CHƯƠNG I. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số đặc điểm sinh học của cá Ong bầu. Hệ thống phân loại.
Bộ: Cá Vược (Perciformes) Họ: Cá Căng (Teraponidea) Giống: Cá Căng (Terapon) Loài: Rhynchopelates oxyrhynchus (Temminck &Schlegel, 1842) +Tên tiếng việt: Cá Ong bầu, cá Căng mõm nhọn Hình 1. Đặc điểm sinh trưởng. Cá Ong bầu (Rhynchopelates oxyrhynchus) là loài có kích thước nhỏ. Cá Ong bầu khai thác có chiều dài trung bình đạt 145mm tương ứng với khối lượng 49g.
Cá Ong bầu khai thác được có 4 nhóm tuổi, cao nhất là tuổi 3+; nhóm tuổi 1+ có số cá thể thu được nhiều nhất, chiếm 38,72%, với chiều dài từ 79-106mm, khối lượng tương ứng là 7,1-20g; nhóm tuổi 0+ có số cá thể thu được ít nhất, chiếm 10,03%, có chiều dài dao động 55-95mm tương ứng với trọng lượng 2,8-8,5g. Ở nhóm tuổi thấp cá Ong bầu chủ yếu tăng trưởng về chiều dài. Khi đạt đến kích thước nhất định thì sự tăng về chiều dài chậm lại, sự tăng về trọng lượng nhanh hơn[20]. Đặc điểm dinh dưỡng.
Cá Ong bầu là loài ăn tạp, thành phần thức ăn gồm 25 loại, thuộc 4 nhóm thủy sinh vật khác nhau. Trong các loại thức ăn là Bacillariophyta (ngành tảo Silic) với 11 loại, chiếm tỉ lệ 44% tổng số lượng thức ăn, tiếp đến là Arthropoda (Ngành chân khớp) Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 14 với 7 loại, chiếm 28%. Bên cạnh đó, khi tiến hành phân tích thức ăn còn thấy một lượng lớn mùn bã hữu cơ và một lượng lớn động vật thân mềm (Mollusca) trong ống tiêu hóa cá. Phổ thức ăn của cá được mở rộng theo nhóm kích thước và thay đổi theo thức ăn có trong môi trường tự nhiên.
Cá có kích thước lớn phổ thức ăn đa dạng hơn nhóm kích thước nhỏ, thể hiện tính thích nghi chung trong dinh dưỡng của cá nhiệt đới, thức ăn của cá Ong bầu trong vùng đầm phá có phổ thức ăn rộng. Thức ăn của chúng là những loài tảo vốn phong phú trong môi trường, đồng thời là loài ăn động vật nhỏ. Cường độ bắt mồi của cá Ong bầu thay đổi theo tuổi khác nhau[20]. Đặc điểm sinh học sinh sản.
Tỉ lệ cá đực và cái của cá Ong bầu có sự khác nhau giữa các nhóm tuổi, nhìn chung cá cái chiếm tỉ lệ nhiều hơn cá đực. Cá Ong bầu đẻ trứng phân đợt trong năm và đẻ nhiều lần trong đời sống cá thể. Thời gian đẻ trứng kéo dài từ tháng 2 đến tháng 7, đẻ rộ vào tháng 4 đến tháng 7 hàng năm. Cá một năm tuổi chưa tham gia đẻ trứng.
Số lượng trứng một lần đẻ lên đến hàng vạn tế bào. Sức sinh sản tuyệt đối của cá Ong bầu dao động khá lớn từ 21.610 tế bào trứng. Sức sinh sản tương đối của cá Ong bầu ở đầm phá Thừa Thiên Huế đạt tới 905 tế bào trứng/g trọng lượng cơ thể. Cá có kích thước lớn, tuổi cao đẻ trứng nhiều hơn cá có kích thước nhỏ[20].
Đặc điểm hình thái, cấu tạo. Chiều dài thân bằng 2,73 - 2,96 chiều cao thân, bằng 2,88 – 3.02 chiều dài đầu, chiều dài đầu bằng 2,52 – 2,80 chiều dài mõm, bằng 4,0 – 4,3 lần đường kính mắt, bằng 3,06 – 3,50 lần chiều dài hàm trên[22]. Thân hình bầu dục dài dẹp bên, đầu nhỏ nhọn từ mút mõm đến gốc vây lưng gần như thẳng, bắp đuôi cao khỏe, chiều dài bằng 1,3 – 1,4 chiều cao. Mép dưới xương nắp mang trước có gai, góc dưới có 3 – 4 gai tương đối lớn, mép sau xương nắp mang chính có 2 gai lớn, dẹt gai dưới dài nhưng không quá nắp mang.
Mép dưới xương trước mắt có gai nhưng không lộ ra ngoài. Xương bả vai trên lộ ra ngoài vảy, có 4 – 5 gai dẹt, mõm nhọn chiều dài bằng 1,3 – 1,4 lần đường kính mắt, miệng chếch, hàm dưới ngắn hơn hàm trên, 2 lỗ mũi đều có van da, lỗ mũi sau hình tam giác, khoảng cách giữa 2 mắt phẳng hẹp hơn đường kính mắt, răng nhọn mọc thành đai hàm trên hai hàm, răng hàng ngoài cùng lớn khỏe, lược mang dài cứng, khỏe. Thân phủ vẩy lược khó bong. Ở đầu, trừ mõm và giữa 2 mắt, còn lại đều phủ vảy.
Gốc vây lưng và vảy hậu môn có vảy ôm 2 bên tạo thành rảnh sâu. Vây lưng dài cuối phần vây cứng lõm sâu. Gai thứ 4 dài nhất, 2 gai sau cùng sắp sỉ bằng nhau. Gai thứ 2 của hậu môn dài hơn 2 vây trước và sau nó, vây ngực rộng dài bằng phần đầu không kể mõm.
Vây bụng ở sau gốc vây ngực, mu vây quá lỗ hậu môn. Vây đuôi rộng lõm sâu. Phần thân trên màu nâu vàng, phần bụng màu trắng đục. Dọc bên thân có 4 vân đen: 1 từ mặt lưng của mõm chạy đến sát viền lưng đến khoảng giữa phần gốc tia vây lung: 1 từ viền Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 15 trên mắt đến cuối gốc vây lung: 1 từ mút mõm chạy thẳng giữa thân đến giữa gốc vây đuôi : 1 từ gốc vây ngực đến cuối gốc vây hậu môn, vân này hẹp và mờ hơn hai vân trên.
Ở một số cá thể vân 1 và 2 có hiện tượng đức đoạn không đều nhau. Trên khoảng dưới hai vân 1 và 2 chỗ dưới khởi điểm vây lưng có 1 vết đen lớn. Mép phần gai vây lưng màu đen, gốc vây có 1 số vân đen kéo dài đến phân tia mềm phía trước. Phần tia vây có vết đen dài do 2 vân trên thân kéo dài ra.
Vây hậu môn có 1 vết mờ ở phần tia vây. Vây đuôi có một số vết đen đối xứng, vây đen khác màu nhạc. Kích thước thường gặp từ 83 – 250 (mm)[22]. Môi trường sống và phân bố.
Về môi trường sống, sinh học và nghề cá: Là loài rộng sinh thái, tìm thấy trong các vùng nước ven bờ biển, đôi khi ở các vùng nước lợ và nước ngọt. Cá Ong bầu bị đánh bắt với tất cả các loại ngư cụ khai thác ven bờ, bao gồm: lưới rê, nò sáo, lưới kéo đáy. Phân bố: Ở Việt Nam: Quảng Ninh, Cồn Cỏ, Phá Tam Giang,… Trên thế giới: Indonexia, Philipin, Trung Quốc, Nhật Bản,…[22] 1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cá Ong bầu.
Các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của cá bố mẹ. Chất lượng sinh sản của một số loài cá biển sẽ được tăng lên khi bổ sung thành phần dinh dưỡng lên cá khẩu phần ăn của cá bố mẹ (Barton 1981 ; Craik and Harvey 1984; Watanabe 1985; Devauchelle et al., 1988; Eskelinen 1989; Watanabe et al., 1991 ; Watanabe and Kiron, 1995). Sự phát triển tuyến sinh dục và khả năng đẻ trứng có ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần dinh dưỡng đã được nghiên cứu trên 1 số loài cá biển (Bromage, 1995) (trích dẫn bởi Furuita)[36]. Từ đó trong nuôi vỗ thành thục thì việc cung cấp nguồn dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng, quyết định đến khả năng sinh sản và chất lượng sản phẩm sinh dục.
Dinh dưỡng được biết đến như là một yếu tố rất quan trọng trong sinh sản cá. Trong từng giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục, cá có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau. Theo quy luật phát triển của tuyến sinh dục, trong giai đoạn đầu của quá trình tạo trứng, cá cái cần thức ăn có năng lượng cao, giai đoạn sau cá cần hàm lượng protein cao (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)[11]. Nhìn chung, sức sinh sản và kích thích trứng sẽ tăng theo kích cỡ mẹ nhưng kích thước trứng và số lượng trứng ở những lần sinh sản sẽ khác nhau.
Như vậy, có sự tương thuận giứa sức sinh sản và kích cỡ cá (Marteinsdottir và Steinarsson, 1998)[42]. Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 16 Trong nuôi vỗ, nếu để cá đói thiếu thức ăn hay cung cấp thức ăn có thành phần dinh dưỡng không phù hợp với đặc tính dinh dưỡng của loài sẽ làm cho cá không thành thục, có hệ số thành thục thấp hay buồng trứng bị thoái hoá và tiêu biến mặc dù mọi yếu tố khác của môi trường là thuận lợi (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)[11]. Chế độ dinh dưỡng tốt có thể giúp cá phát dục, thành thục và sinh sản sớm (Nguyễn Tường Anh, 1999) [1] ❖ Nhu cầu về protein và acid amin Ở giai đoạn sinh sản, nhu cầu protein của động vật thủy sản cao hơn so với giai đoạn sinh trưởng, vì trong giai đoạn này chúng cần sử dụng thức ăn có hàm lượng protein cao để phát triển tuyến sinh dục (Le Xuan Hung và cs, 2000; Trần Thị Xuân Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009)[ 38,7]. Nghiên cứu của Pathmasothy (1985)[47] chỉ ra rằng khi tăng mức đạm từ 30% đến 40% trong thức ăn hầu hết các loài cá nước ngọt thì kích thước và khối lượng buồng trứng cũng tăng cao.
Nhu cầu protein của tôm càng xanh ở giai đoạn sinh trưởng trong khoảng 25 - 28%, nhưng ở giai đoạn thành thục nhu cầu dinh dưỡng tăng lên đền 40% (Trần Thị Xuân Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009. Ở mức hàm lượng protein từ 30 dến 40%, thì tốc độ tăng trưởng và khả năng sinh sản ở hầu hết các loài cá sẽ được cải thiện tốt hơn[7]. Trong cùng một loài, nhu cầu đạm của cá cái thường cao hơn cá đực và cá đực thành thục sinh dục sớm hơn cá cái (Le Xuan Hung và cs. Ở cá Heterobranchus longifilis bố mẹ khi nuôi bằng thức ăn có các hàm lượng đạm khác nhau thì ở hàm lượng đạm 35% tốc độ tăng trưởng và thành thục sinh dục của cá đực là tốt nhất, trong khi đó ở cá cái hàm lượng đạm là 40% Hàm lượng protein và chất lượng trong khẩu phần ăn cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.
Sản lượng trứng đã suy giảm trên red sea bream và sea brass Dicentrachus labax (Cerda và cs, 1994) khi giảm nồng độ protein từ 50% xuống 30%[29]. Ngưỡng protein tối ưu dành cho cá bố mẹ nằm trong khoảng 45% dành cho cá tráp Nhật Bản red sea bream. Mực là thành phần thức ăn được ưu tiên trong nguồn protein trong khẩu phần ăn của cá. Việc cân bằng khẩu phần ăn có thể thúc đẩy tổng hợp Vg và nâng lên, dẫn đến khả năng thụ tinh cao và chất lượng trứng (Tandler và cs, 1995)(trích dẫn bởi Furuita) [36].
Trần Đình Luân và cs (2011) đã nghiên cứu thử nghiệm về khẩu phần protein và lipid dành cho cá hồi Vân bố mẹ Oncorhynchus mykiss. Các thức ăn thử nghiệm có hàm lượng Protein (Pr) và Lipid (L) khác nhau, bao gồm: CT1-36,0% Protein: 22,0 Lipid; CT2-40,0 Protein: 20,0 Lipid; CT3-45,0 Protein: 18 Lipid; CT4-45 Protein: 16 Lipid; CT5-45,0 Protein: 12 Lipid.