Đặt vấn đề An Nhơn là thị xã của tỉnh Bình Định, có ngành trồng trọt và chăn nuôi chiếm vị trí khá quan trọng đã đem lại nguồn thu nhập cao cho người sản xuất. Cây ngô được xem là cây trồng chính thứ 2 sau cây lúa, tổng diện tích canh tác ngô hàng năm trên địa bàn thị xã bình quân chiếm từ 900-1. Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng được chú trọng, đặc biệt chăn nuôi bò thịt chất lượng cao đã và đang đem lại hiệu quả kinh tế đáng kể. Số lượng đàn bò lai, bò sữa và bò thịt ở địa phương ngày càng gia tăng.
Đến ngày 30/6/2019 số lượng đàn bò toàn thị xã là 33.284 con, trong đó bò thịt 31.260 con, sản lượng sữa tươi đạt 4. Do vậy, diện tích trồng ngô sinh khối làm thức ăn cho đàn gia súc trên địa bàn thị xã trong những năm gần đây phát triển mạnh đã góp phần gia tăng giá trị kinh tế đối với cây ngô và đảm bảo khối lượng thức ăn xanh cho ngành chăn nuôi nói chung và đàn bò lai nói riêng. Hiện nay, tại một số địa phương việc trồng ngô sinh khối ở quy mô nông hộ phát triển mạnh, góp phần đa dạng hóa cây trồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển đổi diện tích cây trồng hàng năm kém hiệu quả sang trồng ngô lấy sinh khối nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, rút ngắn thời gian canh tác, giảm bớt rủi ro trong sản xuất do thiên tai.
Các giống ngô lai trồng thu sinh khối tại các địa phương chủ yếu được nông dân sử dụng là các giống ngô lai trong và ngoài cơ cấu để trồng. Về mật độ trồng phổ biến hiện nay tại các vùng sản xuất khoảng từ 85.000 cây/ha đến 100.000 cây/ha, tùy theo kinh nghiệm của từng nông dân. Đến nay việc xác định mật độ trồng cho từng giống ngô thu sinh khối xanh làm thức ăn phục vụ chăn nuôi chưa có khuyến 2 cáo cụ thể. Do đó, để xác định mật độ trồng hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho cây ngô thu sinh khối xanh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất của bốn giống ngô thu sinh khối xanh trồng tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định”.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và sinh khối xanh của bốn giống ngô ở điều kiện thời tiết tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. - Qua nghiên cứu đề xuất mật độ trồng thích hợp và chọn ra giống ngô cho sinh khối cao nhất để đưa vào trồng sản xuất ở thị xã An Nhơn và một số huyện ở tỉnh Bình Định. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Bổ sung thêm tư liệu về cây ngô nói chung và cây ngô lấy thân, lá và trái non nói riêng. Đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài là tiền đề để tiếp tục các nghiên cứu về thời vụ, phân bón cho cây ngô.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đề xuất quy trình canh tác ngô lấy sinh khối thân, lá và trái non cao mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng ngô. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nguồn gốc, phân loại cây ngô Cây ngô (Zea mays L.) là cây lương thực được phát hiện cách đây 7.000 năm tại Mêxicô và Pêru. Những nghiên cứu về nguồn gốc cây trồng của Vavilov (1926) đã cho rằng Mêhico và Pêru là những trung tâm phát sinh và đa dạng di truyền của cây ngô.
Mêhico là trung tâm phát sinh thứ nhất, Pêru là trung tâm phát sinh thứ hai, nơi mà cây ngô đã trải qua quá trình tiến hóa nhanh chóng. Nhận định này của Vavilov đã được nhiều nhà khoa học tán thành (Galinat,1977; Wilkes, 1980). Đặc biệt Harsberger (1893) đã kết luận ngô bắt nguồn từ một cây hoang dại từ miền trung Mehico trên độ cao 1500m vùng bán khô hạn có lượng mưa mùa hè khoảng 350 mm (Wilkes, 1988) (theo trích dẫn từ Ngô Hữu Tình (2003). Đặc điểm hình thái và sinh trưởng của cây ngô Cây ngô có hệ rễ chùm tiêu biểu cho bộ rễ các cây họ hòa thảo, gồm có rễ mầm, rễ đốt, rễ chân kiềng (Đường Hồng Giật, 2004).
Tùy thuộc vào giống mà cây ngô có chiều cao thân và số lá trên thân khác nhau, thường những giống ngô ngắn ngày có 15 – 16 lá, giống trung ngày có 18 – 20 lá và giống dài ngày có trên 20 lá. Số lá là đặc điểm khá ổn định, có quan hệ chặt với số đốt và thời gian sinh trưởng của cây. Ngô là loại cây thân thẳng và đơn độc, không đẻ nhánh, trừ một số giống địa phương. Cây cao tới 2- 3 m.
Các đốt ở gốc mang rễ. Hai mặt lá hơi ráp, mép lá có lông, lá dài 4 – 50 cm. Bẹ lá nhẵn có lông mềm, lưỡi bẹ ngắn và có lông. Cụm hoa đực ở ngọn cây, có lông.
Cụm hoa cái ở nách lá lớn hình trụ và không cuống, có bẹ lá hẹp bao bọc. Đầu các nhụy có lông dài 10 – 20 cm, quả bóng, cứng, có nhiều màu xếp 8 - 10 dãy. Hạt có tỷ lệ nảy mầm rất cao. Chiều cao thân và số 4 lá trên cây là những yếu tố quyết định trọng lượng tươi của cây ngô, có ảnh hưởng lớn đối với năng suất sinh khối xanh cây ngô, (Bộ Nông nghiệp và PTNT Việt Nam, 2011).
Ngô là cây hàng năm,Theo Dương Minh (1999), có thể chia quá trình sinh trưởng, phát triển cây ngô thành các thời kỳ sau: - Thời kỳ nảy mầm Hạt trương đầy nước khoảng 24 giờ sau gieo. Khi đó đỉnh sinh trưởng vẫn còn là một khối u rộng nhưng bên trong đã phân hóa thành 5 - 7 lá mầm và đốt thân. Các chất dinh dưỡng trong hạt cũng đã phân hóa: Tinh bột tạo thành đường, protein phân hóa thành acid amin. Trong thời kỳ này, ngô cần nhiệt độ 28 - 300C, ẩm độ đất 80% và thoáng.
- Thời kỳ cây con Thời kỳ cây con (từ 1 đến 5 lá). Khi cây con 3 lá, cây ngô bắt đầu sống nhờ quang hợp và hấp thu dinh dưỡng từ rễ. Thời kỳ này quyết định số đốt và số lóng của cây, gặp điều kiện bất lợi cây sẽ cho ít đốt, ở cuối thời kỳ này đỉnh sinh trưởng của chồi nách hình thành. Vào thời kỳ này thân cây có thể cao 20 đến 30 cm.
- Thời kỳ tăng trưởng chậm Thời kỳ tăng trưởng chậm khi ngô có 5 lá đến phân hóa mầm hoa (20 - 25 NSG). Cây ngô phát triển chậm, chỉ vài mm/ngày, tuy nhiên các đỉnh sinh trưởng đã bắt đầu phát triển tạo mầm hoa đực, thời kỳ này cây ngô chịu ảnh hưởng của ánh sáng rất mạnh, nhất là những giống nhiệt đới. - Thời kỳ tăng trưởng tích cực Thời kỳ tăng trưởng tích cực khi ngô 20 - 25 ngày đến 40 - 45 NSG. Cây phát triển rất nhanh trong thời kỳ này, mỗi ngày có thể mọc thêm 2 - 5 cm, 5 nhất là vào lúc gần trổ cờ.
Hệ thống rễ và lượng chất khô trong cây cũng tăng rất nhanh. Số lượng và sức sống của hoa cũng được quyết định trong giai đoạn này, do đó cây ngô cũng cần nhiệt độ thích hợp 18 - 20 0C và ẩm độ 80%. - Thời kỳ trổ hoa Kéo dài 10 - 15 ngày từ khi cây trổ cờ, tung phấn, phun râu đến khi hình thành hạt. Thời kỳ này cây ngô hấp thụ nhiều nước (2 lít/cây/ngày) và cần nhiều dinh dưỡng.
Nhiệt độ thích hợp 22 - 25 0C, thấp hơn 200C hoặc cao hơn 350C sẽ ảnh hưởng đến trổ và thụ phấn. - Thời kỳ tạo hạt đến chín Kéo dài 25 đến 35 ngày tùy theo giống và thời vụ, trong vụ Đông Xuân, giai đoạn này kéo dài làm no hạt và năng suất ổn định hơn vụ Hè Thu. Trong thời kỳ tạo hạt, dinh dưỡng từ thân, lá, cờ, lá bi được chuyển về bắp để nuôi hạt. Hệ thống rễ cũng hoạt động mạnh, hấp thu nước và dinh dưỡng để nuôi hạt.
Do cây ngô thu sinh khối làm thức ăn gia súc thu hoạch khi cây được khoảng 70 – 72 ngày sau khi gieo nên trong 6 giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây ngô đã nêu ở trên thì có 5 giai đoạn đầu ảnh hưởng đến năng suất sinh khối xanh của cây ngô. Vì vậy, để cây ngô thu sinh khối cho năng suất cao cần tác động các biện pháp kỹ thuật sớm ở những giai đoạn đầu của cây ngô. Việc lựa chọn các biện pháp kỹ thuật như giống, mật độ gieo, bón phân thích hợp và cân đối là những khâu quyết định để cây ngô thu hoạch xanh sinh trưởng và phát triển tốt, đạt năng suất cao. Giá trị dinh dưỡng của cây ngô Ngô có giá trị dinh dưỡng cao, trong thân, lá, nhất là hạt ngô có chứa tương đối đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho người và gia súc.
Trong ngành chăn nuôi, ngô chiếm 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngô. Ngoài việc cung cấp chất tinh, cây ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc, đặc biệt là bò sữa (Lê Qúy Kha,Lê Qúy Tường, 2019).Thành phần hóa học của cây ngô xanh (không bắp), thân lá và cây ngô ủ chua (Đơn vị tính:%) Thành phần Thân Lá Cây không Cây ủ chua Lá bi bắp bắp xanh Độ ẩm 3,6 8,9 77,3 - 63,5 Protein 1,3 3,2 1,3 1,65 1,8 Lipid 0,4 0,7 0,4 0,84 0,4 Xenlulo 9,1 8,6 6,0 5,39 11,9 Tro 1,1 3,2 1,4 1,80 1,5 Nguồn: Ngô Hữu Tình, 2009 Giá trị dinh dưỡng của cây ngô thu sinh khối phụ thuộc nhiều vào thời gian thu hoạch cây. Trồng ngô sinh khối làm thức ăn cho gia súc có thể thu hoạch nhiều đợt ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển khác nhau: Khi cây 9–10 lá, xoắn nõn, trổ cờ, ra bắp bao tử, chín sữa. Tuy nhiên, việc thu hoạch ngô sinh khối làm thức ăn tươi cho gia súc vào giai đoạn chín sữa là lý tưởng nhất (Vũ Duy Giảng và cs., 2008) bởi các lý do sau: Giai đoạn này, cây ngô cho khối lượng sinh khối cực đại; Cây ngô vẫn còn mềm, giòn, có vị đậm, mùi thơm đặc trưng của ngô; Cây ngô đã tích lũy đầy đủ dinh dưỡng trong 7 thân, lá và bắp ngô, hàm lượng protein thô và lipid đạt cao nhất.
Chỉ số đơn vị tạo sữa (UFL) trong cây lúc này đạt cao nhất.