Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cúc lá nhám 1.1 Nguồn gốc và phân loại Hoa cúc lá nhám có nguồn gốc từ Mexico, phân bố từ Hoa Kỳ đến Argentina. Cây hoa cúc lá nhám được phát triển từ các thực vật hoang dã ở Mexico. Giống cây hoa cúc lá nhám đã tách ra va được thuân hóa ở nhiêu khu vực thuộc miên Nam nước Mỹ, bao gồm trung tâm Florida (M. Hoa cúc lá nhám hay còn gọi là cúc zinnia, cúc cánh giây, duyên cúc, có tên khoa học là Zinnia elegans thuộc chi Zinnia là một chi thực vật gồm 200 loài cây đơn và đa niên có hoa thuộc họ Cúc (M.2 Đặc điểm thực vật học Rễ cây hoa cúc lá nhám thuộc loại rễ chùm, ăn sâu khoảng 5 - 10 cm, chủ yếu phát triển theo chiều ngang, thích hợp với đất thoáng khí giàu mùn, giàu dinh dưỡng.
Khối lượng bộ rễ khá lớn do sinh nhiều rễ phụ và lông hút nên khả năng hút nước và chất dinh dưỡng mạnh. Thân cúc lá nhám thuộc loại thân thảo sống hàng năm, khả năng phân nhánh mạnh có nhiều đốt, giòn dé gãy. Thân cũng có màu xanh giống với lá và cũng có nhiều lông con, khi thân già có màu tía (M. Theo Ruiten và Jong (1984), thì chiều cao cây, mức độ phân cành, độ mềm hoặc cứng phụ thuộc rất lớn vào đặc tính đi truyền của giống.
Giống cúc cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc tinh di truyền của giống. Giống cúc thấp nhất chi cao 20 - 30 cm, còn giông cúc cao nhât có thê cao trên 3 m. Lá cây cúc lá nhám thuộc loại lá đơn, có dạng hình trứng đều đến dạng hình giáo, mọc đối và ôm vào thân cây. Mặt dưới lá có nhiều lông tơ bao phủ, mặt trên lá có ít lông hơn, khi sờ vào cảm thấy rất nhám.
Gân lá có dạng mạng lưới, gân chính nỗi rõ và có màu trăng. Từ mỗi mách lá thường phát sinh một mầm nhánh, phiến lá to hay nhỏ phụ thuộc vào đặc điểm của giống và chế độ chăm sóc (M. Hình dạng hoa cúc rất đặc trưng bởi có cụm hoa đầu trạng. Cụm hoa đầu trạng rất điển hình là trục chính của cụm hoa phát triển rộng ra thành hình đĩa phăng hoặc lồi, trên đó có các hoa không cuống sắp xếp xít nhau, phía ngoài cụm hoa có các lá bắc xếp thành vòng, cả cụm hoa có dạng như một bông hoa.
Hoa cúc có thể lưỡng tính hoặc đơn tính. Hoa có nhiều màu sắc và đường kính rat đa dạng, đường kính có thé từ 1,5 - 12 cm. Hình dang của hoa có thé là đơn hoặc kép, thường mọc nhiều hoa trên một cành, phát sinh từ những nách lá. Hoa cúc tuy là lưỡng tính nhưng thường không thé tự thụ phan, nếu muốn lấy hạt giống thì phải tiến hành tụ phan nhân tạo (Võ Văn Chi và Duong Đức Tiến, 1988).
Cụ thể, hoa cúc lá nhám mọc trên đỉnh sinh trưởng của thân chính vả cảnh nhánh. Hoa có rất nhiều mau nổi bật và đa dạng. Kích thước của hoa luôn thay đổi từ khi nở đến lúc tan. Đặc biệt hoa có độ bền rất lâu, nếu được trồng trong điều kiện tối hảo, từ khi hoa nở đến lúc tàn có thể kéo dài khoảng một tháng.
Cúc lá nhám gồm 2 hình thức hoa đơn và kép, hiện nay giống cúc lá nhám kép duoc trồng phổ biến nhất (Lê Kim Biên, 1984). Qua cúc dang quả bề khô chỉ chứa một hạt, hình trụ hoi det, hạt có phôi thang va không có nội nhũ, hạt cúc lá nhám khá nhỏ P1000 hat = 7,4 gam (Lê Kim Biên, 1984). Giống hoa cúc lá nhám được sử dụng trong thí nghiệm thuộc nhóm hoa đại đóa cánh kép có nhiều tầng cánh, xếp từng vòng xít nhau, cánh hoa dài cong. Chiều cao cây dao động từ 70 - 100 cm, đường kính hoa từ 7 - 10 em.
Mau sắc hoa đa dạng như đỏ, cam, vàng, hồng, trắng, tím.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cúc lá nhám 1.1 Nhiệt độ Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự sinh trưởng, phát triển, nở hoa và chất lượng hoa cúc. Cây hoa cúc có nguồn gốc ôn đới nên ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ cho cây cúc sinh trưởng phát triển tốt là 15 - 20°C. Cúc có thé chịu 4 được nhiệt độ từ 10 - 35°C, nhưng trên 35°C và dưới 10°C sẽ làm cho cúc ngừng sinh trưởng và phát triển (Myster và Moe, 1995). Tuy nhiên, đối với cây hoa cúc lá nhám có phạm vi sinh trưởng và phát triển khá rộng.
Cây bắt đầu sinh trưởng ở nhiệt độ 16°C, thích hợp nhất ở nhiệt độ 20°C - 22°C và chịu được nhiệt độ cao.2 Âm độ Cây hoa cúc nói chung và cúc lá nhám nói riêng là cây trồng cạn, không chịu được ting. Độ âm đất 60 - 70%, đồ am không khí 55 - 65% thuận lợi cho cúc sinh trưởng, néu âm độ không khí quá cao sẽ làm cho hoa dé bị thối nát gây khó khăn cho việc thu hoạch (Hoogeweg, 1999). Trong quá trình sinh trưởng tùy theo điều kiện thời tiết mà luôn cung cấp đủ lượng nước cho cúc bằng biện pháp bơm nước tưới cho cây (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2003).3 Ánh sáng Thời kỳ đầu cây non mới ra rễ thì cây cần ít ánh sáng, cụ thể khi cây ươm nhỏ có thể che nang 50%. Trong quá trình sinh trưởng, ánh sáng quá mạnh sé lam cho cây cham lớn và chất lượng hoa giảm.
Quang kỳ ảnh hưởng đến quá trình ra hoa của cúc, khi thời gian chiếu sáng bằng hoặc ngắn hơn độ dài chiếu sáng tới hạn thì hình thành mầm hoa và nụ, khi thời gian chiếu sáng dai hơn độ dai chiếu sáng tới han thì không thé hình thành mầm hoa. Quang kỳ cũng ảnh hưởng đến chất lượng hoa cúc, giai đoạn sinh trưởng cây cần ánh sáng đài trên 13 giờ, thời kỳ phân hóa mầm hoa cây cần ánh sáng ngày ngắn từ 10 - 11 giờ thì chất lượng hoa cúc tốt nhất. Cây họ cúc nói chung và cúc lá nhám nói riêng là loại cây ngày ngắn ưa sáng, khi trưởng thành có thé chịu được ánh sáng trực xạ. Cường độ ánh sáng thích hợp cho hoa cúc lá nhám từ 1.000 lux, ánh sáng tối thích từ 2.
Thời kì đầu các mầm non mới ra rễ cần ít ánh sáng, thời kỳ cây chuyền sang giai đoạn phân cành cần nhiều ánh sáng dé quang hợp tạo chất hữu cơ cần thiết cho hoạt động sống của cây. Trong quá trình phát triển cơ quan sinh sản nếu cường độ ánh sáng cao trên 3.000 lux cây sẽ ra hoa sớm, nêu cường độ ánh sáng thấp dưới 1.000 lux thì quá trình ra nụ, nở hoa sẽ chậm lại (Đoàn Thị Hạnh, 2013). Vụ Xuân Hè 2023 có cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cúc lá nhám. Thời gian chiếu sáng ở tháng 5 2 thuận lợi cho giai đoạn vườn ươm, tháng 3 - 4 số giờ năng thích hợp cho sự sinh trưởng của cúc lá nhám, Tuy nhiên vẫn còn hạn chế về chiều cao do thời gian chiếu sáng trong ngày it vào giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng.4 Nhu cầu về dinh dưỡng của hoa cúc lá nhám Theo Nguyễn Quang Thạch và Đặng Văn Đông (2002), nhu cầu dinh dưỡng về các nguyên tố đa lượng của cúc lá nhám là: 1.1 Phân đạm (N) Bón đạm giúp thúc đây quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều, lá to, màu xanh, lá quang hợp mạnh.
Thiếu đạm làm cây sinh trưởng kém, phát dục nhanh, lá bị vàng, hoa ra sớm, đồng thời hoa bé và xấu. Thừa đạm cây sinh trưởng than, lá mạnh, nhưng vống, mềm, yếu, dé bị đồ ngã, ra hoa muộn hoa không ra hoa, sâu bệnh phát sinh, phát triển nhiều. Lượng phân đạm nguyên chất cây cúc cần là 160 - 180 kg N/ha (Phạm Văn Duệ, 2005).2 Phân lân (P20s) Trong quá trình sinh trưởng của cúc lá nhám rất cần lân vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực, thời kỳ hình thành nụ và hoa. Bón lân giúp kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra xung quanh, giúp tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tô không thuận lợi.
Thiếu lân số lá già tăng, bộ rễ phát triển kém, cuống hoa ngắn, hoa ít, mau tàn, màu sắc nhợt nhạt. Lượng phân lân nguyên chất cho cây cúc cần là 100 - 140 kg P20s/ha (Phạm Van Duệ, 2005).3 Phan kali (K2O) Trong quá trình sinh trưởng, cúc lá nhám cần kali vào thời kì tiết nụ, nở hoa. Nếu thiếu kali hoa sẽ có màu sắc nhợt nhạt, cánh hoa mềm, hoa mau tàn. Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không thuận lợi từ bên ngoài và chống chịu đối với một số loại bệnh.
Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đồ ngã, tăng cường tính chịu rét, chịu hạn, chịu ung và khả năng quang hợp. Lượng phan kali nguyên chất cho cây cúc cần là 100 - 120 kg K2O/ha (Phạm Văn Duệ, 2005).4 Các nguyên tổ khác Canxi, giúp cây tăng cường hút đạm và tăng tính chống chịu với một số sâu bệnh hại. Magie góp phần trong quá trình quang hợp, đồng thời làm cho sự vận chuyền lân và chất đường trong cây dién ra nhanh hơn. Các nguyên tố vi lượng khác như đồng, bo, mangan, kẽm, coban cũng cần thiết cho cúc lá nhám sinh trưởng và phát triển.2 Sơ lược về phân bón 1.1 Khái niệm về phân bón Theo Lê Trọng Hiếu (2018), “Phân bón là các chất, hợp chất vô cơ hay hữu cơ, tự nhiên hay tông hợp được bón vào trong đất, phun qua lá để cung cấp các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng đồng thời duy trì độ phì nhiêu của đất.
Phân bón được dung dé tăng tốc độ sinh trưởng, năng suất, chất lượng hay giá trị dinh dưỡng của cây trồng gián tiếp hay trực tiếp duy trì và làm tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất”.2 Phân loại phần bón Về mặt hóa học: Phân bón được chia làm các nhóm gồm phân vô cơ, phân hữu cơ, phân vi sinh. Phân vô cơ là phân bón mà thành phần cấu tạo phân tử không có nguyên tố carbon, chất dinh dưỡng ở dang muối vô co,trong nhóm này gồm có: phân hóa học, phân khoáng. Phân hữu cơ là phân nguồn gốc từ động thực vật là phân gia súc, gia cầm, than bùn, phân xanh, phân rác, phân ủ dư thừa thực vật, bùn ao, bùn công, chúng có thé cung cap chất dinh dưỡng cho cây trồng va cải thiện ly tính của đất.