Ảnh hưởng của triết lý phật giáo trong thơ việt nam từ 1945 đến nay khảo sát qua một số tác giả tiêu biểu

Tài liệu nghiên cứu Ảnh hưởng của triết lý phật giáo trong thơ việt nam từ 1945 đến nay khảo sát qua một số tác giả, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Trường đại học

Trường Đại Học Hồng Đức

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

176
7
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Ảnh Hưởng Triết Lý Phật Giáo Trong Thơ Việt 1945 Nay 58 Ký Tự

Phật giáo du nhập vào Việt Nam sớm, trở thành một phần quan trọng trong đời sống tâm linh. Hơn 2000 năm qua, Phật giáo đồng hành cùng dân tộc. Tinh thần “hộ quốc an dân” là kim chỉ nam. Có thời gian, Phật giáo được xem là quốc giáo. Song hành cùng lịch sử, Phật giáo tác động đến nhiều mặt của đời sống, trong đó có văn học. Từ văn học dân gian đến văn học viết, triết lý Phật giáo hiện diện, đặc biệt ở nhân sinh quan. Tuy nhiên, ảnh hưởng rõ nhất thể hiện ở thời Lý - Trần. Đội ngũ thiền sư và cư sĩ đông đảo đã đóng góp lớn vào sự phát triển văn học dân tộc. Những tư tưởng Phật giáo trong thơ văn Lý - Trần luôn phù hợp với tâm hồn Việt và chứa đựng triết lý nhân sinh đẹp đẽ. Thơ hiện đại Việt Nam từ 1945 đến nay tiếp thu ảnh hưởng này, trở nên phong phú và hấp dẫn hơn. Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đến thơ Việt, ta có thể khám phá những tầng sâu tư tưởng đẹp đẽ và nét riêng biệt của thơ ca hiện đại.

1.1. Giá Trị Của Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Phật Giáo Đến Thơ Việt

Nghiên cứu cho phép khám phá những tầng sâu tư tưởng trong thơ ca hiện đại. Nó cũng có thể làm nổi bật những đặc điểm độc đáo của thơ ca trong giai đoạn này, đặc biệt là trong việc khám phá nhiều cung bậc cảm xúc của con người thông qua lăng kính Phật giáo. Trong bối cảnh khoa học hiện đại phát triển, dù đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn, đời sống tinh thần lại trở nên bế tắc. Người ta cảm thấy mất niềm tin, mất phương hướng. Ứng dụng lời dạy của Đức Phật giúp giải thoát khỏi khổ não, trở nên thanh lương và mạnh mẽ hơn. Việc ứng dụng Phật học vào thực tiễn mang lại nhiều lợi ích, rõ nhất là thực hành Thiền. Theo tài liệu gốc, 'Thiền chỉ và thiền quán của Phật giáo là một trong những phương pháp tối ưu giúp con người tìm lại an lạc trong tâm hồn, cân bằng lại những giá trị vật chất và tinh thần, giữ gìn sức khỏe'.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Phật Giáo Trong Thơ

Luận án hướng tới phân tích, lý giải, đánh giá những dấu ấn của triết lý Phật giáo qua sáng tác của các tác giả tiêu biểu. Nó chỉ ra giá trị triết lý trong thơ ở cả nội dung và nghệ thuật. Từ đó, khẳng định thơ ca có thể mang đến thông điệp về con đường giác ngộ. Đồng thời, phát hiện thêm những góc nhìn mới lạ của thơ Việt Nam từ 1945 đến nay, vẻ đẹp mang màu sắc tôn giáo - tâm linh. Để đạt được mục tiêu này, cần thực hiện những nhiệm vụ chính sau: Tìm hiểu cơ sở lý thuyết và thực tiễn, khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu. Nghiên cứu tiền đề tiếp nhận triết lý Phật giáo. Nghiên cứu những ảnh hưởng về nội dung và nghệ thuật. Theo tài liệu gốc, 'Với tên đề tài Ảnh hưởng của triết lý Phật giáo trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay (khảo sát qua một số tác giả tiêu biểu), luận án hướng tới phân tích, lý giải, đánh giá những dấu ấn của triết lý Phật giáo qua sáng tác của các tác giả tiêu biểu, chỉ ra giá trị triết lý Phật giáo trong thơ ở nội dung và nghệ thuật'.

II. Cách Triết Lý Phật Giáo Ảnh Hưởng Đến Thơ Ca Việt Nam 56 Ký Tự

Triết lý Phật giáo ảnh hưởng đến thơ ca Việt Nam trên nhiều phương diện. Đầu tiên, về nội dung tư tưởng, thơ ca thể hiện nhận thức về sự khổ và tinh thần tịnh lạc. Các nhà thơ phơi bày sự thật về những nỗi khổ nơi thân tâm, đồng thời hướng đến tinh thần tịnh lạc. Thứ hai, thơ ca phản ánh mối quan hệ tương duyên và nhận thức về chân như. Các tác giả thể hiện mối quan hệ tương duyên giữa con người và vạn hữu, đồng thời giúp độc giả nhận ra chân như thật tính. Thứ ba, thơ ca thể hiện tinh thần vô ngã và lòng từ bi trải rộng không phân ranh giới. Các tác phẩm thể hiện tinh thần vô ngã và lòng từ bi vô hạn. Thứ tư, ảnh hưởng của triết lý Phật giáo đến phương diện ngôn từ. Các nhà thơ sử dụng nhiều từ ngữ Phật học, ngôn ngữ trộn hòa vô trụ và thấm đượm chất thiền vô ngôn. Cuối cùng, ảnh hưởng đến bút pháp.

2.1. Ảnh Hưởng Về Nội Dung Tư Tưởng Triết Học Trong Thơ

Thơ ca Việt Nam từ 1945 đến nay chịu ảnh hưởng sâu sắc về nội dung tư tưởng từ triết lý Phật giáo. Cụ thể, các tác phẩm thường ca ngợi tình yêu thương rộng mở, cho thấy thực tại nhiệm màu, nhận chân được lẽ sống vô thường. Bên cạnh đó, thơ còn phơi bày bản chất sự khổ nơi thân tâm, nhận thức sự vận động đan xen phức tạp của các mối quan hệ. Các nhà thơ khai thác tư tưởng vô ngã, tinh thần tịnh lạc, tin tưởng hướng thiện và bình đẳng vô phân biệt. Luận án gốc nhấn mạnh: 'Nghiên cứu những ảnh hưởng của triết lý Phật giáo trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay với nội dung: ca ngợi tình yêu thương rộng mở, cho thấy thực tại nhiệm màu, nhận chân được lẽ sống vô thường, phơi bày bản chất sự khổ nơi thân tâm, nhận thức sự vận động đan xen phức tạp của các mối quan hệ, khai thác tư tưởng vô ngã, tinh thần tịnh lạc, tin tưởng hướng thiện, bình đẳng vô phân biệt…'

2.2. Ảnh Hưởng Về Nghệ Thuật Biểu Tượng Ngôn Ngữ Giọng Điệu

Thơ ca Việt Nam chịu ảnh hưởng về nghệ thuật từ triết lý Phật giáo. Thủ pháp biểu trưng cho các ý niệm giác ngộ được sử dụng rộng rãi. Ngôn ngữ mang dấu ấn nhà Phật, vô trụ và đậm chất thiền. Giọng điệu chiêm nghiệm, khuyến tu, tự tại cũng là một đặc điểm nổi bật. Các nhà thơ thường sử dụng giọng điệu phủ định để đưa đến khẳng định, thể hiện sự tùy duyên bất biến. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, bút pháp liên tưởng hướng đến duyên khởi và cách xưng hô mờ nhòe hướng đến vô ngã là những yếu tố quan trọng. Theo tài liệu tham khảo, 'Nghiên cứu ảnh hưởng của triết lý Phật giáo đến thơ Việt Nam từ 1945 đến nay trên phương diện nghệ thuật: thủ pháp biểu trưng cho các ý niệm giác ngộ, ngôn ngữ mang dấu ấn nhà Phật – vô trụ, đậm chất thiền, giọng điệu chiêm nghiệm, khuyến tu, tự tại, phủ định đưa đến khẳng định, tùy duyên bất biến.'

III. Top Tác Giả Tiêu Biểu Thơ Việt Chịu Ảnh Hưởng Phật Giáo 58 Ký Tự

Nhiều tác giả thơ Việt Nam từ 1945 đến nay chịu ảnh hưởng sâu sắc từ triết lý Phật giáo. Có thể chia thành hai nhóm chính: nhóm tác giả xuất gia và nhóm tác giả tại gia. Nhóm tác giả xuất gia bao gồm những nhà sư, ni cô có sáng tác thơ ca. Các tác giả tiêu biểu là Thích Nhất Hạnh, Viên Minh, Như Huyễn Thiền Sư, Minh Đức Triều Tâm Ảnh... Nhóm tác giả tại gia là những người không xuất gia nhưng vẫn thể hiện rõ ảnh hưởng của Phật giáo trong thơ. Các tác giả tiêu biểu là Vũ Hoàng Chương, Quách Tấn, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Trịnh Công Sơn, Tô Thùy Yên. Cần lưu ý rằng, không phải tất cả các tác phẩm của các tác giả này đều chịu ảnh hưởng của triết lý Phật giáo.

3.1. Nhóm Tác Giả Xuất Gia Thơ Ca Và Đời Sống Tu Tập

Nhóm tác giả xuất gia thường kết hợp thơ ca với đời sống tu tập. Các tác phẩm của họ thể hiện rõ giáo lý Phật giáo, đặc biệt là về vô thường, khổ đau và giải thoát. Các nhà thơ này thường sử dụng ngôn ngữ Phật học một cách tự nhiên và nhuần nhuyễn. Một số tác giả tiêu biểu trong nhóm này bao gồm Thích Nhất Hạnh, Viên Minh, Như Huyễn Thiền Sư, Minh Đức Triều Tâm Ảnh. Thơ của họ không chỉ là phương tiện truyền tải giáo lý mà còn là cách để thể hiện tâm tư, tình cảm và trải nghiệm tu tập cá nhân. Thơ của Thích Nhất Hạnh thường giản dị, gần gũi và mang tính ứng dụng cao.

3.2. Nhóm Tác Giả Tại Gia Đời Thường Và Cảm Hứng Phật Giáo

Nhóm tác giả tại gia tiếp cận triết lý Phật giáo từ góc độ đời thường. Các tác phẩm của họ thể hiện sự chiêm nghiệm về cuộc sống, tình yêu, và cái chết. Họ thường sử dụng ngôn ngữ đời thường, kết hợp với các yếu tố triết học Phật giáo để tạo nên những tác phẩm độc đáo và sâu sắc. Một số tác giả tiêu biểu trong nhóm này bao gồm Vũ Hoàng Chương, Quách Tấn, Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Trịnh Công Sơn, Tô Thùy Yên. Các tác phẩm của họ thường mang tính triết lý sâu sắc, nhưng vẫn gần gũi và dễ tiếp cận với độc giả đại chúng. Thơ Bùi Giáng mang đậm dấu ấn Thiền tông.

IV. Giải Pháp Phân Tích Cụ Thể Tác Phẩm Tiêu Biểu Về Triết Lý Phật Giáo 56 Ký Tự

Để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của triết lý Phật giáo trong thơ Việt Nam, cần phân tích cụ thể các tác phẩm tiêu biểu. Ví dụ, có thể phân tích thơ của Thích Nhất Hạnh để thấy rõ sự ảnh hưởng của Thiền tông. Hoặc phân tích thơ của Bùi Giáng để thấy rõ sự ảnh hưởng của triết lý vô thường. Phân tích thơ của Nguyễn Du cũng rất quan trọng, dù Nguyễn Du sống trước 1945, ảnh hưởng của ông rất lớn. Các tác phẩm này cần được phân tích trên cả hai phương diện: nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện. Cần chú ý đến việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng và giọng điệu trong thơ.

4.1. Phân Tích Thơ Thích Nhất Hạnh Thiền Trong Đời Sống

Thơ của Thích Nhất Hạnh là một minh chứng rõ ràng cho sự ảnh hưởng của Thiền tông trong thơ Việt Nam. Các tác phẩm của ông thường giản dị, dễ hiểu, nhưng lại chứa đựng những triết lý sâu sắc về cuộc sống. Ông thường sử dụng ngôn ngữ đời thường để diễn tả những trải nghiệm thiền định và những bài học về chánh niệm. Thơ của ông không chỉ dành cho người tu hành mà còn dành cho tất cả mọi người, giúp họ tìm thấy sự bình an trong cuộc sống hàng ngày. Các bài thơ như 'Thả một trái khô', 'Xin đừng đốt tôi' thể hiện rõ triết lý sống chậm và trân trọng hiện tại. Theo tài liệu, 'Trong văn học Việt Nam từ 1945 đến nay, thơ là đối tượng nghiên cứu hấp dẫn...việc nghiên cứu đề tài Ảnh hưởng triết lý Phật giáo trong thơ Việt Nam từ 1945 đến nay (khảo sát qua một số tác giả tiêu biểu) hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ một khía cạnh đặc sắc của thơ Việt Nam hiện đại'.

4.2. Phân Tích Thơ Bùi Giáng Vô Thường Và Cái Đẹp

Thơ của Bùi Giáng là một thế giới đầy màu sắc, vừa triết lý vừa lãng mạn. Ông thường sử dụng ngôn ngữ độc đáo, phá cách để diễn tả những cảm xúc và suy tư về cuộc đời. Triết lý vô thường là một trong những chủ đề chính trong thơ của ông. Ông không chỉ nhận thức về sự vô thường của cuộc sống mà còn tìm thấy cái đẹp trong sự vô thường đó. Các bài thơ như 'Mưa nguồn', 'Bài thơ vô tận' thể hiện rõ phong cách thơ độc đáo và triết lý sống của ông. Bùi Giáng đã khai thác triệt để tinh thần vô ngã trong sáng tác.

V. Kết Luận Giá Trị Triết Lý Phật Giáo Trong Thơ Việt Hiện Đại 59 Ký Tự

Triết lý Phật giáo đã có một ảnh hưởng sâu sắc đến thơ Việt Nam từ 1945 đến nay. Nó không chỉ làm phong phú thêm nội dung tư tưởng mà còn tạo ra những phong cách nghệ thuật độc đáo. Các tác giả thơ Việt Nam đã tiếp thu và vận dụng triết lý Phật giáo một cách sáng tạo, tạo ra những tác phẩm có giá trị văn học và giá trị nhân văn sâu sắc. Nghiên cứu về ảnh hưởng của triết lý Phật giáo trong thơ Việt Nam không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thơ ca mà còn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn hóa và tâm linh Việt Nam.

5.1. Thơ Việt Nam Giao Thoa Giữa Văn Học Và Phật Giáo

Thơ Việt Nam từ 1945 đến nay là một minh chứng cho sự giao thoa giữa văn học và Phật giáo. Các tác phẩm không chỉ mang giá trị văn học mà còn chứa đựng những triết lý sâu sắc về cuộc sống và tâm linh. Sự giao thoa này đã tạo ra một dòng thơ độc đáo, góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam. Theo luận án gốc, 'Dưới góc nhìn của triết lý Phật giáo, luận án chỉ ra vẻ đẹp đa chiều cả về nội dung và nghệ thuật của thơ Việt Nam giai đoạn 1945 đến nay.'

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Mở Rộng Và Chuyên Sâu Hơn

Nghiên cứu về ảnh hưởng của triết lý Phật giáo trong thơ Việt Nam là một lĩnh vực đầy tiềm năng. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để khám phá sâu hơn về các tác giả, tác phẩm và các khía cạnh khác nhau của đề tài. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc so sánh ảnh hưởng của Phật giáo với các tôn giáo và triết học khác, hoặc đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của Phật giáo đến từng thể loại thơ cụ thể. 'Đóng góp mới của luận án...Trên cơ sở phân tích những ảnh hưởng của triết lý Phật giáo, đề tài góp phần định hướng cách tiếp cận mới về thơ Việt Nam hiện đại, khẳng định có một bộ phận thơ chịu ảnh hưởng bởi Phật giáo'.

18/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái lược về triết lý Phật giáo Phật giáo là tôn giáo vô thần, ra đời dựa trên lời dạy của Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni có 6 thần thông. Ban đầu, Phật giảng dạy giáo lý bằng khẩu truyền, sau đó hàng đệ tử ghi lại bởi tiếng Pali [18; tr. 217], gọi là Tam Tạng, quy tụ về nhất thừa.

Giáo lý chứa đựng tinh thần từ bi vô ngã. Lộ trình tu tập phải trải qua những giáo lý căn bản là: giới - định - tuệ, văn - tư - tu, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, tam pháp ấn, 37 phẩm trợ đạo, nhân quả, duyên khởi, tính Không… Triết học chính yếu của Phật giáo được khai thác trên các lĩnh vực như: Vũ trụ, Nhận thức, Nhân minh, Đạo đức, Giải thoát… nhưng nhìn chung vẫn liên quan và thống nhất trong tu tập, giữ vị trí tối cao tron hệ thống triết học Đông - Tây. Triết học Phật giáo được đề cập trong khoảng 5000 bài pháp mà Phật thuyết ở 300 hội suốt 49 năm theo Đại thừa (45 năm theo Nguyên thủy). Qua nghiên cứu và khảo sát, chúng tôi phát hiện ra, ảnh hưởng của triết lý Phật giáo trong văn học hiện đại và thơ Việt Nam từ 1945 đến nay hầu như chỉ tập trung chủ yếu ở mảng vũ trụ quan, thế giới quan, nhân sinh quan.

Về vũ trụ quan Phật giáo Vũ trụ quan được hiểu là sự xem xét, tư duy về toàn bộ quy luật của trời đất cũng như những diễn biến và chuyển hóa của chúng. Phật giáo cho rằng vũ trụ là sự tác động phức tạp trong mối duyên nghiệp biến hóa của vạn hữu, bao gồm nhiều phân tầng khác nhau mà nơi đó có chúng sinh cư ngụ, gọi chung là Tam hữu (Tam giới). Phật giáo Nguyên thủy cho rằng có 31 cảnh giới, còn Phật giáo Đại thừa cho rằng có 32 cảnh giới. Trong đó, cõi thấp nhất là Dục giới (6 cõi), Sắc giới (4 tầng thiền, 18 cõi), Vô sắc giới (4 cõi).

Dù phân chia thành các hệ phái khác nhau nhưng triết lý chung của các hệ phái vẫn mang tính nhất quán. Theo thuyết lý nhà Phật, hành giả tu tập từ phàm phu có thể thành thánh nhân. Cuộc đời của đức Phật đã chứng minh điều đó. Trong cõi thánh, Phật giáo 7 Nguyên thủy chia làm 4 cấp độ là: Tư-đà-hoàn (Nhập lưu, Thất lai), Tư-đà-hàm (Nhất lai), A-na-hàm (Bất lai) và A-la-hán (Vô sanh).

Ngoài ra, vũ trụ quan Phật giáo còn có 55 cõi Bồ-tát và vô lượng cõi Phật (cõi của Phật A Di Đà, cõi của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Triết học Phật giáo cho rằng thế giới trong vũ trụ mà các chúng sinh hiện hữu các nơi đó là do sự tương ứng của tâm thức. Tức là, các chúng sinh tồn tại ở mỗi cảnh giới cao thấp khác nhau là do kết quả nghiệp mà chính họ tạo ra. Hay các chúng sinh đó tùy theo nghiệp tạo mà sinh ra: sinh từ trứng gọi là noãn sinh, sinh từ bào thai gọi là thai sinh, sinh từ ẩm ướt tăm tối gọi là thấp sinh và sinh do biến hóa sinh ra gọi là hóa sinh.

Loài người sống trong cõi Dục giới thứ nhất, do chưa đoạn được ái dục. Trong Dục giới lại phân ra làm 6 cõi từ cao xuống thấp là: trời (thiên), người, a-tu- la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục. Khảo sát riêng trong cõi trời (được cho là cao nhất trong Dục giới) thì thấy triết Phật lại chia làm 6 bậc trời gồm: Tứ thiên vương, Tam thập tam (Đao lợi), Tu diệm ma, Đâu suất, Lạc biến hóa, Tha hóa tự tại. Những bộ kinh quan trọng của hệ phái Đại thừa như Lăng Nghiêm, Địa Tạng… có ghi cõi thấp nhất trong Dục giới là địa ngục.

Kinh A Hàm được xem có nguồn gốc từ kinh Nguyên thủy cũng phân địa ngục thành 8 tầng từ trên xuống dưới là: Đại địa ngục Tưởng, Đại địa ngục Dây Đen, Đại địa ngục Đá Ép, Đại địa ngục Kêu La, Đại địa ngục Kêu La Lớn, Đại địa ngục Thiêu Nướng, Đại địa ngục Thiêu Nướng Lớn, Đại địa ngục Vô Gián. Trong 8 địa ngục lại có 16 địa ngục nhỏ (Theo kinh Trường A Hàm, quyển 2, Phẩm Địa Ngục, từ trang 313). Khảo sát sơ lược hai cảnh giới cao nhất và thấp nhất của Phật giáo ở cõi Dục giới, đã phần nào thể hiện tính chất phức tạp vô cùng vô tận của chúng sinh và thế giới trong vũ trụ; đồng thời cho thấy con người là vô cùng nhỏ bé. Ở cõi Sắc giới thứ hai, chúng sinh tồn tại là do tu thiền định và do hóa sinh, còn mang hình dáng thân người.

Theo Mật tông là thân kết cấu bằng tứ đại (đất, nước, gió, lửa) vi tế. Ở cõi này có 4 bậc và chia thành 18 cõi khác nhau. Sơ thiền, có các cõi trời như: Phạm chúng, Phạm phụ, Đại phạm; Nhị thiền, gồm cõi trời: Thiểu quang, Vô lượng quang, Quang âm; Tam thiền, gồm trời: Thiểu tịnh, Vô lượng tịnh, Biến tịnh và Tứ thiền, gồm trời: Phúc sinh, Phúc ái, Quảng quả, Vô tưởng. 8 Thứ ba, khảo sát cõi cao nhất trong Tam giới là Vô sắc giới trong Phật giáo, thì từ cõi trời cao nhất hoặc phát triển theo hướng chúng sinh tu tập thông tuệ sẽ ra giải thoát luân hồi (đắc A-la-hán), nếu thành Bồ-tát thừa (Hồi tâm Đại A-la- hán, Bất hồi tâm độn A-la-hán).

Và 4 cõi còn trong vòng luân hồi là: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ngoài ra, kinh Lăng Nghiêm của Đại thừa Phật giáo còn liệt kê mười dạng tiên, gồm có: Địa hành, Phi hành, Du hành, Không hành, Thiên hành, Thông hành, Đạo hành, Chiếu hành, Tinh hành, Tuyệt hành. Theo Mật tông Tây Tạng còn có thêm cõi “Trung giới” (cõi “Âm”). Cõi này được cho là nơi chờ để đủ duyên chúng sinh sẽ tái sanh, là nơi chuyển tiếp tâm thức từ sau khi chết đến trước khi tái sinh vào các cõi trên.

Và Phật giáo còn có cách phân chia vũ trụ thành ba loại thế giới: Tiểu thiên, Trung thiên và Đại thiên. Vũ trụ có vô lượng vô biên thế giới (thế giới theo nghĩa chỉ một thiên thể): “Một ngàn thiên thể là Tiểu thiên thế giới, một ngàn Tiểu thiên thế giới là Trung thiên thế giới, một ngàn Trung thiên thế giới là Đại thiên thế giới. Như vậy, Tiểu thiên gồm 1000 thiên thể, Trung thiên một triệu và Đại thiên là một tỷ” [46; tr. Điểm đặc biệt là Phật giáo khẳng định, tuy ở cấp độ cảnh giới thứ hai của Dục giới nhưng con người lại là trung tâm của cả Tam giới rộng lớn.

Vì các cõi trời do phước báu lớn nên khó tu thành chính quả, các cõi dưới do phải chịu quả báo khổ đau hành hạ triền miên nên cũng khó tu giải thoát luân hồi, chỉ có kiếp người vừa đau khổ vừa có những nhiều điều kiện thuận duyên tu tập cho nên khả năng đạt quả Thánh lớn. Đức Phật và tất cả các vị Phật khác trong quá khứ cũng từ kiếp người nam mà chứng đắc Thánh quả cao nhất, giác ngộ đạo Vô thượng Bồ-đề. Các “pháp” gồm, “xuất thế gian” và “thế gian”. Pháp “xuất thế gian” (chân đế), pháp “thế gian” (tục đế).

Pháp “chân đế” là của các bậc Thánh đã chứng ngộ. Pháp “tục đế” đều là hư huyễn, bị chi phối bởi quy luật biến đổi. Tuy vũ trụ quan Phật giáo mênh mông nhưng không nằm ngoài tâm thức. Vì Phật giáo cho rằng “nhất thiết duy tâm tạo”, địa ngục hay cõi trời đều do tâm thức của con người biến hiện ra.

Về thế giới quan Phật giáo Thế giới quan là quan niệm (thành hệ thống) về thế giới (bao hàm mọi hiện tượng tự nhiên, xã hội, con người), thể hiện cái nhìn tổng quát về thế giới trong ý thức của mỗi cá nhân (gồm thế giới bên ngoài, con người và mối quan hệ giữa con người với thế giới đó). Thế giới quan Phật giáo vô cùng phong phú, với các triết lý cơ bản vô thường, vô ngã, nhân duyên, nhân quả, nghiệp báo, luân hồi. Vô thường trong Phật giáo tạm hiểu là sự không thường còn, không như cái ban đầu, mọi sự vật hiện tượng luôn chuyển biến thay đổi; vạn vật vũ trụ đều bị quy luật vô thường chi phối. Trong đó, vô thường ở thân và tâm diễn ra dưới hai hình thức: “sát-na vô thường” (rất nhanh, ngắn) và “nhất kỳ vô thường” (sự thay đổi trong từng đoạn).

Triết lý vô thường của Phật giáo khẳng định vũ trụ là thành - trụ - hoại - không, sự sống là sinh - trụ - dị - diệt. Triết lý vô ngã của Phật giáo chung quy lại là khẳng định việc không có cái “ta” và sở hữu “của ta”. Theo kinh A-hàm, cái “ta sinh lý” (sắc ấm) là do duyên hợp giả tạm của địa - thuỷ - hoả - phong. Cái “ta tâm lý” gồm thụ - tưởng - hành - thức, gọi là bốn ấm.

Phật giáo cho rằng “cái ta” vốn không có (vì nó do các duyên giả hợp mà thành), cho nên không có sở hữu cái gọi là “của ta”. Vì khi sắc ấm rời nhau trở về “thể” của nó thì không còn thực thể. Các ấm che lấp tánh biết, khiến chúng sinh không nhận được Phật tính bản thể. Do giác ngộ vô ngã nên đức Phật không cho là có một linh hồn vĩnh cửu.

Triết lý nhân duyên (duyên khởi) quan trọng để giải thích sự hình thành, phát triển, tiêu hoại, không có thực thể nhất định của vạn vật. Nguyên lý căn bản của lý duyên khởi là quan niệm vạn vật hình thành đều do các duyên hội tụ và sẽ bị hoại diệt khi nhân duyên tan rã. Phật giáo khẳng định thế giới vũ trụ, con người, hay rộng hơn là vạn pháp, đều được cấu tạo hình thành bởi mối liên hệ nhân duyên. Các yếu tố nương nhau mà hợp thành, tạm gọi là có, nên các pháp dù có đấy cũng chỉ là giả hợp.

Về thuyết nhân quả, đạo Phật cho rằng, mọi sự vật hiện tượng sinh ra đều có nguyên nhân, nhưng một nhân cũng không đủ sức tạo ra quả được. Sự vật, hiện tượng là chuỗi nhân quả liên tiếp và ảnh hưởng lẫn nhau không bao giờ 10 ngừng. Từ nhân đến quả phải do duyên tác hợp. Cho nên sự vật hiện tượng có mặt trên thế gian không phải tự nhiên mà có, không phải do một đấng thần quyền hay đấng siêu nhiên nào tạo ra.

Thuyết luân hồi được hiểu như bánh xe quay tròn, mang nghĩa lưu chuyển. Theo đạo Phật, trong thế giới, từ vật nhỏ như hạt bụi đến vật lớn như quả địa cầu đều bị luân hồi. Quy luật này chi phối đến các cảnh giới, tinh thần con người, nhân quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ