Luận án tiến sĩ về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúa và vốn đầu vào của nông hộ ở ...

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Trường Đại Học Cần Thơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

173
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúa

Hạn chế tín dụng là một vấn đề nghiêm trọng đối với nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Việc thiếu vốn đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lúa, một trong những cây trồng chủ lực của vùng. Nghiên cứu cho thấy rằng nông hộ bị hạn chế tín dụng thường không thể đầu tư vào các yếu tố đầu vào cần thiết như phân bón, giống chất lượng cao và lao động thuê. Điều này dẫn đến năng suất lúa thấp hơn so với nông hộ không bị hạn chế tín dụng. Theo một nghiên cứu gần đây, nông hộ bị hạn chế tín dụng có năng suất lúa giảm từ 100 kg đến 110 kg trên mỗi 1.000m² so với nông hộ không bị hạn chế.

1.1. Tầm quan trọng của sản xuất lúa ở ĐBSCL

Sản xuất lúa đóng góp lớn vào nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là ở ĐBSCL. Vùng này cung cấp hơn 50% sản lượng lúa của cả nước và khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của lúa trong việc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế.

1.2. Tác động của hạn chế tín dụng đến nông hộ

Hạn chế tín dụng làm giảm khả năng tiếp cận vốn của nông hộ, dẫn đến việc không thể đầu tư vào các yếu tố đầu vào cần thiết. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn làm giảm thu nhập và chất lượng cuộc sống của nông hộ.

II. Vấn đề hạn chế tín dụng trong sản xuất nông nghiệp

Hạn chế tín dụng trong sản xuất nông nghiệp là một thách thức lớn đối với nông hộ ở ĐBSCL. Nhiều nông hộ không thể tiếp cận nguồn vốn do thiếu tài sản thế chấp và thông tin tín dụng không đầy đủ. Điều này dẫn đến việc họ không thể đầu tư vào các yếu tố đầu vào cần thiết cho sản xuất lúa, từ đó ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế tín dụng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế tín dụng, bao gồm thiếu tài sản thế chấp, thông tin tín dụng không đầy đủ và chi phí giao dịch cao. Những yếu tố này làm cho tổ chức tín dụng không muốn cho vay đối với nông hộ.

2.2. Hệ quả của hạn chế tín dụng đối với sản xuất lúa

Hạn chế tín dụng dẫn đến việc nông hộ không thể đầu tư vào phân bón, giống chất lượng và lao động thuê. Kết quả là năng suất lúa giảm, ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của nông hộ.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của hạn chế tín dụng

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điểm xu hướng (PSM) để ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa. Dữ liệu được thu thập từ 1.017 nông hộ trồng lúa trong năm 2015 và 1.065 nông hộ trong năm 2018 từ chín tỉnh/thành ở ĐBSCL.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát trực tiếp từ nông hộ trồng lúa. Các thông tin về diện tích đất, thu nhập, học vấn và khoảng cách đến tổ chức tín dụng được ghi nhận để phân tích.

3.2. Phương pháp phân tích số liệu

Sử dụng hồi quy Probit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng. Sau đó, phương pháp so sánh hạt nhân được áp dụng để so sánh nông hộ bị hạn chế tín dụng với nông hộ không bị hạn chế.

IV. Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng

Kết quả nghiên cứu cho thấy hạn chế tín dụng có tác động tiêu cực đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa. Nông hộ bị hạn chế tín dụng giảm lượng vốn phân bổ cho phân bón và lao động thuê, dẫn đến năng suất lúa thấp hơn.

4.1. Ảnh hưởng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào

Nông hộ bị hạn chế tín dụng thường giảm lượng vốn phân bổ cho phân bón và lao động thuê. Điều này dẫn đến việc không thể tối ưu hóa sản xuất và giảm năng suất lúa.

4.2. Ảnh hưởng đến năng suất lúa

Năng suất lúa của nông hộ bị hạn chế tín dụng giảm từ 100 kg đến 110 kg trên mỗi 1.000m² so với nông hộ không bị hạn chế. Điều này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa hạn chế tín dụng và năng suất sản xuất.

V. Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cho nông hộ

Để nâng cao hiệu quả tín dụng cho nông hộ, cần có các chính sách hỗ trợ từ chính phủ và tổ chức tín dụng. Việc cải thiện thông tin tín dụng và giảm chi phí giao dịch sẽ giúp nông hộ dễ dàng tiếp cận nguồn vốn hơn.

5.1. Cải thiện thông tin tín dụng

Cần xây dựng hệ thống thông tin tín dụng đầy đủ và chính xác để tổ chức tín dụng có thể đánh giá rủi ro một cách hiệu quả hơn. Điều này sẽ giúp nông hộ dễ dàng tiếp cận vốn.

5.2. Giảm chi phí giao dịch

Giảm chi phí giao dịch sẽ khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay nhiều hơn. Các chính sách hỗ trợ từ chính phủ có thể giúp giảm bớt gánh nặng này cho nông hộ.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai

Hạn chế tín dụng là một thách thức lớn đối với nông hộ ở ĐBSCL. Việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng sẽ giúp nâng cao năng suất lúa và thu nhập cho nông hộ. Cần có các chính sách đồng bộ để hỗ trợ nông hộ trong việc tiếp cận nguồn vốn.

6.1. Tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ

Chính sách hỗ trợ từ chính phủ và tổ chức tín dụng là rất cần thiết để giúp nông hộ vượt qua hạn chế tín dụng. Điều này sẽ góp phần nâng cao năng suất và thu nhập cho nông hộ.

6.2. Triển vọng phát triển sản xuất lúa

Với sự hỗ trợ từ chính sách và tổ chức tín dụng, nông hộ có thể cải thiện năng suất lúa và chất lượng sản phẩm. Điều này không chỉ giúp nâng cao đời sống của nông hộ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ ---o0o--- CAO VĂN HƠN ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÍN DỤNG ĐẾN LƯỢNG VỐN PHÂN BỔ CHO YẾU TỐ ĐẦU VÀO VÀ NĂNG SUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG MÃ NGÀNH: 62340201 Cần Thơ, 2022 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ ---o0o--- CAO VĂN HƠN ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÍN DỤNG ĐẾN LƯỢNG VỐN PHÂN BỔ CHO YẾU TỐ ĐẦU VÀO VÀ NĂNG SUẤT LÚA CỦA NÔNG HỘ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG MÃ NGÀNH: 62340201 HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. LÊ KHƯƠNG NINH Cần Thơ, 2022 TÓM TẮT Thị trường tín dụng nông thôn các nước đang phát triển thường kém hiệu quả bởi tính chia cắt của thị trường và thông tin tín dụng không hoàn hảo làm cho nông hộ khó tiếp cận nguồn vốn một cách tối ưu. Điều này làm cho sản xuất nông nghiệp của nông hộ gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nông hộ sản xuất lúa. Do đó, để kiểm chứng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL, luận án sử dụng hệ thống dữ liệu sơ cấp thu thập từ 1.017 nông hộ trồng lúa trong năm 2015 và 1.065 nông hộ trồng lúa trong năm 2018 để phục vụ cho nghiên cứu. Thông qua dữ liệu được thu thập từ chín tỉnh/thành ở Đồng bằng sông Cửu Long (đó là, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh và Vĩnh Long) luận án sử dụng phương pháp điểm xu hướng (PSM – Propensity score matching) để ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ. Theo phương pháp này, trước tiên luận án sử dụng hồi quy Probit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ. Sau đó, phương pháp so sánh hạt nhân được thực hiện để so sánh nông hộ bị hạn chế tín dụng với nông hộ không bị hạn chế tín dụng trên hai phương diện phân bổ lượng vốn cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa. Ngoài ra, luận án còn chia nông hộ bị hạn chế tín dụng thành nhiều nhóm với mức hạn chế tín dụng giảm dần để xem xét ảnh hưởng phi tuyến của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào và năng suất lúa của nông hộ. Kết quả ước lượng hồi quy Probit cho thấy, có năm yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ ở năm 2015. Cụ thể là diện tích đất của nông hộ, thu nhập bình quân của nông hộ, học vấn của chủ hộ, giới tính của chủ hộ và khoảng cách từ hộ đến tổ chức tín dụng gần nhất. Bốn yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ ở năm 2018 là diện tích đất của nông hộ, thu nhập bình quân của nông hộ, học vấn của chủ hộ và khoảng cách từ hộ đến tổ chức tín dụng gần nhất. Kết quả ước lượng cho hai thời điểm nêu trên là khá đồng nhất. Kết quả ước lượng ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào của nông hộ ở ĐBSCL ở năm 2015 và 2018 cho thấy, hạn chế tín dụng ảnh hưởng đến lượng vốn phân bổ cho phân bón và lao động thuê. Nông hộ bị hạn chế tín dụng giảm lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào phân bón và lao động thuê so với nông hộ không bị hạn chế tín dụng. Ngoài ra, khi xem xét mức độ ảnh hưởng khác nhau của hạn chế tín dụng, kết quả cho thấy các cặp so sánh đều có ý nghĩa thống kê. Điều này có nghĩa là khi giảm hạn chế tín dụng, nông hộ tăng lượng vốn phân bổ cho phân bón và lao động thuê trong khi lượng vốn phân bổ cho giống và thuốc bảo vệ thực vật thì không. iii Kết quả ước lượng ảnh hưởng hạn chế tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ ở ĐBSCL vào hai thời điểm 2015 và 2018 cho thấy, nông hộ bị hạn chế tín dụng có năng suất lúa giảm 100 kg/1.000m2 ở năm 2018 so với nông hộ không bị hạn chế tín dụng. Bên cạnh đó, khi xem xét mức độ ảnh hưởng khác nhau của hạn chế tín dụng, kết quả cho thấy các cặp so sánh đều có ý nghĩa thống kê, nghĩa là khi nông hộ giảm hạn chế tín dụng năng xuất lúa tăng và mức tăng năng suất cao nhất được tìm thấy ở cặp so sánh (nhóm 4) so với (nhóm 3) ở năm 2015 là 110 kg/1.000m 2 và cặp so sánh (nhóm 2) so với (nhóm 1) ở năm 2018 là 93 kg/1. Trên cơ sở kết quả ước lượng kết hợp với kết quả phân tích thực trạng sản xuất lúa của nông hộ ở Đồng bằng sông Cửu Long, luận án đã đề xuất các hàm ý chính sách giúp sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và cải thiện thu nhập cho nông hộ trồng lúa đồng bằng sông Cửu Long. Từ khóa: Đồng bằng sông Cửu Long, yếu tố đầu vào, hạn chế tín dụng, nông hộ, năng suất lúa, PSM, Việt Nam iv ABSTRACT Rural credit markets in developing countries are often inefficient because the market fragmentation and credit information asymmetry both prevent farmers from getting access to capital optimally. Due to limited access to capital, farmer’ agricultural production faces many difficulties, especially rice farmers. Therefore, to test the effects of credit rationing on the amount of capital allocated to inputs and rice yield of farmer in the Mekong river delta, this thesis uses primary data collected from 1,017 rice farmer in 2015 and 1,065 rice farmer in 2018. Based on primary data collected from nine provinces/cities in the Mekong river delta, namely An Giang, Bac Lieu, Ca Mau, Can Tho, Hau Giang, Kien Giang, Soc Trang, Tra Vinh, and Vinh Long, the thesis uses the Propensity score matching method (PSM) to estimate the effects of credit rationing on the amount of capital allocated to inputs and rice yield of farmer. According to this method, the first step is to use the Probit regression to determine the factors affecting credit rationing for the farmers. In the second step, the comparing method is used to examine the difference in the degree of credit rationing between credit-rationed farmers and non-credit rationed ones regarding capital allocated to inputs and rice yields. In addition, the dissertation divides credit-rationed farmers into several groups with decreasing credit rationing levels to examine the nonlinear effects of credit rationing on the amount of capital allocated to inputs and the rice yield. Probit regression estimation results show that there are five factors affecting credit rationing to farmers in 2015. Specifically, they are land area, average income, level of education of household head, gender of household head, and distance to the nearest credit institution. In 2018, there are four factors affecting credit rationing to farmers, namely land area, average income, level of education of households head, and distance to the nearest credit institution. The estimation results of these two periods are relatively consistent. Estimated results on the effects of credit rationing on the amount of capital allocated to inputs in rice production of farmers in the Mekong River Delta in 2015 and 2018 show that credit rationing impacted the amount of capital allocated to fertilizer and hired labor. The amount of capital allocated to fertilizer and hired labor of Credit- rationed farmers was decreased compared to that of non-credit-rationed farmers in 2015 and in 2018. In addition, when considering the effects of various degrees of credit rationing, all comparison pairs’ results are statistically significant for fertilizer and hired labor. This means that the amount of capital allocated to fertilizers and hired labor increased while that seeds and pesticides remained unchanged. Estimated results on the effects of credit rationing on rice yield of farmers in the Mekong River Delta in 2015 and 2018 show that credit rationing impacted rice yield: v rice yield of credit-rationed farmers decreases by 100kg/1,000m2 in 2015 and 84kg/1,000m2 in 2018 compared to noncredit-rationed farmers. In addition, when considering the effects of various degrees of credit rationing, all comparison pairs’ results are statistically significant. The highest levels of yields variation are found between group 4 and group 3 in 2015-110 kg/1,000m 2, and between group 2 and group 1 in 2018-93 kg/1,000m2. Based on the estimated results combined with the results of analyzing the reality of rice production of farmers in the Mekong river delta, the thesis proposes some solutions to help farmers effectivety utilize the input factors, improve the efficiency of agricultural production activities, and enhance the income of rice farmers in the Mekong river delta. Keywords: Credit rationing, Propensity score matching, Input, Mekong river delta, Rice yield, Rice farmer. vi MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN i LỜI CẢM ƠN ii TÓM TẮT iii ABSTRACT vi MỤC LỤC vii DANH MỤC BẢNG xi DANH MỤC HÌNH xiii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xiv Chương 1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1 1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4 1. Mục tiêu chung 4 1. Mục tiêu cụ thể 4 1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5 1. Nội dung của luận án 5 1. Phạm vi không gian 5 1. Phạm vi thời gian 5 1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 6 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6 1.1 Phương pháp thu thập thông tin 6 1.2 Phương pháp phân tích số liệu 6 1. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN 7 1. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 8 Chương 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9 2. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÍN DỤNG ĐẾN LƯỢNG VỐN PHÂN BỔ CHO YẾU TỐ ĐẦU VÀO 9 CỦA NÔNG HỘ 2. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA HẠN CHẾ TÍN 17 DỤNG ĐẾN NĂNG SUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NÔNG HỘ Chương 3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28 3. Các khái niệm liên quan 28 3. Bản chất của thị trường tín dụng nông thôn 30 vii 3. Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào của nông hộ 32 3. Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của hạn chế tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ 35 3. Khung nghiên cứu 40 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40 3. Phương pháp thu thập số liệu 40 3. Sai số đo lường 42 3. Phương pháp phân tích số liệu 43 3. Tổng quan về phương pháp ước lượng PSM 43 (Propensity matching score) 3. Mô hình thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu 46 tố đến hạn chế tín dụng đối với nông hộ 3. Phương pháp ước lượng ảnh hưởng của hạn chế 51 tín dụng đến lượng vốn phân bổ cho yếu tố đầu vào của nông hộ 3. Phương pháp ước lượng ảnh hưởng của hạn chế 55 tín dụng đến năng suất lúa của nông hộ 3. Giả thuyết nghiên cứu 56 Chương 4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ