Chương 1: Giới thiệu tông quan vê bài nghiên cứu Chương 2: Cơ sờ lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp, già thuyết và dừ liệu nghiên cứu Chương 4: Nội dung và các kết quá nghiên cứu Chương 5: Ket luận của bài nghiên cứu 5 CHƯƠNG 2. Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÓNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRUỚC ĐÂY 2. Hạn chế tài chính Các nhà nghiên cứu đà nghiên cứu ra nhiều phương pháp đế đo lường các hạn chê tài chính. Một công ty được cho là bị hạn chê vê tài chính nêu khoản đâu tư của nó bị hạn chế bời việc tạo ra các nguồn vốn nội bộ vì nó không thế có đù nguồn vốn bên ngoài.
Dưới sự không hoàn háo của thị trường, khi các chủ đàu tư bên ngoài không có đủ thông tin hoặc thiểu tin tưởng vào thông tin từ công ty họ sè yêu cầu một ti suất sinh lợi cao hơn hoặc từ chối tài trợ vốn điều này làm các công ly không có khá năng tiếp cận nguồn vốn với thị trường bên ngoài và phải dựa vào nguồn tiền nội bộ. Các công ty càng bị hạn chê tài chính càng phái năm giữ tiên mặt cao hơn so với các công ty ít bị hạn chế tài chính. Khi có những hạn chể về lài chính, các doanh nghiệp có dòng tiền dự kiến thấp hơn sẽ lựa chọn tối ưu duy trì mức dự trữ tiền mặt cao hơn đê chống lại tác động của dòng tiền trong tương lai. Một công ty có thế đầu tư tiền mặt vào các khoản đầu tư dài hạn hoặc giừ nó như một khoán dự trừ cho đến khi đến hạn nợ.
Những hạn chế vê tài chính tín dụng hạn chê khà năng tiêp cận nguôn vôn bên ngoài của công ty, khiến viộc vờ nợ trờ nên lốn kém. Kct quá là, sự phân bố cúa doanhh nghiộp giữa đầu tư và năm giừ tiên mặt là một sự đánh đôi. Một mặt, một công ty sẽ tài trợ nhiêu hơn đê duy tri tăng trường nếu nó có thê tạo ra dòng tiền nội bộ trong tương lai mà không bị vờ nợ. Mặt khác, nếu có khá năng xảy ra tình trạng thiếu tiền mặt và vờ nợ cao, một công ty sẽ giũ’ nhiều tiền mặt dự trừ hơn để tăng cơ hội sống sót Arnold (2014).
Những hạn chê vê tài chính rât quan trọng trong việc đánh giá cơ câu vôn và thực nghiộm về tài chính và kinh tế. Nhiều phương pháp đo lường hạn chế tài chính đà được đê xuât đê khám phá xem liệu hạn chê tài chính có ành hường đên việc phân bô dòng tiồn nội bộ hay không. Lý thuyết trật tự phân hạng của (Myers 1984) phát biêu rằng do tác động của thông tin bất cân xứng nên các doanh nghiệp có xu hướng dùng nguồn vốn tài trợ nộ bộ cho các dự án đầu tư hơn là nguồn vổn huy động từ bên ngoài. Trong nguồn tài 6 trợ nội bộ thì công ty ưu tiên dùng lợi nhuận giữ lại.
Khi dòng tiền trong công ty đù để tài trợ cho các dự án mới, doanh nghiệp mới trả nợ và tích lũy liền. Khi lượng liền giừ lại không đủ đế tài trợ cho các dự án đầu tư hiện tại, doanh nghiệp sè đi vay nọ đế đầu tư. Nếu không có nhu cầu đi đầu tư công ty sè tăng tỉ lệ chia cổ tức cho các cố đông. Đối với các công ty chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc các công ty có quy mô vừa vá nhỏ vấn đề thông tin bất cân xứng lại làm cho họ khó tiếp cận được thị trường vốn rẻ.
Acharya, Davydenko và Strebulaev (2012), điều tra thực nghiệm về mối tương quan tích cực giừa nắm giừ tiền mặt và chênh lệch rủi ro tín dụng và cho rằng các công ty nắm giừ liền mặt cao hơn nên được coi là an toàn hơn và do đó có sư chênh lệch tín dụng thấp hơn. Phân tích thưc nghiệm của tác giá cho thấy rằng vấn đề này có thế được giải thích băng đông cơ phòng ngửa đê tiêl kiệm liên mặt và giúp công ly có rủi ro tín dụng cao hơn phài tích luỳ nhiều tiền mặt hơn. Do đó, các công ty dự đoán việc hạ xếp hạng tín dụng cỏ xu hướng ưu tiên số dư tiền mặt cua họ và tìm kiếm “các dự án có NPV dương" đế nâng cao tính linh hoạt tài chính và đầu tư nhiều hơn trong các giai đoạn tương lai. Hầu hết các hạn chể tài chính hiện tại đều được suy ra từ tình hình tài chính cùa công ty, thay đôi kê hoạch đâu tư, trả cô tức, chính sách năm giừ tiên mặt hoặc các đặc điôm như công ty mới hoặc nhó, có đòn bấy thấp hoặc không có xếp hạng tín dụng.
Các tài liệu được chia thành các cách liếp cận lốt nhất đế nam bai các hạn chế lài chính và nhiều nghiên cửu có xu hướng báo cáo các thước đo về tính bền vừng. Kaplan và Zingales (2000) đánh giá liệu một cồng ty có bị hạn chế tài chính hay không bằng cách đánh giá 10-Ks (báo cáo thường niên) và xác định rằng chì 15% số năm hoạt động của công ty cho thấy bằng chứng về việc không có khả năng tài trợ cho các khoán đầu tư mong muốn cùa họ. Sự tự tin thái quá của nhà quản lý Khi dự trừ tiền mặt nhiều, nhà quản lý có thể sử dụng nó để đầu tư mà không cân phải huy động vôn từ bên ngoài và chịu sự quàn lý từ bên ngoài. Điêu đó dân đên nhà quàn lý có thê có những hành vi tư lợi cá nhân mà ánh hưởng tiêu cực đến giá trị 7 công ty và tài sán của cô đông.
Chỉnh vì điều đó, chú sờ hữu của công ty luôn muốn duy trì lượng tiền mặt lại cồng ty ờ mức vừa, không quá thấp đề chịu rủi ro nhưng cũng không quá cao. Ang Cole và Lin (2000) Tác giá cho rằng thước đo dựa trên quyền chọn về sự tự tin thái quá của CEO có thể có mối liên hệ lích cực với giá trị của tiền mặt, thông qua các cơ che khác, bên cạnh sự tự tin thái quá. Những đặc diem đỏ bao gồm khá năng cúa CEO và khả năng chấp nhận rủi ro. Các nhà quản lỷ có năng lực hơn có thê kỳ vọng vào kết quá hoạt động mạnh mè trong tương lai, do đỏ hạn chế thực hiện quyền chọn ngay cả khi họ đang có nhiều tiền và nhùng CEO chấp nhận rủi ro hơn cũng có thẻ miền cường thực hiện các lựa chọn của minh.
Đồng thời, họ dự kiến sẽ thực hiện các chính sách rui ro hơn cho công ty và tích lũy dự trừ tiền mặt cao hơn một cách tôi ưu (Acharya và cộng sự (2012). Tuy nhiên, việc kiêm soát khả năng quản lý và khá năng chấp nhận rủi ro không ảnh hường đến kết quả. Thứ hai, sự kết hợp nội sinh giừa đặc điếm của CEO và công ty có thê tạo ra kết quá giả khi các đặc diêm tiềm ấn của công ty tương quan với giá trị tiền mặt khiến các cồng ty bô nhiệm các CEO quá tự tin. Các nghiên cứu trước đây cho thấy sự bất hợp lý của các nhà quản lý như sự tự tin quá mức có tác động đên việc ra quyêt định tài chính và hiệu quà đâu tư của doanh nghiệp.
Ví dụ, Malmendier và cộng sự. (2011) cho thấy các nhà quán lý quá lự tin sử dụng lì vốn bên ngoài hơn và đáng chú ý là phát hành ít vốn cố phần hơn so với các đồng nghiệp của họ. Sự tự tin quá mức cùa người quản lý có xu hướng ít kiêm soát hơn từ các nhà cung cấp vốn bên ngoài và thực tế khiển họ phải dự trữ tiền mặt. Chính sách thanh toán thấp hơn cũng thề hiện sờ thích giừ tiền mặt cua họ.
Các nhà quản lý coi nguồn vốn bên ngoài là đắt đỏ và do đó giữ lại nhiều tiền mặt hơn cho nhu cầu đầu tư trong tương lai bằng cách trà cổ tức ít hơn (Deshmukh và cộng sự, 2013). (2009) nghiên cứu này cung cấp cái nhìn quan trọng về sự tự tin quá mức của nhà quán lý và tác động của nó đến quyết định đầu tư và phản ứng của thị trường, giúp làm rõ mối quan hệ giừa sự tự tin, dòng 8 tiền, và đầu tư. Nghiên cứu chứng minh rằng sự tự tin quá mức cùa nhà quản lý có thể làm gia tăng sự nhạy cám giữa dòng tiền và đầu tư, dần đến quyết định đàu tư không tối ưu và phán ứng thị trường mạnh mẽ hơn đổi với các thông báo tài chính. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc hiêu rõ ánh hương của sự tự tin quá mức đến hiệu suất tài chính của doanh nghiệp và quyết định đầu tư.
(2005) Nghiên cứu cho thấy rằng sự lự tin quá mức cua nhà quản lý có thê dẫn đến việc đầu tư quá mức, đặc biệt là khi công ty có dòng tiền dồi dào. Điều này làm tăng độ nhạy cảm giữa dòng tiền và đàu tư và dẫn đến quyết định đầu tư không tối ưu. (1998) đưa ra kết quả cho thấy sự tự tin quá mức cùa nhà quân lý dẫn đến quyết định đầu tư quá mức, điều này làm tăng độ nhạy cảm giữa dòng tiên và đâu tư. Sự tự tin quá mức có thê dân đên việc đầu tư vào các dự án có rủi ro cao hơn và không đem lại lợi ích tương xứng.
Mối quan hệ giữa hạn chế tài chính, sự tự tin quá mức, đầu tư và dòng tiền 2. Tác động của hạn chế tài chính đến độ nhạy cám dòng tiền và đầu tư Một trong nhừng người đầu tiên nghiên cứu đưa ra lý giài và bằng chứng thực nghiệm cho thấy dồng tiền nội bộ sẵn có ánh hường tới quyết định đầu tư là (Kaplan & Zingales, 1997; Whited & Wu, 2006) khi cho rang các công ty bị hạn chế tài chính phân bô phân lớn dòng tiên của họ hướng tới đâu tư so với với các công ty ít bị hạn chế hơn. Giả định phô biến nhất là các công ty bị hạn chế về tài chính nên dựa vào dòng liền nội bộ để đầu lư do khá năng tiếp cận thị trường vốn bị hạn chế. Nói cách khác, các doanh nghiệp bị khó khăn về tài chính cỏ xu hướng ưu tiên tài nguồn trợ nội bộ hơn tài trợ bên ngoài vì tính linh hoạt tài chính hạn chế cúa họ trong cá hiện tại và tương lai có thể cản trớ khả năng tiếp cận nguồn vốn bên ngoài của họ.
Do đó, họ có thể tích lũy nhiều tiền mặt hơn như một tấm đệm thanh khoán chổng lại nhừng khó khăn trong tương lai.