phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, trong phần nội dung chính của luận văn gồm có 2 chương, 5 tiết. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG TẠI THÔN THƢỢNG, XÃ PHÙ LƢU, HUYỆN ỨNG HÒA, HÀ NỘI HIỆN NAY 1. Khái quát chung về Phật giáo tại thôn Thƣợng, xã Phù lƣu, huyện Ứng hòa, Hà nội hiện nay. Khái lược về Phật giáo Một tôn giáo, không luận là giáo lý cao siêu hay thâm thúy đến đâu, cũng vẫn là kết quả sản phẩm của các điều kiện xã hội.
Là sản phẩm của con người xã hội, tất nhiên đến lượt tôn giáo ảnh hưởng đến các lĩnh vực xã hội và đồng thời chịu ảnh hưởng ngược lại, đó là điều phổ biến, đã được nhiều đồng thuận trong các công trình. Phật giáo có nguồn gốc từ văn hóa Ấn Độ cổ đại tới nay có một lịch sử lâu dài gần 2 ngàn 6 trăm năm, Đông –Tây truyền bá, lan toả ảnh hưởng khắp cả các châu lục. Trong quá trình truyền bá ấy, qua mỗi nền văn hóa, Phật giáo lại tùy duyên theo điều kiện mỗi hoàn cảnh xã hội của mỗi dân tộc, mỗi địa phương mà có ít nhiều biến đổi sắc thái. Đạo Phật suy vi ở Ấn Độ nhưng lại mở rộng và hưng thịnh ở bên ngoài.
Phật giáo được truyền đến Xri-lan-ca, Miến Điện, Tây Tạng, Trung Quốc. Tuy nhiên, khi truyền ra bên ngoài, Phật giáo đã có sự phân rẽ thành hai phái di thực mà sau này trở thành Đại Thừa và Tiểu Thừa. Thời kỳ đầu, cả hai phái đều nỗ lực truyền giáo, không phân chia thành khu vực đối với hai phái. Sau này, trong quá trình truyền giáo đã dẫn đến sự hình thành hai khu vực Phật giáo khá điển hình: Phật giáo Tiểu Thừa thành công ở các khu vực phía Nam như: Xri-lan-ca, Miến Điện, Campuchia, Thái Lan, Lào nên Phật giáo các nước này gọi là Phật giáo Nam Tông.
Phật giáo Đại Thừa thành công ở phía Bắc như: Tây Tạng, Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên nên Phật 10 z giáo ở các nước này gọi là Phật giáo Bắc Tông. Chủ yếu Bắc tông là hệ phái Đại thừa. Nếu như Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Xri-lan-ca vị trí quan trọng đối với các nước ở phía Nam, thì Phật giáo Trung Quốc có vị trí quan trọng đối với các nước ở phía Bắc. Do đó dẫn đến việc các nước theo Phật giáo Nam Tông đa phần chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, các nước theo Phật giáo Bắc Tông đa phần chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc.
Phật giáo Đại Thừa cơ bản thể hiện nổi trội với chủ trương “không luận” cho rằng vạn pháp tuy có (“hữu”) nhưng vốn thực ra là không (“vô”) và qua biến đổi tất yếu sẽ trở về với tính không. Phật giáo Tiểu Thừa có chủ trương đồng thời vừa không luận mà đồng thời lại thừa nhận thế giới hiện tượng vẫn tồn tại trong tính giả tạm tương đối “hữu luận”, cho rằng vạn pháp vô thường, nhưng các hiện tượng vẫn có (“hữu”) một cách tương đối, chứ không thể nói là hoàn toàn không (“vô”) được. Phật giáo Đại Thừa cho rằng, ngay trong quá trình „sinh tử‟, con người vẫn hứng ngộ được cảnh giới Niết Bàn, nếu như tu luyện tốt. Còn Phật giáo Tiểu Thừa thì ngược lại, cho rằng chỉ khi nào con người thoát vòng luân hồi sinh tử, con người mới có thể đạt được cảnh giới Niết Bàn.
Phật giáo Đại Thừa chủ trương : “tự độ, tự tha, tự giác giác tha”. Nghĩa là vừa tự giác ngộ, tự giải thoát, vừa giác ngộ giải thoát cho chúng sinh. Trong khi đó, Phật giáo Tiểu Thừa cho rằng, chỉ có “tự độ, tự tha”. Chính vì quan niệm này mà có tên gọi là “Đại Thừa” (cỗ xe lớn trở được nhiều người) và “Tiểu Thừa” (cỗ xe nhỏ trở được ít người).
Về nghi lễ sự phụng thờ và cách thức tu hành, Phật giáo Đại Thừa thờ Phật và các Phật chư vị Bồ Tát, người tu hành mặc áo nâu và tự lao động kiếm sống, còn Phật giáo Tiểu Thừa chỉ thờ Phật Thích ca, người tu hành mặc áo vàng, sống bằng cúng dường khất thực. 11 z Lịch sử truyền bá Phật giáo cụ thể ở từng quốc gia, khu vực dù trong những thời gian khác nhau, hoàn cảnh chính trị, xã hội khác nhau, nhưng nhìn chung để có những giáo lý căn bản chung, có thể coi đó là căn cốt của quá trình truyền bá Phật giáo, dưới đây là những quan điểm thể hiện nét chung đó của Phật giáo. Phật giáo truyền bá bằng con đường “hòa bình”, kết hợp giữa hình thức truyền bá đạo trực tiếp qua các giáo đoàn với hình thức nhân dân tự tiếp nhận hội nhập một cách đa dạng, rộng rãi. Đến nay hầu như không thấy việc Phật giáo truyền bá gắn với cưỡng bức chiến tranh hoặc bằng chiến tranh.
Với tinh thần khoan dung nên quá trình truyền bá Phật giáo không gây ra xung đột về Tôn giáo, văn hóa tư tưởng. Không những thế Phật giáo còn chủ động hội nhập chấp nhận chung sống với các tín ngưỡng, tôn giáo nơi nó truyền đến, Đặc biệt với chủ trương “tùy duyên phương tiện”, tùy cảnh “khế lý, khế cơ” của căn tính chúng sinh mà lan tỏa hành hóa, nên trong nhiều trường hợp, Phật giáo còn tiếp thu, dung nạp các phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo bản địa, hình thành nên nhiều pháp môn tu hành mang tính chất địa phương, thể hiện sự đa dạng trong thống nhất. Trong quá trình lan truyền phát triển, tại Việt Nam sau hơn hai Ngàn năm Phật giáo có vị trí quan trọng trong việc xây dựng bảo vệ độc lập dân tộc, góp phần hình thành văn hóa, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của nhiều quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam. *Những tư tưởng cơ bản trong giáo lý đạo Phật.
Giáo lý đạo Phật được thể hiện trong tam tạng kinh điển, đó là trong ba bộ : Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng. Kinh tạng là những sách ghi lời Phật Thích Ca giảng về giáo lý, được đệ tử tên là A Nam kể lại trong lần kết tập đầu tiên, và được hoàn thiện về sau. 12 z Luật tạng là những sách ghi những giới luật do Phật chế định là khuân pháp sinh hoạt cho tăng đoàn và các đệ tử tại gia, do Ưu Bà Ly đọc lại trong lần kết tập đầu tiên, được hoàn thiện sau các lần kết tập. Luận tạng là những luận giải của các vị đệ tử Phật giảng giải về những lời dạy của Phật, nhằm mục đích giới thiệu giáo lý Phật giáo có hệ thống, đồng thời phê bình, uốn nắn những nhận thức sai trái và chống lại những quan điểm đả kích xuyên tạc về giáo thuyết Phật giáo, qua các thời kỳ, ở các nền Văn hóa.
Giáo lý Phật giáo được đề cập đến nhiều vấn đề của thế giới và nhân sinh. Tuy nhiên, do đặc điểm kinh sách của Phật giáo rất phong phú, rất trừu tượng, mang tính chất triết học sâu sắc. Vì vậy trong giới hạn luận văn này chúng tôi kế thừa người đi trước nghiên cứu khái quát về thế giới quan nhân sinh quan của Phật giáo, là học thuyết „vô ngã‟, vô thường, thập nhị nhân duyên, nhân sinh quan của Phật giáo là Tứ diệu đế, thuyết duyên khởi, thuyết Nhân - Qủa, Nghiệp báo – Luân hồi. Sau đây chúng tôi tóm tắt trình bày một số giáo lý nền tảng Phật giáo Học thuyết vô ngã: Theo Phật giáo vạn vật và cả con người là sự kết hợp của ngũ uẩn đó là: sắc, thọ, tưởng, hành thức.
Mà phần sắc tướng là do 4 yếu tố : đất, nước, lửa, không khí kết hợp lại mà thành nhưng đồng thời đang chuyển biến thành cái khác. Phần tâm lý (tinh thần, ý thức) gồm: thọ, tưởng, hành, thức, được biểu hiện bằng thất tình: ái, ố, nộ, hỷ, lạc, ai, dục. Phần tâm lý bao giờ cũng dựa vào phần sinh lý, con người sinh diệt là sự giả hợp của ngũ uẩn. Khi còn ngũ uẩn hợp là „sinh‟, khi ngũ uẩn tan là „diệt‟.
Do đó, không có cái gọi là “bản ngã” (cái tôi). Trong thế giới sự vật hiện tượng, mọi sự vật được hình thành nên cũng do các duyên kết hợp lại, vì 13 z vậy mà biết rằng, không có một ai sáng tạo ra thế giới này. Phật giáo phủ nhận vai trò của đấng Thượng Đế, vì thế giới này là thế giới tự duyên sinh, tự nó không có đấng sáng tạo. Học thuyết vô thường: Theo giáo lý Phật giáo, con người cũng như mọi sự vật hiện tượng khác trong vũ trụ phải tuân theo định luật “vô thường”, vạn pháp không đứng yên mà luôn chuyển động biến đổi theo chu trình thành-trụ- hoại-không hay sinh-trụ-dị-diệt.
Sinh –diệt là hai quá trình xảy ra trong mỗi sự vật, hiện tượng cũng như trong toàn vũ trụ, thế giới này là sự hoại-không của thế giới khác, pháp khác, cứ như vậy mà tiếp diễn. Như vậy, thế giới luôn biến đổi, vô thủy, vô chung, không có bắt đầu, không có kết thúc. Thế giới sự vật biến đổi không phải do thần thành, mà là tự nó. Sự vật, hiện tượng do con người nhận biết qua thần sắc, hình tướng chỉ là giảm tạm.
Do đó, thế giới khách quan đang tồn tại chỉ là hư ảo, không có thực. Là vô thường. Giáo lý nguyên khởi thập nhị nhân duyên, gồm: vô minh-hành-thức- danh sắc-lục nhập-xúc-thọ-ái-thủ-hữu-sinh-lão tử. Thuyết thập nhị nhân duyên hay còn gọi là duyên khởi được cắt nghĩa như sau: “Do vô minh, Hành sinh; do duyên Hành, Thức sinh, do duyên Thức, Danh-Sắc sinh; Do duyên Danh-Sắc, Lục nhập sinh; do duyên lục nhập, Xúc sinh; do duyên Xúc, Thọ sinh; do duyên thọ, ái sinh; do duyên ái, Thủ sinh; do duyên Thủ, Hữu sinh; do duyên Hữu, Sinh sinh; do duyên sinh, Lão tử sinh; do duyên Lão-Tử-Sầu-Bi-Khổ-Ưu-Não sinh.
Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Này các Tỳ kheo, đây gọi là Duyên khởi” [14,111]. “Nhưng từ sự tan biến và chấm dứt hoàn toàn Vô minh, Hành chấm dứt; từ sự chấm dứt của Hành.Thức diệt, do Thức diệt mà danh sắc dint…,do sinh diệt mà Lão-tử-sầu-bi-khổ-ưu-não diệt. Như vậy là sự chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này” [14,119] 14 z Do duyên mà các pháp sinh khởi, do duyên mà các pháp đoạn diệt.
Nên kinh Paili, nguyên lý duyên khởi nghĩa là đã được Đức Phật tóm tắt.