Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu về cây dừa 1.1 Nguồn gốc và phân bố cây dừa 1.1 Nguồn gốc Cây dừa (Cocos nucifera L.) là một loài thực vật thân gỗ, thuộc họ cau (Arecaceae) bao gồm khoảng 2.800 loài trong 190 chi, có nguồn gốc từ các vùng ven biển của Đông Nam A (Malaysia, Indonesia, Philippines) và Melanesia. Trong thời tiền sử các dạng hoang dã của loài này được cho là đã đưa về phía Đông theo dòng hải lưu đến các đảo nhiệt đới Thái Bình Dương (Melanesia, Polynesia, và Micronesia) và về phía Tây đến vùng Duyên hải Ấn Độ, Sri Lanka, Đông Châu Phi và các đảo nhiệt đới ở Ấn Độ Dương. Do tính chất nhẹ nỗi trên mặt nước và không thấm nước nên sau khi trôi dạt đến các lục địa và gap điều kiện thuận lợi những trái dừa vẫn có khả năng nảy mầm bình thường (Jerard và ctv, 2018).2 Phân bố Dừa được xem là một trong 10 cây trồng hữu ích trên thế giới (Duke, 1983). Là một trong những cây dùng dé lay dầu quan trọng nhất trong sản xuất công nghiệp.
Cây dừa được phân bố ở các vùng nhiệt đới trên toàn thế giới và được phát triển rộng trong khu vực gồm bán đảo Malayan, quần đảo New Guinea và quần đảo Bismarck từ đó lan rộng khắp các vùng nhiệt đới. Ngày nay cây dừa phân bố ở khu vực bao gồm Tây Phi, Đông Phi, Đông Nam Á, các đảo Thái Bình Dương và Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Nam Mỹ (Prades và ctv, 2016; Xiao va ctv, 2017). Dừa phan bố từ 20 vi độ Bắc đến 20 vĩ độ Nam (ICC, 2020). Được trồng trên 90 quốc gia từ các vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới (Laura và ctv, 2016).
Đến năm 2021 diện tích trồng dừa trên toàn thế giới là 12,3 triệu ha, hàng năm sản xuất 61,4 triệu tấn trái. Là loại cây trồng thích nghi với mọi loại đất, môi trường 3 sống tự nhiên thường là đất cát nghèo dinh dưỡng ven biên nhưng ngày nay nó được tim thấy trên các loại đất khác nhau (Ignacio, 2021).2 Đặc điểm phát triển của cây dừa Cây dừa cũng là một loại cây lớn, thân đơn trục có thể cao tới 30 m. Với các lá đơn xẻ thùy lông chim 1 lần, cuống và gân chính dai 4 — 6 m các thùy với gân cấp 2 có thé dài 60 — 90 em, lá kèm thường biến thành bẹ dang lưới 6m lay thân, các lá già khi rung dé lại vết sẹo trên thân dừa (Hiệp Hội Dừa tỉnh Bến Tre, 2013). Dừa là loại cây đa niên nên có thời gian kiến thiết cơ bản từ 1 - 3 năm.
Dừa thích nghỉ trên những nơi có khí hậu thích hợp từ 27°C đến 29°C, âm độ tương đối từ 60 - 90%. Dừa là cây thích ánh sáng, trung bình trên một năm nhận từ 2000 giờ trở lên, trong điều kiện thiếu ánh sáng cây ít cho quả. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1300 - 2300 mm phân bố đều trên năm thì dừa sinh trưởng tốt (Dương Tan Lợi, 2004). Cây dừa có sức sống mãnh liệt, phân bố rộng, phát triển tốt ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng ven biển, đừa cũng cho năng suất cao trên nhiều loại đất và cho năng suất thấp ở những đất nhiễm phèn và nhiễm mặn cao (Nguyễn Bảo Vệ va ctv, 2011).
Dừa chịu được đất kiềm đến pH 8 và đất chua có độ pH dưới 4,5; khoảng pH lý tưởng là 5 - 5,7. Sản xuất bắt đầu 4 - 5 năm đối với giống lai và 6 - 10 năm sau khi trồng đối với giống địa phương. Một cây dừa có thê cho năng suất 70 - 150 quả mỗi năm (Laura và ctv, 2016).3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ở Việt Nam và trên thế giới 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ở Việt Nam Năm 2020 sản lượng dừa ở Việt Nam đứng thứ 6 thế giới sau các nước Indonesia, An D6, Philippines, Barazil, Sri Lanka (FAO, 2022). Theo Hiệp hội Dừa Bến Tre tổng hợp, Niên giám thống kê của các tỉnh và Niên giám thống kê của Cộng đồng Dừa Quốc tế (ICC), tổng diện tích trồng dừa năm 2020 trên 170.000 ha, tập trung tại Đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh duyên hải miền Trung với sản lượng 1,72 triệu tấn quả trong đó có khoảng 3.000 ha trồng dừa đạt chứng nhận hữu cơ, tập trung tại tỉnh Bến Tre.
Ở ĐBSCL chiếm gần 80% diện tích dừa cả nước với diện tích trên 130.Trong đó diện tích trồng dừa của tỉnh Bến Tre là 77.232 ha chiếm 40%, Trà Vinh 23.698 ha 4 chiếm 14%, Tiền Giang 20.087 ha chiếm 12%, Vĩnh Long 10.240 ha chiếm 6%, Cà Mau 7.218 ha chiếm 4%, Sóc Trăng 7. Theo thống kê của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật tinh Bến Tre (2021) hiện có 77.232 ha trồng dừa, trong đó diện tích trồng mới là 1.193 ha, hiện đang cho quả 71.181 ha, sản lượng thu hoạch 672. Trong đó tỷ trọng xuất khẩu dừa từ Việt Nam sang Thái Lan chiếm đến 36% tổng sản lượng dita. Trung Quốc là nước nhập khẩu dừa Việt Nam cao nhất với 30,4%.
Tuy nhiên tăng mạnh ở các nước như Tây Ban Nha, Qatar, Úc, Hàn Quốc lần lượt là 93,4%, 57,8%, 29,7%, 28%. Trong tháng 6 năm 2020 Thái Lan nhập khẩu dừa từ Việt Nam dat 2.280 tan, trị giá 4,5 triệu USD, tăng 212% về sản lượng và tăng 332% về trị giá. Theo Sở Công Thương Bến Tre (2022) Bến Tre hiện có trên 77.000 ha trồng dừa với sản lượng đạt 600 triệu trái mỗi năm, giá trị sản xuất chế biến dừa đạt 3.500 tỷ đồng, chiếm gần 10% so với giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm đạt 1.800 tỷ đồng, tăng 4,05% so với cùng kỳ, chiếm 10,32% so với giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh.
Cụ thể cơm dừa nạo chiếm 11.023 tan, tăng 8,94% so với cùng kỳ năm trước, nước cốt dừa 32.767 triệu lít, tăng 1,72% nước dừa tươi 19. Sản phâm dừa Bến Tre đã có mặt trên thị trường của hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tỉnh Bến Tre xuất khẩu được khoảng 2,7 triệu trái dừa tươi, giảm hơn 2/3 so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó giá xuất khẩu cũng giảm 15 - 20%, bên cạnh đó tình hình giá dừa khô hiện đang giảm mạnh do sự cạnh tranh về giá giữa các nước xuất khẩu dừa trên thế giới và phụ thuộc nhiều vào nhiều yếu tố như: com dừa, vỏ dita, nước dừa trong 6 tháng đầu năm.
Trước tình hình đó Bến Tre tập trung vào phát triển dừa hữu cơ phát triển hơn 2.890 ha dừa hữu cơ. Đến nay tổng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ trên địa bàn tỉnh cũng đạt hơn 16.014 ha, chiếm 20,7% trên tổng diện tích dừa toàn tỉnh, trong đó diện tích chứng nhận là 9.521 ha tập trung trên địa bàn các huyện Giồng Trôm, Mo Cay Nam, Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri, Mỏ Cay Bắc.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ở thế giới Ngày nay dừa là mặt hàng cơ bản ở các khu vực nhiệt đới trên toàn thế giới. Ngành sản xuất dia đang kinh doanh và tăng giá trị của các sản phẩm làm từ dita mỗi năm, cây dừa là nguồn cung cấp các sản phẩm có thé sử dung được như nước dừa, dau dừa nguyên chất, cùi dừa và nước cốt dừa, bên cạnh đó cây dừa còn là một trong nguồn nguyên liệu cung cấp cho các ngành công nghiệp chế biến khác nhau. Do đó ngành dừa dự kiến có giá trị 11,5 tỷ đô la và dự kiến sẽ đạt 31,5 tỷ đô vào năm 2026 (Ignacio và Miguel, 2021).
Theo thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), cây dừa được trồng trên 93 quốc gia và lãnh thé vùng nhiệt đới, với tổng diện tích gần 12 triệu ha vào năm 2019 tập chung tại các nước Châu Á - Thái Bình Dương, tăng 1,27% so với năm 2018, sản lượng đạt 62,45 triệu tấn giảm 2,05%. Trong đó đứng đầu về điện tích trồng dừa là Philippines 3,63 triệu ha, Indonesia với 3,25 triệu ha, Ấn Độ với 2,10 triệu ha, Tanzania 0,80 triệu ha, Sri Lanka 0,46 triệu ha (FAO, 2020). Tổng sản lượng dừa thé giới đứng dau là Indonesia 16,84 triệu tan, An Độ là nước có sản lượng dừa đứng thứ hai với 14,69 triệu tan là ngành sản xuất dừa rất quan trọng đối với nông nghiệp ở An Độ, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, đứng vi trí thứ ba là Philippines 14,49 triệu tan (FAO, 2020). Theo Sở Công Thương Bến Tre (2020) giá dầu dừa thô tăng ở Philippines và Indonesia nhưng giảm thấp ở Sri LanKa.
Giá cơm dừa tăng cao ở Philippines và Sri Lanka nhưng thấp ở Indonesia. Trong đó giá com dừa ở Indonesia đạt 569 USD/tan trong tháng 8/2020, cao hơn so với giá tháng trước 553 USD/tan, dầu dừa tại châu Âu trong tháng 8/2020 tăng khoảng 93 USD/tan lên 981 USD/tan từ 888 USD/tan trong tháng 7/2020 cao hơn khoảng 38 USD/tan, cơm dừa giá bình quân trong tháng 8/2020 đạt 2.195 USD/tan cao hơn 5 USD/tan so với giá tháng 7 và cao hơn 538 USD/tan so với giá cùng kỳ năm trước. Ở Sri Lanka giá cơm dừa ở tháng 8/2020 là 2.548 USD/tan và cao hơn 82 USD/tan so với giá thang 7/2020. Năm 2021 Indonesia đã xuất khẩu 611.448 tấn dầu dừa ra thị trường toàn cầu, các thị trường chính là Hoa Kỳ, Malaysia, Trung Quốc và Hà Lan sản lượng xuất khâu 6 chiếm 70%.
Trong đó Hoa Kỳ nhập 771.495 tan dau dừa, các nước Châu Âu nhập khẩu dầu dừa suy yếu đến 1,2% trong giai đoạn tháng 8 năm 2021 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 (Hiệp hội Dừa Bến Tre, 2021).4 Một số giống dừa phố biến ở Việt Nam. Phân loại giống dừa dựa vào các tính trạng của hoa, quả và cây. Nhưng sự phân loại theo đặc điểm tinh trang di truyền bang cách thụ phan hoa được sử dụng phố biến nhất. Theo cách phân loại nay thì dừa được chia làm 2 giống: dừa cao và dừa lùn (Bourdeix và ctv, 1990).
Ngoài các nhóm dừa cao và lùn, một số nhóm dừa trung gian, còn được gọi là nửa cao hoặc nửa lùn cũng được tìm thấy. Các giống dừa lai thường mang nhiều đặc điểm tốt hơn giống cao và lùn là cho quả sớm, năng suất cao chất lượng cơm đừa cao, hàm lượng dầu cao và tính chống chịu tốt đối với điều kiện môi trường khắc nghiệt (Sujatha và Chalam, 2009).1 Giống dừa lùn Giống dừa lùn có đặc điểm là tự thụ phan với chiều cao tối da từ 10 - 15 m, lá nhiều nhưng tàu lá ngắn. Cây ra quả rất sớm khoảng 2 - 3 năm, ra nhiều buồng hoa nên cho nhiều quả.