Chương 1: Tổng quan sẽ giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi thực hiện, phương pháp thực hiện và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết sẽ giới thiệu các lý thuyết, mô hình nghiên cứu về các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến hiệu quả chia sẻ chuyển giao tri thức. -4- Chương 3: Thực trạng về Công ty SVN sẽ giới thiệu về tình hình hoạt động cũng như một số vấn đề cần giải quyết của công ty SVN liên quan tới văn hóa công ty và việc chia sẻ chuyển giao tri thức. Chương 4: Phương pháp thực hiện sẽ giới thiệu về việc thiết kế nghiên cứu, xây dựng mô hình chính thức, công cụ thu thập dữ liệu, công cụ thống kê dùng phân tích xử lý dữ liệu.
Chương 5: Kết quả phân tích dữ liệu sẽ trình bày việc kiểm định thang đo, phân tích diễn giải các dữ liệu thu được từ cuộc khảo sát và các kết quả thống kê. Chương 6: Đề xuất giải pháp sẽ trình bày một số giải pháp có thể áp dụng đối với công ty SVN. Chương 7: Kết luận và kiến nghị sẽ tóm lược các kết quả chính cũng như ý nghĩa và một số hạn chế, kiến nghị. -5- CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Các khái niệm liên quan. Khái niệm v Đầu tư trực tiếp nước ngo i (FDI) Theo định nghĩa của tổ chức thương mại thế giới: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty” (Wikipedia, 2014). Như vậy, Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Định nghĩa v phân loại tri thức Có nhiều định nghĩa khác nhau về Quản lý tri thức (QLTT), tùy góc nhìn (trích Phạm Quốc Trung, 2011): - Từ góc nhìn kinh doanh: QLTT là một hoạt động kinh doanh với 2 khía cạnh chính: xem tri thức như là quan tâm chính, thể hiện ở chiến lược, chính sách, và thực tế kinh doanh ở mọi cấp độ của tổ chức; và thiết lập kết nối giữa tài sản trí tuệ của tổ chức với kết quả hoạt động kinh doanh.
- Từ góc nh n của khoa học nhận thức: Tri thức - tầm nhìn, hiểu biết, và kinh nghiệm mà chúng ta sở hữu - là tài nguyên căn bản giúp ta có thể hoạt động một cách thông minh. Tri thức tích lũy có thể chuyển giao, nếu được sử dụng hợp lý, sẽ làm tăng hiệu quả, và tạo ra sự thông minh của cá nhân/tổ chức. -6- - Từ góc nh n công nghệ: QLTT là khái niệm gắn liền với hệ thống thông tin, mà nhờ đó thông tin được chuyển thành tri thức hành động và được chuyển giao nhanh chóng dưới dạng sử dụng được đến những người đang cần. Có nhiều phương pháp phân loại tri thức.
Tuy nhiên phổ biến nhất là phân loại tuỳ theo mức độ hiện hữu: tri thức ẩn và tri thức hiện. Polanyi (1966) định nghĩa tri thức ẩn là loại tri thức không thể hiện bằng lời, mang tính trực giác, và không rõ ràng. Tri thức ẩn phụ thuộc rất lớn vào ngữ cảnh mà nó tồn tại, đồng thời phụ thuộc vào cá nhân cụ thể và do vậy khó được chính thức hoá và truyền đạt (Nonaka, 1994). Ví dụ về tri thức ẩn bao gồm sự hiểu biết, trực giác, và linh cảm chủ quan.
Ngược lại, tri thức hiện là tri thức có thể được mã hoá, thể hiện rõ ràng, và dễ truyền đạt thông qua lời lẽ hay con số. Loại tri thức này được chia sẻ dưới hình thức dữ liệu ‘cứng’, công thức, và quy tắc. Trong tổ chức, tri thức hiện nằm trong các chính sách, hệ thống, hướng dẫn, và thủ tục. Tri thức ẩn và tri thức hiện phụ thuộc lẫn nhau, mặc dù chúng là hai loại tri thức khác nhau.
Tuy nhiên, cũng không tồn tại một biên giới rõ ràng giữa hai loại tri thức này. Do đặc tính dễ truyền đạt nên tri thức hiện dễ bị sao chép. Cũng chính vì vậy, tri thức ẩn có xu hướng tạo ra lợi thế cạnh tranh nhiều hơn, bởi vì nó đáp ứng được yêu cầu ‘khó bắt chước’ trong số các tiêu thức để tạo ra lợi thế cạnh tranh do Barney (1991) đề ra. Theo ông, chỉ có những nguồn lực khan hiếm, có giá trị, không thể bắt chước, và không thể thay thế mới là nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp.
Các h nh thức chia sẻ, chuyển giao tri thức.1: Các hình thức chia sẻ, chuyển giao tri thức (Theo Nonaka, I & Takeuchi, H (1995)) Việc trao đổi tri thức bao gồm các hoạt động chia sẻ được diễn ra theo 4 hình thức như sau: - Khi người chia sẻ và người tiếp nhận giao tiếp trực tiếp với nhau (ví dụ: học nghề, giao tiếp, giảng bài.) thì việc tiếp nhận này là từ tri thức ẩn -> tri thức ẩn. Tri thức từ người này không qua trung gian mà chuyển ngay thành tri thức của người kia. Đây chính là quá trình xã hội hóa. Đối với người nhận là sự thấu cảm.
- Nhưng anh ta mã hóa tri thức của mình ra thành văn bản hay các hình thức hiện hữu khác thì đó lại là quá trình ngoại xuất (ví dụ: diễn giải các kinh nghiệm, viết ra các bài học. Đối với người nhận thì đó chính là quá trình diễn giải rõ ràng. - Khi ghép các tri thức hiện đã có lại với nhau tạo ra tri thức mới thì đó chính là quá trình kết hợp tri thức hiện (ví dụ: tập hợp các kinh nghiệm để ra cách làm mới, tổng hợp. Đối với người nhận đó là quá trình kết nối.
- Khi tri thức hiện bên ngoài là tri thức chung được người nhận tiếp nhận và biến thành tri thức riêng của mình thì đó là quá trình nội nhập (ví dụ: học tập, đọc sách, xem băng mô phỏng. Đây gọi là quá trình nhập tâm. Chúng ta coi tri thức là sức mạnh. Mỗi người đều muốn giữ một cái gì đó là điểm mạnh của riêng mình, không muốn chia sẻ với người khác.
Do vậy, điều -8- tiên quyết của quản trị tri thức là phải tạo ra môi trường hay văn hóa chia sẻ tri thức trong nội bộ. Điều này nói thì dễ nhưng thực hiện không dễ chút nào. Vai trò của người lãnh đạo cực kỳ quan trọng trong việc tạo một môi trường như vậy. Không chỉ khuyến khích, ghi nhận việc chia sẻ tri thức, nhà quản lý phải chủ động tham gia chia sẻ tri thức một cách tích cực bên cạnh việc hướng nhân viên cùng phát triển các nguồn tri thức nội bộ.
Quá trình này không chỉ làm giàu tri thức của các cá nhân mà còn là động lực cho việc không ngừng học hỏi. Trên thực tế, , trong các tổ chức mà môi trường làm việc là môi trường cạnh tranh thì các thành viên sẽ không chia sẻ tri thức đặc biệt là những tri thức ngầm trong mỗi người. Như vậy, tổ chức sẽ thiệt hại khi nhân viên vì một lý do nào đó ra đi. Vì tri thức ẩn chưa được chia sẻ sẽ theo họ ra đi.
Tuy nhiên trong nhiều tổ chức cũng có nhiều cá nhân sẵn sàng chia sẻ tri thức và đón nhận tri thức từ người khác, nhưng đôi khi họ không biết phải chia sẻ với ai, khi nào cần chia sẻ và chia sẻ như thế nào. Như vậy, cần một cơ chế để tri thức được nuôi dưỡng, chia sẻ, phát triển và sử dụng phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Cơ chế này cũng phải thể hiện sự ghi nhận, tưởng thưởng (có thể vật chất hay tinh thần) đối với việc chia sẻ (của các cá nhân hay bộ phận). Về hình thức, cơ chế có thể được thể hiện dưới dạng các quy trình hay hướng dẫn, được công bố rộng rãi trong toàn tổ chức.
L thuyết v chia sẻ & chuyển giao tri thức. Chia sẻ tri thức là quá trình chuyển giao tri thức (nhất là tri thức ẩn) từ người này sang người khác, ở cấp độ cá nhân (trao đổi) hay tập thể (đào tạo huấn luyện). Nó là một giai đoạn quan trọng của chu trình Quản lý tri thức (QLTT), nó đảm bảo cho sự thành công của QLTT, nó giúp cho tri thức ẩn có thể được nắm bắt và chia sẻ trong toàn bộ tổ chức. Tri thức đã được công nhận là tài nguyên chính của tổ chức (Drucker 1992).
Phân phối tri thức sáng tạo, chuyển giao, khai thác sẽ ngày càng quan trọng đối với sự tồn tại và thành công của các tập đoàn đa quốc gia và xã hội (Hedlund và ctg. Do đó công ty đa quốc gia lấy lợi thế cạnh tranh bằng cách quản lý dòng chảy tri thức giữa các công ty con của họ. -9- Việc quản lý tri thức liên quan đến việc tạo ra giá trị tri thức địa phương từ việc kết hợp các nguồn không gian riêng biệt của tri thức. Các tổ chức cũng cho phép giao tiếp giữa các cá nhân giữa những người cần và những người sở hữu tri thức.và hơn nữa đảm bảo rằng những kiến thức liên quan đến công ty con thực sự được chia sẻ đến những đơn vị trong nội bộ công ty đa quốc gia mà nó cần (Foss và ctg.
Do đó, công ty này phải không ngừng nhận thức rằng những kiến thức tích lũy ở các bộ phận khác nhau của tổ chức cần phải được địa phương hóa, kiểm tra, sử dụng ở một địa phương khác trong tổ chức. Và nó cần phải được chuyển giao. Trong một bài báo được xuất bản vào năm 2008, Anna Jonson chỉ ra vết mờ không rõ nét giữa Chia sẻ tri thức và Chuyển giao tri thức này bằng cách nói : " Trong khung tham chiếu cả hai " chia sẻ kiến thức "và" chuyển giao kiến thức " được sử dụng và thảo luận thay thế cho nhau. Vì nó không có sự khác biệt rõ ràng và cả hai thuật ngữ sẽ được sử dụng " ( Jonsson , 2008).
Một ví dụ khác là " .