Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của Luận văn. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây. Trong chương này, tác giả trưng ra các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới liên quan đến chính sách tín dụng thương mại của các công ty.
Chương 3: Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, cơ sở dữ liệu và giả thuyết nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Trong chương này, tác giả trình bày kết quả hồi quy, kiểm định giả thuyết nghiên cứu và thảo luận ảnh hưởng chính sách tín dụng thương mại đến giá trị các công ty niêm yết Việt Nam.
Chương 5: Kết luận. Trong chương này, tác giả rút ra kết luận, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY Lý thuyết về tín dụng thương mại được khởi xướng nghiên cứu từ rất sớm bởi Goff (1957). Trong nghiên cứu của mình, Goff cho rằng hình thức tín dụng thương mại đã được sử dụng từ thời Trung Cổ, được hình thành khi những nhà cung cấp hàng hóa, sản phẩm không yêu cầu bên mua thanh toán tiền ngay lập tức khi nhận được hàng hoá.
Kể từ đó đến nay, các chủ đề liên quan đến tín dụng thương mại đã được quan tâm và phát triển bởi rất nhiều nhà nghiên cứu như Schwart (1974); Schwart và Whitcomb (1978); Ferris (1981); Smith (1987); Biais và Gollier (1987); Peterson và Rajan (1997). Các công ty cấp tín dụng thương mại để có thể tăng doanh số bán hàng, dẫn đến khả năng sinh lời cao hơn, cũng như đảm bảo dòng thu nhập trong tương lai. Từ đó, dòng tiền gia tăng phát sinh từ các quyết định gia hạn tín dụng được xem là tài sản có giá trị của các công ty. Do tiền tệ luôn có giá trị theo thời gian nên người được cấp tín dụng sẽ hưởng lợi vì không phải thanh toán ngay lập tức, từ đó cho phép họ đầu tư được nhiều hơn cho các yếu tố sản xuất đầu vào của các công ty.
Trong khi đó, người bán hàng lại có thể tiêu thụ được nhiều hàng hóa hơn, điều này khuyến khích người bán gia tăng cấp tín dụng cho khách hàng. Mặt khác, một số công ty có khả năng tiếp cận với thị trường vốn với chi phí sử dụng vốn rẻ hơn khách hàng của họ, nên cũng khuyến khích các công ty cấp tín dụng thương mại nhiều hơn cho khách hàng để hưởng lợi (Schwartz, 1974; Kim và Atkins, 1978). Thực tế cho thấy điều kiện thị trường cạnh tranh không hoàn hảo chính là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại của chính sách tín dụng thương mại của các công ty. Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các công ty không thể bán sản phẩm với giá cao hơn, hoặc cũng không thể bán với giá thấp hơn, chính sách tín dụng thương mại không có cơ hội để đem đến các tác động ảnh hưởng đến doanh số bán hàng của các công ty thông qua các điều khoản tín dụng, do đó không có chính sách tín dụng tối ưu.
Nhưng trong một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, do thông tin không có sẵn nên sẽ làm phát sinh các chi phí liên quan đến việc thẩm định tín dụng và những 7 khoản chi phí dự phòng do xuất hiện các khoản nợ xấu, các khoản nợ khó đòi, để từ đó chính sách tín dụng thương mại có thể tác động đến giá trị của các công ty. Nói cách khác, sự tồn tại của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo có thể ảnh hưởng đến các quyết định tín dụng thương mại của các công ty và tạo cơ hội để chính sách tín dụng thương mại ảnh hưởng đến giá trị công ty, điều này hàm ý rằng có tồn tại một chính sách tín dụng thương mại tối ưu mà tại đó giá trị công ty là cao nhất (Lewellen, McConnell và Scott, 1980). Đồng quan điểm với Lewellen, McConnell và Scott; Emery (1984) tập trung vào một số khiếm khuyết của thị trường vì thị trường có xuất hiện các loại chi phí do tình trạng bất cân xứng thông tin và thuế đánh vào thu nhập của các công ty, Emery (1984) cho rằng tồn tại một mức khoản phải thu tối ưu khi doanh thu cận biên của việc cấp tín dụng thương mại bằng với chi phí biên; bởi vì, người cấp tín dụng thương mại có thể tăng mức giá để nhận được tỷ suất sinh lợi cao hơn sao cho cân bằng lợi ích với việc kéo dài thời gian trả nợ cho người được cấp tín dụng thương mại, lẽ dĩ nhiên là nhà cung cấp tín dụng thương mại đã bị mất cơ hội phí thay vì sử dụng khoản tiền này để đầu tư. Đến năm 1992, Mian và Smith đã trưng ra bằng chứng cho thấy, tín dụng thương mại là một hình thức thỏa thuận giữa người mua và người bán, trong đó người bán cho phép người mua, mua sản phẩm nhưng được thanh toán chậm thay cho việc người mua phải thanh toán ngay cho người bán bằng tiền mặt.
Theo đó, tín dụng thương mại chính là khoản phải thu của bên bán, tương ứng với khoản phải trả người bán của bên mua. Bên cạnh đó, các nhà quản trị tín dụng công ty cũng luôn cố gắng giữ cho các khoản phải thu ở mức mục tiêu để tránh làm xói mòn giá trị công ty bởi doanh thu từ bán hàng dưới hình thức nợ phải thu có khả năng không được thanh toán hoặc chuyển thành các khoản nợ khó đòi. Điều này được nhắc đến trong bài nghiên cứu của Pike và Cheng (2001) dựa trên một nghiên cứu về chính sách quản trị tín dụng thương mại của 154 công ty lớn ở Anh, các tác giả nhận thấy các công ty lớn thường đầu tư rất nhiều vào khoản phải thu, vì vậy việc lựa chọn và sử dụng chính sách quản trị tín 8 dụng thương mại có thể giúp công ty phát hiện và bảo vệ các danh mục đầu tư vào khoản phải thu có chất lượng tốt. Deloof (2003) trong nghiên cứu của mình đã tìm thấy mối tương quan âm và có ý nghĩa về mặt thống kê giữa kỳ thu tiền bình quân với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Nghiên cứu chỉ ra rằng các nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp bằng cách giảm kỳ thu tiền bình quân đến mức tối thiểu có thể. Bởi vì, mặc dù việc gia tăng các khoản tín dụng thương mại có thể giúp các công ty gia tăng doanh số bán hàng để từ đó gia tăng khả năng sinh lợi cho các công ty. Tuy nhiên, khi gia tăng các khoản tín dụng thương mại đồng nghĩa với việc doanh nghiệp buộc phải gia tăng nguồn tài trợ bổ sung, làm gia tăng chi phí sử dụng vốn. Điều này có thể làm giảm khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
Bổ sung thêm vào kết quả nghiên cứu của Deloof (2003) là nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006). Kết quả thực nghiệm của Lazaridis và Tryfonidis (2006) cho thấy, kỳ thu tiền bình quân có mối tương quan âm đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Từ đây cho thấy, những công ty nào bị khách hàng chiếm dụng vốn càng lâu thì khả năng sinh lợi của các công ty đó càng thấp. Điều này cho thấy các nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp bằng cách quản lý hiệu quả khoản phải thu của khách hàng.
Cũng trong năm 2006, một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Padachi trên mẫu gồm 58 doanh nghiệp Sản xuất nhỏ ở Mauritius, sử dụng phân tích dữ liệu bảng cho giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2003. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, kỳ phải thu càng dài thì khả năng sinh lợi của các công ty càng giảm. Cũng tìm thấy mối tương quan âm giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lợi của các công ty, Raheman và Nasr (2007) đã cho thấy các nhà quản trị công ty có thể gia tăng khả năng sinh lợi cho công ty bằng cách giảm kỳ thu tiền bình quân đến mức tối thiểu hợp lý. Cùng trong năm 2007, nghiên cứu của Garcia và cộng sự sử dụng 8.872 doanh nghiệp Tây Ban Nha trong giai đoạn 1996 – 2002 cũng được tiến hành.
Các tác giả đã có kết luận tương tự với Raheman và Nasr (2007), các công ty 9 càng tốn ít thời gian để thu hồi các khoản phải thu nhanh chóng thì khả năng sinh lợi của các công ty sẽ gia tăng. Năm 2009, Falope và Ajilore đã sử dụng một mẫu gồm 50 doanh nghiệp phi tài chính ở Nigeria trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2005 và tìm thấy mối tương quan âm giữa tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp và kỳ thu tiền bình quân ở các doanh nghiệp này. Điều này ngụ ý rằng việc quản trị khoản phải thu hiệu quả bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền sẽ làm cho khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp tăng lên. Nối dài thêm nghiên cứu về chủ đề mối quan hệ giữa quản trị khoản phải thu và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là nghiên cứu của Gill, Biger và Mathur được thực hiện năm 2010.
Gill và các cộng sự cũng đã cho thấy, kỳ thu tiền bình quân có mối tương quan âm với khả năng sinh lợi của các công ty. Theo đó, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp bằng cách giảm kỳ thu tiền bình quân thông qua việc thắt chặt chính sách tín dụng. Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị tài sản cho cổ đông bằng cách đưa ra các chiến lược quản trị khoản phải thu tối ưu. Năm 2010, Huỳnh Đông Phương và Su cũng tìm thấy mối tương quan âm giữa khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và kỳ thu tiền bình quân của các công ty.
Từ đây các nhà quản trị công ty có thể gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp bằng cách giảm kỳ thu tiền bình quân. Cũng trong năm 2010, Mathuva đã kết luận rằng, một công ty có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách thực hiện chính sách thắt chặt tín dụng và nếu nới lỏng chính sách bán chịu thì phải quản trị tốt khoản phải thu, nghĩa là những công ty nào thu hồi tiền từ khách hàng càng nhanh thì khả năng sinh lợi của công ty sẽ càng cao.