Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cúc lá nhám (Zinnia sp.), còn được gọi là cúc zinnia, cúc cánh giấy hoặc duyên cúc, là loài cây hoa nhập nội có nguồn gốc từ Mexico thuộc họ Cúc (Asteraceae). Loài hoa này sở hữu thời gian sinh trưởng ngắn, kỹ thuật chăm sóc tương đối thuận lợi, màu sắc phong phú, độ bền hoa kéo dài tương đương nhiều chủng loại cúc truyền thống và có khả năng sinh trưởng quanh năm nên được ứng dụng phổ biến trong trồng bồn, trồng luống cảnh quan tại các công viên, vườn hoa đô thị. Tuy nhiên, chất lượng hình thái và giá trị thẩm mỹ của hoa thương phẩm không chỉ do đặc tính di truyền quy định mà còn phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ dinh dưỡng khoáng cung cấp cho cây trong suốt chu kỳ sinh trưởng.

Đạm (N) và kali (K) là hai trong ba nguyên tố dinh dưỡng đa lượng giữ vai trò chi phối mạnh mẽ nhất đến quá trình phân cành, phát triển diện tích lá, sự hình thành nụ hoa và độ bền của hoa cúc. Dù vậy, tại khu vực phía Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, các nghiên cứu xác định quy trình bón phân khoáng đa lượng, cụ thể là tỷ lệ phối hợp giữa đạm và kali cho cúc lá nhám trồng luống ngoài đồng, vẫn còn rất hạn chế. Từ thực tế canh tác đó, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Kim Oanh đã thực hiện đề tài: "Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm và kali đến sinh trưởng, phát triển cúc lá nhám (Zinnia sp.) trồng luống vụ Xuân Hè 2023 tại Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh".

Mục tiêu tổng quát của đề tài là xác định được liều lượng phân đạm và kali thích hợp nhằm giúp cây cúc lá nhám trồng luống sinh trưởng cân đối, phát triển tối ưu và đạt phẩm chất hoa cao trong điều kiện tự nhiên tại Thành phố Hồ Chí Minh. Để thực hiện mục tiêu này, hai yêu cầu cụ thể được tác giả xác lập trong văn bản gồm:

  1. Bố trí thí nghiệm chính quy theo phương pháp khối đầy đủ ngẫu nhiên.
  2. Theo dõi và ghi nhận đầy đủ các nhóm chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng phát triển, khả năng sinh trưởng thân lá, tình hình phát sinh sâu bệnh hại, cùng các chỉ tiêu phát triển và phẩm chất hoa cúc lá nhám.

Đối tượng nghiên cứu là giống cúc lá nhám thân cao hoa kép do Công ty TNHH Hạt giống hoa Việt Nam cung cấp. Phạm vi nghiên cứu về không gian được triển khai tại Trại thực nghiệm Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (thành phố Thủ Đức). Phạm vi thời gian tiến hành từ tháng 02/2023 đến tháng 05/2023 (thuộc vụ Xuân Hè năm 2023). Giới hạn nghiên cứu được khoanh vùng ở 3 mức phân đạm kết hợp 3 mức phân kali trên nền đất xám bạc màu; đồng thời do điều kiện kinh phí hạn hẹp, đề tài không tiến hành phân tích lại các chỉ tiêu lý hóa của đất sau khi kết thúc thí nghiệm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh lý dinh dưỡng khoáng thực vật và quy chuẩn chuyên ngành trồng trọt:

  • Cơ sở lý thuyết về cây cúc lá nhám (Zinnia elegans Jacq.): Loài thân thảo sống hàng năm, bộ rễ chùm ăn nông tập trung ở tầng đất 5 - 10 cm, phân nhánh mạnh, phiến lá có lông nhám mọc đối, cụm hoa đầu trạng kép đại đóa. Yêu cầu ngoại cảnh đặc thù gồm nhiệt độ thích hợp 20 - 22°C (ngưỡng chịu đựng 10 - 35°C), độ ẩm đất 60 - 70%, độ ẩm không khí 55 - 65%, quang kỳ ngày ngắn ưa sáng với cường độ ánh sáng tối thích 2.000 - 3.000 lux.
  • Lý thuyết về dinh dưỡng khoáng N và K: Đạm thúc đẩy sinh trưởng sinh dưỡng, kích thích phân cành, tăng số lá và diện tích quang hợp; kali đóng vai trò điều tiết áp suất thẩm thấu, tăng độ cứng vững của thân, nâng cao sức chống chịu sâu bệnh và kéo dài độ bền hoa. Nhu cầu phân bón tham khảo cho hoa cúc theo Phạm Văn Duệ (2005) là 160 - 180 kg N/ha và 100 - 120 kg K2O/ha.
  • Khung quy chuẩn đánh giá: Áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-89:2012/BNN&PTNT do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống hoa cúc.

Phương pháp nghiên cứu thực tế là thí nghiệm đồng ruộng hai yếu tố bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (Randomized Complete Block Design - RCBD) với 3 lần lặp lại, gồm 9 nghiệm thức tổ hợp từ:

  • Yếu tố A (3 mức đạm): A1 = 150 kg N/ha (đối chứng); A2 = 180 kg N/ha; A3 = 210 kg N/ha. Nguồn đạm sử dụng là phân Urê Phú Mỹ (46,3% N).
  • Yếu tố B (3 mức kali): B1 = 40 kg K2O/ha (đối chứng); B2 = 80 kg K2O/ha; B3 = 120 kg K2O/ha. Nguồn kali sử dụng là Kali Phú Mỹ (KCl chứa 61% K2O).

Phân thí nghiệm được bón thúc vào 3 đợt: 10 ngày sau trồng - NST (30% N, 20% K2O), 30 NST (40% N, 40% K2O) và 50 NST (30% N, 40% K2O). Tất cả các nghiệm thức được thực hiện đồng nhất trên nền phân bón tính cho 1 ha gồm: 500 kg vôi bột (85% CaO), 150 kg phân gà hữu cơ dạng viên nén CSV (70% chất hữu cơ), 100 kg P2O5 (phân lân nung chảy Văn Điển 16% P2O5) và 1 kg nấm sinh học Trichoderma.

Quy mô thí nghiệm gồm 27 ô cơ sở, kích thước mỗi ô là 4,4 m x 2,4 m (diện tích 10,56 m²), khoảng cách luống 0,5 m, khoảng cách giữa các lần lặp lại 1 m. Cây được trồng với khoảng cách 0,4 m x 0,4 m (mật độ 62.500 cây/ha), tương ứng 50 cây/ô cơ sở. Tổng diện tích thí nghiệm thuần là 285,12 m² và tổng diện tích khu đất thực nghiệm là 474,72 m². Mẫu theo dõi được chọn ngẫu nhiên 10 cây/ô ở khu vực giữa (loại bỏ hàng biên). Dữ liệu thu thập được xử lý sơ bộ qua Microsoft Excel, thực hiện phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định phân hạng trung bình bằng trắc nghiệm LSD ở mức ý nghĩa α = 0,05 và α = 0,01 thông qua phần mềm thống kê R 4.2.2.

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm: số liệu quan trắc thực địa định kỳ 5 - 7 ngày/lần tại Trại thực nghiệm; số liệu diễn biến khí tượng (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, số giờ nắng) ghi nhận từ Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ; và kết quả phân tích lý hóa mẫu đất thí nghiệm do Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường thực hiện năm 2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các đặc điểm thực vật học, nguồn gốc phân loại và yêu cầu sinh thái của cúc lá nhám (Zinnia elegans Jacq.). Về mặt sinh học, cây có bộ rễ chùm ăn cạn phát triển theo chiều ngang, thân thảo giòn, lá hình trứng đến giáo mọc đối, hoa dạng đầu trạng với kích thước từ 1,5 đến 12 cm, bao gồm cả dạng hoa đơn và hoa kép. Về dinh dưỡng, tác giả phân tích cơ chế hút khoáng qua hệ thống lông hút của rễ thông qua nguyên tắc trao đổi ion với ion H+ và HCO3- trong dung dịch đất.

Chương 1 cũng tổng hợp các nghiên cứu tiền nhiệm về phân bón trên cây hoa cảnh:

  • Nghiên cứu của Văn Thị Thanh Nhã (2022) trên cây vạn thọ Pháp tại TP.HCM chỉ ra mức đạm 2,0 kg N/1.000 chậu cho thời gian ra hoa sớm và hiệu quả thương phẩm cao nhất.
  • Nghiên cứu của Divya và cộng tác viên (2019) tại Kashmir (Ấn Độ) trên cúc lá nhám chứng minh công thức NPK 210 + 120 + 75 kg/ha kết hợp vi sinh vật phân giải (Azotobacter, PSB, KSB) đạt chiều cao cây 125,3 cm và đường kính tán 66,6 cm.
  • Các công trình của Hoàng Thị Lệ Thu và ctv (2019) trên cúc dược liệu tại Phú Thọ (bón kali 120 - 190 kg/ha cho năng suất hoa cao nhất); Lê Phú Quỳnh Như và ctv (2017) trên cúc Vàng hè tại Gia Lai (đạm 160 - 180 kg N/ha làm tăng chiều cao và số hoa); Đặng Thành Luân (2013) trên hồng hoa tại Lâm Đồng (120 kg N/ha và 90 kg K2O/ha đạt năng suất vượt trội); Adeel Javid và ctv (2005) tại Pakistan (NPK 300 + 200 + 200 kg/ha cho đường kính hoa 10,5 cm); và Larik và ctv (1999) tại Pakistan (150 kg N/ha + 37,5 kg K2O/ha cho chiều cao cây đạt tối đa 74,5 cm).

Từ tổng quan tài liệu, tác giả khẳng định việc nghiên cứu liều lượng bón phối hợp giữa đạm và kali cho cúc lá nhám trồng luống tại TP.HCM là yêu cầu thực tiễn cần thiết.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp thí nghiệm

Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên tại khu thí nghiệm trong vụ Xuân Hè 2023. Diễn biến thời tiết cho thấy nhiệt độ trung bình dao động 28,2 - 30,4°C, ẩm độ không khí trung bình cao (71 - 78%), số giờ nắng dao động từ 182,6 giờ (tháng 5) đến 246,4 giờ (tháng 2). Lượng mưa biến động mạnh: tháng 2 chỉ đạt 9,9 mm, tháng 3 không mưa, trong khi tháng 5 tăng vọt lên 124,4 mm.

Kết quả phân tích đặc tính lý hóa đất trước thí nghiệm xác định: thành phần cơ giới là đất cát pha (58,3% cát; 31,7% thịt; 10,0% sét); pH H2O đạt 5,7 và pH KCl đạt 5,2 (hơi chua); dung tích hấp thu CEC thấp (2,43 meq/100g); hàm lượng chất hữu cơ nghèo (OM = 1,2%); hàm lượng dinh dưỡng tổng số rất thấp (Nts = 0,06%, Pts = 0,08%, Kts = 0,04%); hàm lượng dinh dưỡng dễ tiêu hạn chế (Ndt = 0,9 mg/100g, Pdt = 17,0 mg/100g, Kdt = 12,1 mg/100g).

Về kỹ thuật canh tác, quy trình thực nghiệm được cải tiến dựa trên tài liệu của Trần Danh Sửu (2017):

  • Chuẩn bị giống: Hạt giống được gieo trong khay xốp 84 lỗ chứa giá thể Tribat, che lưới giảm 50% ánh sáng; tỷ lệ nảy mầm đạt 85%; xuất vườn chuyển trồng luống khi cây đạt 20 ngày sau gieo (NSG), chiều cao 9 - 10 cm, có 2 - 3 cặp lá thật.
  • Bấm ngọn: Tiến hành bấm ngọn vào thời điểm 12 - 15 NST, chừa lại 5 - 6 cặp lá thật để kích thích phân nhánh cấp 1.
  • Chế độ phân bón bổ sung: Phun phân bón lá B-1 (0,4 mL/L) ở 2 và 28 NST; tưới gốc phân vi sinh Nutri Organic (2,5 g/L) ở 15 và 25 NST; phun phân bón lá Cytofive (1,25 g/L) ở 20, 35 và 50 NST; phun Atonik 1,8SL (1 mL/L) ở 17 NST.
  • Quản lý sâu bệnh: Phòng trừ sâu khoang (Spodoptera litura) và cào cào (Pattanga succincta) bằng Actara 25WG (0,025 g/L) hoặc Tasieu 5WG (0,25 g/L); phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn (Pseudomonas solanacearum) bằng Anvil 5SC (2,5 mL/L); phòng ngừa bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani) bằng chế phẩm vi sinh BS09 Ryzen (1,25 - 2,5 g/L) và Ridomil Gold 68WG (10 g/L).

Quy trình quan trắc tuân thủ QCVN 01-89:2012/BNN&PTNT, định kỳ đo đạc 7 ngày/lần đối với các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao, đường kính thân, số nhánh, số cặp lá, đường kính tán) và 5 ngày/lần đối với tỷ lệ sâu bệnh hại.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương này trình bày và phân tích các số liệu thu được qua 4 nhóm chỉ tiêu chính:

  1. Thời gian sinh trưởng và phát triển: Các nghiệm thức đạt ngày phân nhánh từ 10,7 đến 14,3 NST; ngày ra nụ từ 32,3 đến 36,3 NST; ngày ra hoa từ 42,0 đến 46,7 NST. Xét riêng rẽ yếu tố phân đạm hoặc phân kali, cũng như sự tương tác giữa hai yếu tố (đạm x kali), sự khác biệt đối với các chỉ tiêu ngày phân nhánh, ngày ra nụ và ngày ra hoa đều không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Ngược lại, tổng thời gian sinh trưởng phát triển (tính từ khi trồng đến khi 50% số hoa tàn) chịu ảnh hưởng tương tác rất có ý nghĩa thống kê giữa đạm và kali ở mức α = 0,01 (F = 5,7**), dao động từ 81,7 ngày ở nghiệm thức A1B1 (150 kg N/ha + 40 kg K2O/ha) đến 87,3 ngày ở nghiệm thức A1B2 (150 kg N/ha + 80 kg K2O/ha).

  2. Khả năng sinh trưởng thân lá:

  • Chiều cao cây: Ở giai đoạn 7 - 21 NST, chiều cao cây tăng chậm do cây tập trung ra rễ và phân nhánh sau khi bấm ngọn. Giai đoạn 21 - 28 NST có tốc độ tăng trưởng vọt cao nhất (đạt 3,2 - 4,4 cm/ngày). Đến thời điểm 35 NST, yếu tố phân đạm tác động rất có ý nghĩa thống kê (F = 8,3**), trong đó mức 150 kg N/ha cho chiều cao trung bình cao nhất (69,4 cm). Phân kali đơn lẻ không ảnh hưởng đến chiều cao cây. Sự tương tác đạm x kali thể hiện rõ rệt ở 35 NST (F = 6,0**), trong đó nghiệm thức A1B1 (150 kg N/ha + 40 kg K2O/ha) đạt chiều cao lớn nhất (73,2 cm), vượt trội so với nghiệm thức A2B2 (180 kg N/ha + 80 kg K2O/ha) đạt thấp nhất (59,3 cm).
  • Đường kính thân: Tại thời điểm 35 NST, mức đạm 150 kg N/ha cho đường kính thân lớn nhất (11,8 mm), khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (F = 9,6**) so với mức 180 kg N/ha (11,1 mm) và 210 kg N/ha (10,8 mm). Nghiệm thức A1B1 đạt đường kính thân lớn nhất với 12,3 mm, khác biệt có ý nghĩa thống kê (F = 4,2*) so với nghiệm thức A3B2 chỉ đạt 10,3 mm.
  • Số nhánh cấp 1: Ở 35 NST, số nhánh cấp 1 dao động trong khoảng 7,5 - 7,9 nhánh/cây, sự khác biệt giữa các nghiệm thức không mang ý nghĩa thống kê. Đạm là yếu tố tác động chính ở giai đoạn phân cành (21 NST, mức 210 kg N/ha đạt 2,8 nhánh/cây).
  • Số cặp lá: Dao động từ 40,2 đến 47,2 cặp lá/cây tại thời điểm 35 NST; cả yếu tố đạm, kali và tương tác giữa chúng đều không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
  • Đường kính tán: Tại thời điểm 35 NST, mức đạm 150 kg N/ha cho đường kính tán trung bình lớn nhất (56,8 cm, F = 7,9**). Xét tương tác tổ hợp, nghiệm thức A1B3 (150 kg N/ha + 120 kg K2O/ha) đạt 60,8 cm, tiếp theo là nghiệm thức A1B1 đạt 56,3 cm; nhỏ nhất là nghiệm thức A2B2 đạt 50,9 cm.
  1. Tình hình sâu bệnh hại: Tỷ lệ cây bị sâu hại (sâu khoang, cào cào) dao động từ 6,7% đến 16,7%, không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức. Tuy nhiên, tỷ lệ cây bị bệnh hại (bệnh lở cổ rễ xuất hiện ở 1 - 14 NST và bệnh héo xanh vi khuẩn xuất hiện từ 30 NST) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các tổ hợp phân bón. Nghiệm thức A1B2 (150 kg N/ha + 80 kg K2O/ha) có tỷ lệ cây bị bệnh hại thấp nhất (3,3%), trong khi nghiệm thức bón đạm và kali cao nhất A3B3 (210 kg N/ha + 120 kg K2O/ha) có tỷ lệ cây bị bệnh hại cao nhất (20,0%). Tác giả phân tích rằng việc bón tăng liều lượng phân đạm kích thích mô non phát triển nhanh, thành tế bào mềm yếu khiến vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhiễm.

  2. Khả năng phát triển và phẩm chất hoa: Số nụ trên cây dao động từ 8,3 đến 10,1 nụ/cây; độ bền hoa dao động từ 16,7 đến 21,7 ngày; cả hai chỉ tiêu này đều không khác biệt có ý nghĩa thống kê theo các mức phân. Về số hoa/cây, nghiệm thức A2B1 (180 kg N/ha + 40 kg K2O/ha) đạt cao nhất (7,2 hoa/cây), tương đương với nghiệm thức A1B1 (7,0 hoa/cây). Đường kính hoa chịu ảnh hưởng rất có ý nghĩa của phân đạm (F = 6,7**), phân kali (F = 4,7**) và tương tác đạm x kali (F = 3,6*): mức đạm 150 kg N/ha đạt đường kính hoa trung bình 8,4 cm; mức kali 40 kg K2O/ha đạt 8,5 cm. Tổ hợp A2B1 đạt đường kính hoa lớn nhất (8,7 cm), kế tiếp là A1B2 (8,6 cm) và A1B1 (8,4 cm); thấp nhất là A3B3 chỉ đạt 7,5 cm.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã xác lập các dẫn liệu thực nghiệm định lượng về phản ứng sinh trưởng và chất lượng hoa cúc lá nhám đối với 9 tổ hợp phân đạm và kali trồng luống tại Thủ Đức.

Bảng tổng hợp các chỉ tiêu sinh trưởng và phẩm chất hoa chính giữa các nghiệm thức tại thời điểm 35 - 50 NST:

Nghiệm thức Mức N (kg/ha) Mức K2O (kg/ha) Chiều cao cây tại 35 NST (cm) Đường kính thân tại 35 NST (mm) Đường kính tán tại 35 NST (cm) Tỷ lệ bệnh hại (%) Đường kính hoa (cm) Độ bền hoa (ngày)
A1B1 (ĐC) 150 40 73,2 12,3 56,3 10,0 8,4 18,3
A1B2 150 80 72,2 12,2 53,4 3,3 8,6 21,7
A1B3 150 120 62,7 11,0 60,8 13,3 8,3 18,0
A2B1 180 40 65,6 11,1 52,9 10,0 8,7 20,3
A2B2 180 80 59,3 10,8 50,9 13,3 7,7 17,3
A2B3 180 120 64,6 11,5 54,1 16,7 8,3 16,7
A3B1 210 40 63,1 11,3 51,9 16,7 8,3 19,3
A3B2 210 80 64,8 10,3 52,7 13,3 7,8 17,0
A3B3 210 120 67,3 10,8 53,9 20,0 7,5 17,7

Từ kết quả trên, tác giả rút ra các kết luận và giải pháp kỹ thuật cụ thể:

  • Trong điều kiện vụ Xuân Hè tại TP.HCM, nghiệm thức đối chứng A1B1 kết hợp 150 kg N/ha + 40 kg K2O/ha (trên nền phân 500 kg vôi + 150 kg phân gà hữu cơ + 100 kg P2O5 + 1 kg nấm Trichoderma/ha) là công thức tối ưu nhất. Công thức này giúp cây sinh trưởng cân đối: thời gian sinh trưởng phát triển đạt 81,7 ngày, chiều cao cây đạt 73,2 cm, đường kính thân đạt 12,3 mm, số nhánh cấp 1 đạt 7,8 nhánh/cây, số cặp lá đạt 47,2 cặp/cây, đường kính tán đạt 56,3 cm; số nụ đạt 9,4 nụ/cây, số hoa đạt 7,0 hoa/cây, đường kính hoa đạt 8,4 cm, độ bền hoa đạt 18,3 ngày, tỷ lệ hoa nở/cây đạt 77,3% và tỷ lệ cây nở hoa/ha đạt 84,7%.
  • Khuyến nghị sản xuất: Bón ở mức 150 kg N/ha kết hợp 40 kg K2O/ha không chỉ giúp luống hoa đạt độ che phủ và thẩm mỹ cao mà còn tiết kiệm đáng kể chi phí phân bón vô cơ, đồng thời hạn chế tỷ lệ phát sinh bệnh hại so với việc tăng phân đạm lên các mức 180 - 210 kg N/ha.

Về mặt đóng góp khoa học so với các nghiên cứu trước, kết quả của đề tài khẳng định cúc lá nhám trồng luống trên đất xám bạc màu có mức nhu cầu phân đạm và kali ở ngưỡng vừa phải (150 kg N/ha và 40 kg K2O/ha), tương đồng với kết quả của Larik và ctv (1999) tại Pakistan (150 kg N/ha kết hợp 37,5 kg K2O/ha cho chiều cao 74,5 cm), đồng thời thấp hơn đáng kể so với mức khuyến cáo kali chung cho các giống hoa cúc thương phẩm khác (thường từ 100 - 120 kg K2O/ha theo Phạm Văn Duệ, 2005).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo trình bày trung thực của tác giả trong văn bản khóa luận, nghiên cứu có các giới hạn và hạn chế tồn tại sau:

  • Hạn chế kinh phí: Đề tài chưa tiến hành lấy mẫu và phân tích lại các đặc tính lý hóa của đất sau khi thu hoạch hoa thí nghiệm, do đó chưa đánh giá được mức độ hấp thu dinh dưỡng thực tế của cây cũng như lượng phân bón tồn dư hoặc tác động làm thay đổi độ phì đất xám bạc màu.
  • Phạm vi mùa vụ và địa bàn: Thí nghiệm mới được khảo nghiệm đơn lẻ trong một vụ duy nhất (vụ Xuân Hè năm 2023) tại địa bàn Thủ Đức. Do độ ẩm không khí trong các tháng 4 - 5 tăng cao kèm mưa nhiều, sự phát sinh của bệnh héo xanh vi khuẩn và lở cổ rễ đã làm ảnh hưởng cục bộ đến một số chỉ tiêu theo dõi.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, văn bản gợi mở cần mở rộng khảo nghiệm công thức phân bón 150 kg N/ha + 40 kg K2O/ha trên các mùa vụ khác nhau trong năm (đặc biệt là vụ Thu Đông phục vụ thị trường hoa Tết), tiến hành trên nhiều chân đất canh tác khác nhau, và bổ sung các chỉ tiêu phân tích tồn dư hóa chất đất - cây sau vụ trồng nhằm hoàn thiện quy trình canh tác bền vững.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Kim Oanh có giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn trong ngành trồng trọt:

  • Đối tượng sử dụng: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Nông học, Khoa học Cây trồng, Bảo vệ Thực vật, Hoa viên Cảnh quan; cũng như các kỹ thuật viên tại các trung tâm khuyến nông, công ty cây xanh đô thị và nhà vườn sản xuất hoa cảnh.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Bảng số liệu phân tích lý hóa đất xám bạc màu tại Thủ Đức (Bảng 2.2) và số liệu quan trắc khí tượng vụ Xuân Hè 2023 (Bảng 2.1).
    • Quy trình kỹ thuật canh tác thực nghiệm chi tiết từ khâu ươm khay xốp 84 lỗ, mật độ trồng luống 62.500 cây/ha, kỹ thuật bấm ngọn ở 12 - 15 NST chừa 5 - 6 cặp lá thật, đến lịch trình chia tỷ lệ bón thúc N - K ở 10, 30, 50 NST (Mục 2.7).
    • Phương pháp bố trí thí nghiệm hai yếu tố RCBD trên cây hoa trồng luống và quy trình thống kê trắc nghiệm LSD bằng phần mềm R (Mục 2.4 và 2.6).
    • Các bảng dữ liệu định lượng so sánh chi tiết ảnh hưởng của các mức đạm và kali đến động thái tăng trưởng chiều cao cây, đường kính thân, sự nở hoa và tỷ lệ bệnh hại ngoài đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổ hợp phân bón nào mang lại hiệu quả sinh trưởng và phẩm chất hoa tốt nhất trong khóa luận?

Nghiệm thức A1B1 kết hợp 150 kg N/ha và 40 kg K2O/ha (trên nền phân 500 kg vôi, 150 kg phân gà hữu cơ, 100 kg P2O5 và 1 kg nấm Trichoderma/ha) mang lại kết quả toàn diện nhất. Ở nghiệm thức này, cây đạt chiều cao 73,2 cm, đường kính thân 12,3 mm, đường kính tán 56,3 cm, 47,2 cặp lá, 9,4 nụ/cây, 7,0 hoa/cây, đường kính hoa 8,4 cm, độ bền hoa 18,3 ngày, tỷ lệ nở hoa đạt 77,3% và tỷ lệ cây nở hoa/ha đạt 84,7%.

2. Việc tăng lượng phân đạm lên 180 kg/ha hoặc 210 kg/ha có làm tăng kích thước thân cây và chiều cao hay không?

Không. Kết quả phân tích thống kê tại 35 NST cho thấy việc tăng lượng đạm lên 180 kg N/ha hoặc 210 kg N/ha làm giảm chiều cao cây trung bình (lần lượt đạt 63,1 cm và 65,1 cm) so với mức 150 kg N/ha (đạt 69,4 cm, F = 8,3**). Đường kính thân ở mức 150 kg N/ha cũng đạt giá trị lớn nhất (11,8 mm), cao hơn rõ rệt so với mức 180 kg N/ha (11,1 mm) và 210 kg N/ha (10,8 mm). Bón thừa đạm không giúp cây to cao hơn mà còn làm thân mềm yếu.

3. Liều lượng phân đạm và kali ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ sâu bệnh hại?

Liều lượng phân bón không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với tỷ lệ sâu hại (sâu khoang, cào cào dao động 6,7 - 16,7%). Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh hại (lở cổ rễ và héo xanh) có sự khác biệt rất rõ rệt: nghiệm thức bón đạm thấp kết hợp kali trung bình (A1B2: 150 kg N + 80 kg K2O/ha) có tỷ lệ bệnh thấp nhất (3,3%), trong khi nghiệm thức bón đạm và kali cao nhất (A3B3: 210 kg N + 120 kg K2O/ha) có tỷ lệ bệnh cao nhất (20,0%). Bón đạm cao làm tăng tốc độ sinh trưởng mô non, tạo điều kiện cho nấm và vi khuẩn gây bệnh tấn công.

4. Lượng phân đạm và kali thí nghiệm được chia bón vào các thời điểm nào và theo tỷ lệ bao nhiêu?

Tổng lượng phân đạm và kali thí nghiệm được chia làm 3 lần bón thúc quanh gốc (kết hợp xới xáo cách gốc 5 - 10 cm):

  • Thời điểm 10 ngày sau trồng (10 NST): Bón 30% tổng lượng N và 20% tổng lượng K2O.
  • Thời điểm 30 ngày sau trồng (30 NST): Bón 40% tổng lượng N và 40% tổng lượng K2O.
  • Thời điểm 50 ngày sau trồng (50 NST): Bón 30% tổng lượng N và 40% tổng lượng K2O.

5. Liều lượng phân đạm và kali có làm thay đổi các mốc thời gian phân nhánh, ra nụ và ra hoa không?

Không. Các chỉ tiêu ngày phân nhánh (10,7 - 14,3 NST), ngày ra nụ (32,3 - 36,3 NST) và ngày ra hoa (42,0 - 46,7 NST) đều khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các mức phân bón đạm, kali cũng như tương tác giữa chúng. Các mốc phát triển này phụ thuộc chủ yếu vào đặc tính di truyền của giống và quang kỳ. Riêng tổng thời gian sinh trưởng phát triển (tính đến khi 50% hoa tàn) chịu ảnh hưởng của tương tác đạm x kali, dao động từ 81,7 đến 87,3 ngày.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Kim Oanh đã giải quyết trọn vẹn nhiệm vụ thực nghiệm về chế độ dinh dưỡng khoáng cho cây cúc lá nhám (Zinnia sp.) trồng luống vụ Xuân Hè 2023 trên đất xám bạc màu tại Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Các dữ liệu định lượng thu thập qua thí nghiệm hai yếu tố RCBD đã chứng minh công thức phối hợp 150 kg N/ha kết hợp 40 kg K2O/ha giúp cây sinh trưởng thân lá vững chắc, hoa đạt kích thước và độ bền cao, đồng thời hạn chế tỷ lệ nhiễm bệnh hại ngoài đồng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp người trồng hoa đô thị tối ưu hóa quy trình bón phân, giảm thiểu chi phí đầu vào và nâng cao giá trị cảnh quan của cúc lá nhám.