tổng biến phí dồn tích theo biến động doanh thu, nợ phải thu và tài sản cố định (PPE)
Tính ổn định thu nhập Francis và cộng sự (2005) Đo lường độ biến động của thu nhập thuần trước các khoản bất thường
Giá trị thích hợp Francis và cộng sự (2005) Đo lường hệ số xác định ($R^2$) từ hồi quy tỷ suất sinh lời cổ phiếu theo thu nhập trên mỗi cổ phần
Chỉ số tổng hợp FRQ Index Chỉ số trung bình chuẩn hóa của các thước đo chất lượng BCTC
Hiệu quả đầu tư Biddle và cộng sự (2009) Phần dư từ hồi quy quy mô đầu tư theo cơ hội tăng trưởng (tỷ lệ Q của Tobin)
Đầu tư dưới mức Under-investment (ĐTDM) Nhóm phần dư âm thuộc tứ phân vị thấp nhất
Đầu tư quá mức Over-investment (ĐTQM) Nhóm phần dư dương thuộc tứ phân vị cao nhất

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế về bốn trụ cột nội dung: (1) ảnh hưởng của các đặc điểm CEO (tuổi tác, giới tính, nhiệm kỳ, chuyên môn TC-KT, kiêm nhiệm) đến chất lượng BCTC; (2) ảnh hưởng của các đặc điểm CEO đến HQĐT; (3) ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT; và (4) ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT dưới vai trò điều tiết của các đặc điểm CEO. Tác giả phân tích các luồng quan điểm trái chiều trong học thuật và làm rõ vị trí của luận án: trong khi các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận tác động của chất lượng BCTC đến hiệu quả tài chính hoặc hoạt động doanh nghiệp nói chung, thì việc kết hợp yếu tố quản trị nhân khẩu học của CEO và đánh giá đa chiều trên cả hai kịch bản ĐTQM và ĐTDM vẫn còn là khoảng trống chưa được giải quyết.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 trình bày khung lý thuyết nền tảng gồm lý thuyết đại diện, lý thuyết quản lý, lý thuyết tín hiệu và lý thuyết quản lý cấp cao. Luận án phân tích bối cảnh thể chế của Việt Nam, sự phát triển của TTCK từ năm 2009 đến 2018 (sử dụng dữ liệu World Bank 2020), khung khổ pháp lý về quản trị công ty niêm yết và hướng dẫn công bố thông tin theo Thông tư 200/2014/TT-BTC. Tác giả thiết lập bốn khung lý thuyết mô tả đường dẫn tác động: Hình 2.2 thể hiện khung tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng BCTC; Hình 2.3 thể hiện khung tác động của đặc điểm CEO đến HQĐT; và Hình 2.4 thể hiện khung lý thuyết về vai trò điều tiết của các đặc điểm CEO lên mối quan hệ giữa chất lượng BCTC và HQĐT.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu đề xuất (Hình 3.1), quy trình nghiên cứu định tính (Hình 3.2), mô hình nghiên cứu đề xuất (Hình 3.3) và quy trình nghiên cứu định lượng (Hình 3.4). Tác giả chi tiết hóa các câu hỏi và kết quả phỏng vấn chuyên gia tại các phụ lục (Phụ lục 5, 7, 8) nhằm tinh chỉnh các biến đo lường và phát triển bốn nhóm giả thuyết nghiên cứu (Phụ lục 9). Luận án giải thích quy trình chọn mẫu bao gồm 653 công ty phi tài chính trên HOSE và HNX giai đoạn 2014-2020, định nghĩa chi tiết các biến độc lập, biến phụ thuộc, biến điều tiết và biến kiểm soát (quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời ROA, dòng tiền tự do, cơ hội tăng trưởng MTB). Kỹ thuật phân tích kết hợp hai bước giữa OLS trích xuất phần dư và hồi quy đa thức biến giả Multinomial logistic được mô tả đầy đủ.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 4 công bố kết quả thực nghiệm với các bảng phân tích cụ thể: Thống kê mô tả (Bảng 4.1), Ma trận tương quan (Bảng 4.2), Kiểm định nhân tử phóng đại phương sai VIF (Bảng 4.3), Kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi (Bảng 4.4). Kết quả hồi quy được trình bày qua các bảng chi tiết:

  • Bảng 4.5: Kết quả phân tích ảnh hưởng các đặc điểm CEO đến chất lượng BCTC. Kết quả ghi nhận tác động đa chiều của năm đặc điểm CEO tùy thuộc vào từng mô hình đo lường kế toán hay thị trường.
  • Bảng 4.6: Kết quả phân tích ảnh hưởng đặc điểm của CEO đến HQĐT. Trình độ chuyên môn TC-KT có ảnh hưởng tích cực đến ĐTDM; tuổi CEO có ảnh hưởng tích cực đến ĐTQM; sự kiêm nhiệm của CEO có ảnh hưởng tiêu cực đến ĐTQM.
  • Bảng 4.7a và Bảng 4.7b: Kết quả phân tích ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến ĐTDM và ĐTQM. Kết quả chỉ ra các mô hình đo lường chất lượng BCTC không có tác động cải thiện tình trạng ĐTDM. Tuy nhiên, đối với ĐTQM, chất lượng dồn tích, kế toán thận trọng và chỉ số trung bình chất lượng BCTC có tác động cải thiện đáng kể tình trạng ĐTQM.
  • Bảng 4.8a và Bảng 4.8b: Kết quả ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến ĐTDM và ĐTQM với vai trò điều tiết của các đặc điểm CEO. Đáng chú ý, chất lượng BCTC cải thiện ĐTQM khi có sự tham gia quản lý của nữ CEO và CEO có trình độ chuyên môn TC-KT. Đặc biệt, nhiệm kỳ CEO đóng vai trò điều tiết cải thiện cả hai trạng thái ĐTDM và ĐTQM.
  • Bảng 4.9: Tổng hợp dấu tác động và kết luận kiểm định giả thuyết của toàn bộ mô hình.

Bảng tổng hợp dấu tác động kiểm định giả thuyết chính của luận án:

Quan hệ kiểm định Biến tác động / Biến điều tiết Tác động đến ĐTDM Tác động đến ĐTQM Kết luận giả thuyết
Đặc điểm CEO $\rightarrow$ HQĐT Tuổi CEO (AGE) Không có ý nghĩa Tích cực (+) Chấp nhận một phần
Giới tính nữ (FEMALE) Không có ý nghĩa Không có ý nghĩa Không chấp nhận
Nhiệm kỳ (TENURE) Không có ý nghĩa Không có ý nghĩa Không chấp nhận
Chuyên môn TC-KT (EXPERTISE) Tích cực (+) Không có ý nghĩa Chấp nhận một phần
Sự kiêm nhiệm (DUALITY) Không có ý nghĩa Tiêu cực (-) Chấp nhận một phần
Chất lượng BCTC $\rightarrow$ HQĐT Chất lượng dồn tích Không cải thiện Cải thiện (-) Chấp nhận một phần
Kế toán thận trọng Không cải thiện Cải thiện (-) Chấp nhận một phần
Chỉ số FRQ tổng hợp Không cải thiện Cải thiện (-) Chấp nhận một phần
Vai trò điều tiết của CEO Nữ CEO $\times$ Chất lượng BCTC Không có ý nghĩa Cải thiện (-) Chấp nhận một phần
Chuyên môn $\times$ Chất lượng BCTC Không có ý nghĩa Cải thiện (-) Chấp nhận một phần
Nhiệm kỳ $\times$ Chất lượng BCTC Cải thiện (+) Cải thiện (-) Chấp nhận

Chương 5: Kết luận và hàm ý

Dựa trên kết quả thực nghiệm, Chương 5 đúc kết các kết luận chính và xây dựng hệ thống hàm ý quản trị cho các bên liên quan nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin tài chính và kiểm soát hành vi đầu tư của doanh nghiệp. Chương này cũng phân tích các hạn chế của nghiên cứu và xác định định hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam xây dựng mô hình kiểm định ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến HQĐT của các công ty niêm yết với vai trò điều tiết của các đặc điểm cá nhân của CEO.
  • Làm rõ và hệ thống hóa các khái niệm, mô hình đo lường chất lượng BCTC (dồn tích, thận trọng, ổn định thu nhập, giá trị thích hợp) và mô hình đo lường HQĐT trên cơ sở kế thừa các chuẩn mực nghiên cứu quốc tế trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định các đặc điểm cá nhân của CEO chi phối đến HQĐT tại một nền kinh tế mới nổi - nơi cơ chế đề cử, bổ nhiệm và mục tiêu hoạt động của CEO có nhiều điểm khác biệt so với các thị trường phát triển.
  • Bổ sung vào hệ thống lý thuyết quản lý cấp cao, lý thuyết quản lý, lý thuyết đại diện và lý thuyết tín hiệu bằng việc chỉ ra rằng các động lực tài chính và phi tài chính (danh tiếng, nhiệm kỳ kéo dài) thúc đẩy CEO hành động vì lợi ích chung, duy trì chất lượng BCTC và tối ưu hóa việc phân bổ vốn đầu tư.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị, giải pháp:

  • Kết quả chỉ ra tình trạng ĐTDM tại các CTNY Việt Nam không chịu tác động bởi chất lượng BCTC. Điều này phản ánh thực tế tại các thị trường mới nổi, các doanh nghiệp gặp rào cản lớn trong việc tiếp cận nguồn vốn tài trợ bên ngoài, hoặc chất lượng BCTC công bố chưa đạt đủ độ tin cậy để các tổ chức tín dụng và nhà đầu tư giải ngân vốn khắc phục tình trạng thiếu hụt đầu tư. Do đó, quyết định đầu tư phụ thuộc nhiều hơn vào cơ chế quản trị nội bộ và năng lực của CEO.
  • Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý thị trường (Bộ Tài chính, UBCKNN): Cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng pháp lý, đẩy nhanh lộ trình áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) thay thế cho VAS nhằm nâng cao tính minh bạch, tính so sánh và độ tin cậy của thông tin kế toán; nâng cao hiệu lực chế tài xử phạt hành vi công bố thông tin sai lệch và bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số.
  • Khuyến nghị đối với Hội đồng quản trị và doanh nghiệp niêm yết:
    • Cần hoàn thiện cơ chế đánh giá, tuyển dụng và bổ nhiệm CEO: ưu tiên các ứng viên có trình độ chuyên môn TC-KT để nâng cao chất lượng lập dự toán và nhận diện cơ hội đầu tư; xem xét lợi thế của các CEO nữ trong việc thận trọng kiểm soát rủi ro ĐTQM.
    • Thiết lập chính sách nhiệm kỳ hợp lý: duy trì nhiệm kỳ đủ dài để CEO phát huy kinh nghiệm và sự gắn kết chiến lược, qua đó phát huy vai trò cải thiện cả tình trạng ĐTDM lẫn ĐTQM.
    • Tách biệt chức danh CEO và Chủ tịch HĐQT nhằm giảm thiểu sự tập trung quyền lực cá nhân, củng cố tính độc lập của HĐQT trong việc giám sát hành vi phân bổ vốn vào các dự án không hiệu quả.
    • Xây dựng hệ thống đãi ngộ và bồi thường linh hoạt, kết hợp thù lao cố định với các khoản thưởng gắn chặt với hiệu quả hoạt động dài hạn thay vì chỉ dựa vào lợi nhuận kế toán ngắn hạn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi đối tượng khảo sát của luận án chỉ bao gồm các công ty phi tài chính niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX; chưa mở rộng sang các doanh nghiệp trên sàn UPCoM cũng như khối tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán) do sự khác biệt về chế độ kế toán và quy định pháp lý.
  • Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở giai đoạn 2015-2020 (dữ liệu thu thập từ 2014), chưa phản ánh những biến động thị trường và các thay đổi pháp lý sau năm 2020.
  • Luận án tiếp cận đo lường chất lượng BCTC theo phương pháp gián tiếp thông qua các mô hình điều chỉnh lợi nhuận dồn tích và thước đo thị trường, chưa kết hợp đánh giá các thuộc tính định tính trực tiếp của thông tin công bố.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng mẫu nghiên cứu sang các công ty đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM và các định chế tài chính bằng các mô hình đo lường chuyên biệt cho ngành ngân hàng và dịch vụ tài chính.
  • Kéo dài chuỗi thời gian dữ liệu sang các năm gần nhất để kiểm chứng sự ổn định của mô hình trong bối cảnh các quy định mới về quản trị công ty đại chúng được thực thi.
  • Khảo sát bổ sung các đặc điểm quản trị khác như tính độc lập của HĐQT, đặc điểm của Ủy ban kiểm toán, hoặc các thuộc tính tâm lý cá nhân không quan sát được của nhà quản lý.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án cung cấp một tài liệu tham khảo hoàn chỉnh về cách thức kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn chuyên gia) và định lượng (kết hợp OLS và hồi quy đa thức biến giả Multinomial logistic) trong lĩnh vực Kế toán và Tài chính; đồng thời cung cấp khung tổng quan tài liệu có hệ thống về các mô hình đo lường quản lý lợi nhuận và hiệu quả đầu tư.
  • Đối với Hội đồng quản trị và cổ đông các doanh nghiệp niêm yết: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về việc lựa chọn nhân sự điều hành (trình độ chuyên môn, nhiệm kỳ, giới tính) và cơ cấu tổ chức (tách biệt vị trí kiêm nhiệm) nhằm kiểm soát các sai lệch đầu tư và bảo toàn nguồn vốn của cổ đông.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ công tác giám sát thị trường chứng khoán, định hướng cải cách chuẩn mực kế toán và xây dựng các quy chế quản trị công ty đại chúng minh bạch hơn.
  • Phần đáng tham khảo nhất của luận án là quy trình xử lý phần dư mô hình đầu tư theo tứ phân vị để phân loại ĐTQM và ĐTDM kết hợp với kỹ thuật hồi quy đa thức biến giả, cùng hệ thống các bảng phụ lục tổng hợp chi tiết mô hình đo lường biến.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng những mô hình nào để đo lường chất lượng báo cáo tài chính?
Luận án tiếp cận theo hướng đo lường gián tiếp thông qua việc điều chỉnh lợi nhuận, kết hợp bốn mô hình: ba mô hình dựa trên dữ liệu kế toán (mô hình chất lượng dồn tích của Dechow và Dichev 2002; mô hình kế toán thận trọng theo Jones 1991 sửa đổi; mô hình sự ổn định của thu nhập của Francis và cộng sự 2005) và một mô hình dựa trên dữ liệu thị trường (mô hình giá trị thích hợp của thu nhập của Francis và cộng sự 2005), cùng một chỉ số trung bình chuẩn hóa tổng hợp (FRQ Index).

2. Quy mô mẫu và tiêu chuẩn lựa chọn doanh nghiệp trong nghiên cứu định lượng là gì?
Nghiên cứu sử dụng mẫu gồm 653 công ty phi tài chính niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán HOSE và HNX trong giai đoạn 2015-2020 (dữ liệu thu thập từ năm 2014 đến 2020 do tính biến trễ). Các doanh nghiệp thuộc ngành ngân hàng, bảo hiểm và dịch vụ tài chính bị loại trừ do áp dụng chuẩn mực và quy định kế toán đặc thù.

3. Vì sao chất lượng báo cáo tài chính không có tác động cải thiện tình trạng đầu tư dưới mức tại các công ty niêm yết Việt Nam?
Kết quả thực nghiệm cho thấy chất lượng BCTC không cải thiện tình trạng ĐTDM. Tác giả giải thích rằng tại một thị trường mới nổi như Việt Nam, các doanh nghiệp gặp rào cản lớn trong việc tiếp cận các nguồn tài trợ bên ngoài và độ tin cậy của thông tin BCTC chưa đủ mạnh để thu hút dòng vốn giải ngân cho các dự án bị đình trệ. Quyết định đầu tư trong trường hợp này chịu sự chi phối mạnh hơn từ các nhân tố quản trị nội bộ hoặc quyết định trực tiếp của HĐQT.

4. Đặc điểm nào của CEO có tác động trực tiếp và điều tiết trong việc hạn chế đầu tư quá mức?
Về tác động trực tiếp, sự kiêm nhiệm của CEO có tác động tiêu cực đến ĐTQM (nghĩa là giảm bớt mức độ ĐTQM trong một số điều kiện), trong khi tuổi CEO có tương quan dương với ĐTQM. Về vai trò điều tiết, chất lượng BCTC phát huy tác dụng cải thiện tình trạng ĐTQM rõ nét nhất khi doanh nghiệp được điều hành bởi nữ CEO, CEO có trình độ chuyên môn TC-KT, và đặc biệt là CEO có nhiệm kỳ công tác kéo dài.

5. Luận án sử dụng kỹ thuật kinh tế lượng nào để kiểm định các giả thuyết về đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức?
Tác giả sử dụng phương pháp OLS để ước lượng mô hình đầu tư của Biddle và cộng sự (2009), sau đó trích xuất giá trị phần dư và phân loại theo tứ phân vị thành ba nhóm: ĐTDM (nhóm phần dư âm thấp nhất), ĐTQM (nhóm phần dư dương cao nhất) và nhóm điểm chuẩn (đầu tư hiệu quả). Tiếp đó, mô hình hồi quy đa thức biến giả (Multinomial Logistic Regression) được áp dụng trên phần mềm Stata để so sánh đồng thời nguy cơ rơi vào trạng thái ĐTDM hoặc ĐTQM so với nhóm chuẩn.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Loan là một công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về mối quan hệ giữa các đặc điểm nhân khẩu học của CEO, chất lượng BCTC và hiệu quả đầu tư tại 653 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2015-2020. Bằng việc kết hợp phương pháp định tính và kỹ thuật hồi quy đa thức biến giả, nghiên cứu khẳng định các đặc điểm của CEO (tuổi, giới tính nữ, nhiệm kỳ, chuyên môn TC-KT, sự kiêm nhiệm) có tác động đa chiều đến chất lượng BCTC và HQĐT, đồng thời đóng vai trò điều tiết quan trọng trong việc hạn chế tình trạng ĐTQM. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn hữu ích cho việc hoàn thiện cơ chế quản trị công ty, tuyển chọn nhân sự điều hành và định hướng chính sách nâng cao tính minh bạch của thị trường chứng khoán Việt Nam.