Mở đầu Chương 2: Tổng quan Chương 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 2 CHƯƠNG 2. Giới thiệu chung Đậu nành có tên khoa học là [Glycine max (L. Đậu nành có nguồn gốc từ Mãn Châu Trung Quốc khoảng 5000 năm trước đây, nhưng mãi đến năm 3000 trước Thiên chúa giáng sinh mới được ghi vào cổ thư, là một nông phẩm chính của miền bắc Trung Quốc (Mandal S và cộng sự, 2000). Sau đó thì được lan truyền sang Nhật, Hàn Quốc và Đông Nam Á.
Năm 1712, đậu nành được du nhập vào Châu Âu bởi Englebert Kaempfer, nhà thực vật học người Đức đã được học ở Nhật. Một nhà thực vật học người Thụy Điển Carl von Linne đã hoàn tất nghiên cứu đậu nành và đặt tên cho nó là Glycine max bởi những nốt sần ở rễ. Không may là đất và khí hậu không thích hợp ở Châu Âu đã làm cho sự thử nghiệm sản xuất đậu nành bị ngưng (Leffer RC, 1992). Cây đậu nành đến Mỹ những năm 1800.
Thời đó đậu nành được sử dụng như một ballast (vật nặng giữ cho tàu thuyền cân bằng khi không có hàng) cho những thuyền có hành trình xa từ Trung Quốc và được dỡ hàng nhường chỗ cho hàng hóa trong chuyến đi kế tiếp. Vì tò mò, một vài người nông dân đã trồng hạt đậu nành (Kim M và cộng sự, 2016). Cây đậu nành đầu tiên trồng ở Mỹ là cây đậu đã lớn lên ở Pennsylvania. Tại Việt Nam, đậu nành được trồng nhiều ở miền núi vùng trung du phía bắc (Cao Bằng, Sơn La, Bắc Giang) chiếm hơn 40% diện tích đậu nành cả nước.
Ngoài ra đậu nành còn trồng ở các tỉnh Hà Tây, Đồng Nai, Đắk Lắk. Theo thống kê mỗi năm trồng khoảng 200.000 ha đậu nành, chủ yếu là vụ đông, sản lượng 300. Tuy vậy nhu cầu này mới đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu trong nước và sẽ tăng khoảng 10% trên năm. Đây là loại cây lấy hạt có dầu được trồng rộng rãi nhất trên thế giới và chiếm 56% sản lượng hạt có dầu thực vật của thế giới vào năm 2013.
Đậu nành có chứa một số protein hoạt tính sinh học (ví dụ: Bowman-Birkinhibitor; BBI), chất béo như axit béo không bão hòa đơn (axit oleic) và axit béo không bão hòa đa (PUFA, n-3; axit α-linolenic, n-6; axit linoleic), cũng như cacbohydrate hòa tan và không hòa tan (ví dụ: raffinose, xenluloza, pectin). Một số nghiên cứu trên người và động vật cho rằng đậu nành mang lại lợi ích về sức khỏe đáng kể, bao gồm ngăn ngừa bệnh tim và một số bệnh ung thư. Ngoài ra, đậu nành còn được sử dụng làm nguồn ứng dụng công nghiệp và dược phẩm cũng như sản xuất dầu diesel sinh học (Goldberg và Stacey, 2008). Nó chứa khoảng 40% protein (gấp đôi so với hầu hết các 3 loại đậu khác) và 20% chất béo.
Hơn thế nữa, đậu nành còn là nguồn cung cấp canxi, sắt, kẽm, phospho, magie, thiamin, riboflavin, niacin và folacin, chứa một lượng lớn isoflavone diadzein, gen istein và glycitein (1-3 mg/g) và các liên hợp acetyl và malonyl của chúng (Song và cộng sự, 1998). Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ và thành phần khác nhau trong các loại đậu nành khác nhau hoặc các sản phẩm protein đậu nành (Murphy, 1982) và sự thay đổi này là do sự khác biệt giữa các loài (Franke và cộng sự, 1995), điều kiện địa lý, môi trường và mức độ chế biến công nghiệp đậu nành. Về mặt thực vật, đậu nành thuộc họ Leguminosae, phân họ Papilionoideae, và chi Glycine, L. Dạng trồng trọt, tên là Glycine max (L.
Cây thân bụi với chiều cao từ 0.25m, đẻ nhánh thưa hoặc dày đặc, tùy thuộc vào giống cây trồng và điều kiện trồng trọt (Keshun Liu, 1997). Cấu tạo hạt đậu nành Hạt đậu nành có nhiều hình dạng khác nhau từ tròn tới thon dài và dẹt. Cấu tạo hạt đậu nành gồm 3 phần: vỏ hạt, phôi, nhân. Vỏ là lớp ngoài cùng, có nhiều màu khác nhau đặc trưng cho từng loại giống, thường có màu vàng hay màu trắng, hàm lượng anthocyane quyết định màu vỏ của hạt.
Vỏ có tác dụng bảo vệ phôi mầm chống lại sự xâm nhập của nấm và vi khuẩn. Nếu nó bị nứt, hạt giống có rất ít cơ hội nảy mầm (Keshun Liu, 1997). Phôi là rễ mầm, là phần sinh trưởng của hạt khi lên mầm, đóng vai trò dự trữ thức ăn. Phôi thai chiếm 90% trọng lượng hạt, bao gồm hai lá mầm và trục phôi.
Radicle, hypocotyl và epicotyl tạo thành trục phôi. Trong quá trình nảy mầm, lá mầm đóng vai trò là nguồn dự trữ thức ăn cho cây đang phát triển, radicle trở thành rễ chính, hypocotyl nâng các ledon và epicotyl lên trên bề mặt đất, và epicotyl có chức năng như thân cây, các lá mầm là các bộ phận quan trọng nhất của hạt vì chúng là kho chứa protein và dầu. Thành phần hóa học của đậu nành Trung bình, dầu và protein chiếm khoảng 60% lượng đậu nành khô. Phần chất khô còn lại bao gồm chủ yếu là carbohydrate (khoảng 35%) và tro (khoảng 5%).
Thành phần thực tế của toàn bộ đậu nành và các bộ phận cấu trúc của nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm giống, mùa trồng trọt, vị trí địa lý và tác động từ môi trường. Liu và cộng sự (l995) báo cáo rằng trong số 10 kiểu gen đậu nành được chọn trồng ở Arkansas, trên cơ sở chất khô, protein thay đổi từ 3. Hạn hán và nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến thành phần hóa học của đậu nành. Dornbos và Mullen (1992) báo cáo rằng hạn 4 hán nghiêm trọng làm hàm lượng protein tăng 4.4%, trong khi hàm lượng dầu giảm 2.
Thành phần hóa học của hạt đậu nành Thành phần Tỷ lệ Protein (%) Lipid (%) Carbohydrate Tro (%) hạt (%) Nguyên hạt 100.4 Protein đậu nành Trong thành phần hóa học của đậu nành, thành phần protein chiếm 1 tỷ lượng rất lớn. Hàm lượng protein dao động trong hạt đậu nành từ 29,6-50,5%, trung bình 36-40%. Đa số protein đậu nành là protein dự trữ. Dựa trên các kiểu hòa tan, protein của hạt đậu được phân chia thành các albumin và globulin.
Albumin hòa tan trong nước, trong khi globulin hòa tan trong dung dịch muối. Theo hệ thống phân loại này, hầu hết protein đậu nành là globulin. Globulin trong nhiều loài cây họ đậu được chia thành hai loại riêng biệt: legumin và vicilin. So với vicilin, legumin có kích thước phân tử lớn hơn, khả năng hòa tan ít hơn trong dung dịch muối và độ bền nhiệt cao hơn.
Chúng cũng chiếm một phần chính trong tổng số globulin của hạt họ đậu. Các protein khác được tìm thấy trong cơ thể protein bao gồm lectin, chất trypsin ức chế và một số lượng lớn các polypeptide không xác định khác (Lei và Reeck 1987). Các nhóm protein đơn giản Anbumin (6-8%), Globulin (25-34%), Glutelin (13- 14%), Prolamin chiếm lượng nhỏ không đáng kể. Là nguồn protein hoàn chỉnh (chứa tất cả chín axit amin thiết yếu, mặc dù hàm lượng methionine thấp) có Acid Amin không thể thiếu có thể tiêu hóa cao Score (DIAAS), ngang bằng với các nguồn protein động vật như trứng và sữa (S.ko và cộng sự, 2001).
Do đó, đậu nành đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ trong ngành công nghiệp thực phẩm và có thể thay thế thịt. Beta-conglycinin và glycinin là nguồn chính của protein đậu nành, chiếm ~ 65–80% tổng số protein và tạo thành tiền chất của hầu hết các peptide được phân lập từ đậu nành. Trong số các peptide khác nhau, nhiều loại đã được chứng minh là có tác dụng chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch, chống ung thư, kháng 5 khuẩn, ức chế men chuyển angiotensin (ACE) và các hoạt động điều hòa insulin (S.Ko và cộng sự, 2001). Trong protein đậu nành, hai loại protein dự trữ: β-conglycinin (7S globulin) và glycinin (11S globulin) chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Glycinin là một hexamer có khối lượng phân tử nằm trong khoảng 320–375 x 103 g/mol (Badley và cộng sự, 1975). Hai trime được kết nối bằng các liên kết kỵ nước, tĩnh điện, hydro và ion để tạo thành các hexamer (Adachi và cộng sự, 2001). Mỗi trime được tạo thành từ ba tiểu đơn vị monome và mỗi tiểu đơn vị bao gồm một polypeptide có tính axit và một polypeptide cơ bản được liên kết cộng hóa trị bằng một liên kết disulfua (Medic và cộng sự, 2014). Các tiểu đơn vị đơn phân của nó có cấu trúc tổng quát A–S–S–B, trong đó A đại diện cho mọt polypeptide có tính axit khoảng 34–44 kDa, B là một polypeptide cơ bản có kích thước khoảng 20kDa và S–S là một liên kết disunfua đơn liên kết hai polypeptide (KeShun Liu, 1997).
Năm tiểu đơn vị đơn phân chính của glycinin là: A1aB2, A1bB1b, A2B1a, A3B4 và A5A4B3, trong đó A và B lần lượt là viết tắt của polypeptide có tính axit và bazơ. Tiểu đơn vị A5A4B3 hơi khác so với những đơn vị khác vì nó chứa một polypeptide có tính axit bổ sung trong cấu trúc của nó. Trong một báo cáo trước đây của Thanh và Shibasaki (1976a) thì β–Conglycinin là một loại protein vicilin. Protein này được phân đoạn thành sáu đồng phân (B 1 đến B6 conglycinin).
β–Conglycinin bao gồm ba đơn vị con α, α’và β với khối lượng phân tử lần lượt là 76.72 và 53x10 3 g/mol, các tiểu đơn vị liên kết thông qua liên kết hydro và kỵ nước (Murphy P, 2008). Cả ba tiểu đơn vị chính đều giàu aspartate/asparagine, glutamate/ glutamine, leucine và arginine. Hai tiểu đơn vị, α và α', rất giống nhau về thành phần axit amin. Cả hai đều không có cystein và có hàm lượng methionine thấp.
Ngược lại, tiểu đơn vị β không chứa methionine (Nieen 1985a). Ngoài ra, tất cả các tiểu đơn vị β– conglycinin đều là glycoprotein và chứa 4–5% carbohydrate. Do đó, 7S globulin được coi là glycosyl hóa (Pernollet và Mosse, 1983). Nó tạo ra các chất thủy phân đã được chứng minh là giúp duy trì tính toàn vẹn của niêm mạc ruột (Ravindran và cộng sự, 2014), điều chỉnh sự cân bằng của hệ vi khuẩn đường ruột, duy trì sức khỏe đường ruột và giảm lượng mầm bệnh đường ruột xâm nhập (Sandhu D và cộng sự, 2007).
Các nghiên cứu in vitro cũng cho thấy rằng glycopeptide đậu nành (được điều chế từ sản phẩm thủy phân của β - 6 conglycinin) ức chế sự kết dính mầm bệnh đường ruột, cụ thể là Es cherichia coli, Salmonella typhimurium và Salmonella enteritidis, cũng như ngăn ngừa tổn thương do nhiễm vi khuẩn đối với màng sinh chất của tế bào LoVo. Hơn nữa, các chất thủy phân β- conglycinin có trọng lượng phân tử cao đã cải thiện sự phát triển của tế bào biểu mô và trong các tế bào Caco-2, làm tăng hiệu quả sức đề kháng đơn lớp xuyên biểu mô (TER) và giảm khả năng chuyển vị trí đơn lớp S.